ORIGINS OF CONSERVATISM – NGUỒN GỐC CỦA CHỦ NGHĨA TỰ DO

[ORIGINS OF CONSERVATISM – NGUỒN GỐC CỦA CHỦ NGHĨA TỰ DO] Khi nói về nguồn của Conservatism (Chủ Nghĩa Bảo Tồn hoặc Tự Do Cổ Điển [Classical Liberalism]) thì đa số chỉ nói về những nhà triết học kinh tế tự do của thế kỷ 19. Nhưng nó chỉ giải thích về phần triết lý thị trường và thiếu đi những mảng khác.

Ngoài Chủ Nghĩa Tư Bản ra thì không thể nào bỏ qua ba cột trụ còn lại. Đó là cơ chế chính quyền Rome (La Mã), triết học Hy Lạp và đạo đức Do Thái-Thiên Chúa. Cả bốn cộng lại hình thành nền tảng tự do cổ điển.

CƠ CHẾ CHÍNH QUYỀN ROME (ROMAN REPUBLIC GOVERNMENT) – Rome không chỉ đơn thuần là một đế chế, nó còn là một nền tảng chính quyền cho các nền văn minh về sau. Bắt đầu là một ngôi làng nhỏ, Rome lớn lên thành một thành phố, rồi có một vị vua như bao nơi khác. Nhưng vào năm 509-510 BC (Trước Công Nguyên), người dân và tầng lớp quý tộc đã nổi dậy và lật đổ ‘Lucius Tarquinius Superbus’ để thành lập nền Cộng Hoà Rome.

Câu chuyện thần kỳ của nền văn minh này bắt đầu từ đó. Khác với Athens, vốn cũng được coi là nền dân chủ, cơ chế Rome phân chia quyền lực thành nhiều mảnh. Theo luật thì không ai nắm toàn quyền cả.

  1. Comitia (Uỷ Ban Nhân Dân).
  2. Tribunes (Như Uỷ Ban Đại Diện).
  3. Senate (Thượng Viện hoặc Quốc Hội).
  4. Consul (Người Hành Pháp, như tổng thống).

Chưa hết. Toà án có thể cho là độc lập và quân đội theo luật nằm dưới quyền Thượng Viện. Bất cứ Consul muốn cầm quân phải có sự đồng ý của họ và thời hạn cầm quyền giới hạn một năm. Chức cao nhất là Dictator trong trường hợp khẩn cấp với thời hạn 6 tháng.

Sự phân chia quyền lực này vô cùng độc đáo và chưa từng có vào thời đó. Nó không hề hoàn hảo. Trong lịch sử nền Cộng Hoà Rome thì có vô số tướng nổi loạn, cầm quân lật chính quyền như Sulla và người nổi tiếng nhất là Julius Caesar.

Đây chính là nền tảng cho cơ chế chính phủ ở các nước Tây Phương sau này. Những thuật ngữ như Senate (Thượng Viện), Citizen (Công Dân), Citizenship (Quốc Tịch) hoặc Veto (Quyền Phủ Quyết) – tất cả đều là di sản của Rome. Toà Nhà Quốc Hội Mỹ hiện tại là biểu tượng nổi tiếng nhất của nền tảng đó. Chẳng có một giáo hội hay tôn giáo nào thiết lập ra cơ chế này, chỉ có thể là Rome.

TRIẾT HỌC HY LẠP (GREEK PHILOSOPHY) – Thành lập một cơ chế chính quyền là một chuyện, nhưng nếu người dân không có triết lý thì sẽ như xác vô hồn. Di sản Hy Lạp để lại tư duy logic, học thuật, phân tích và lý luận.

Từ đó con người tập làm quen với việc suy nghĩ và đưa ra kết luận dựa trên chứng cứ thay vì cảm tính. Cho tới bây giờ chúng ta vẫn dùng những bài học của Socrates, Plato và Aristotle. Phe Cánh Hữu coi trọng chứng cứ và logic hơn cảm xúc chính vì điều này.

ĐẠO ĐỨC DO THÁI-THIÊN CHÚA (JUDEO-CHRISTIAN MORALITY) – Khi con người có cơ chế chính quyền, triết học thì sẽ thiếu nếu không có đạo đức. Những giá trị của Do Thái-Thiên Chúa cho con người nền tảng tạo hoá để biết thế nào là đúng sai. Giết người có phải là tội không hay ăn cắp có đáng bị trừng phạt không?

Khi Rome sụp đổ thì Giáo Hội Công Giáo đóng vai trò bảo tôn kho tàng kiến thức Phương Tây. Sau này thì Martin Luther thúc đẩy sự cải cách Tin Lành, phản bác rằng con người tin vào ‘Tạo Hoá’ phải thông qua lời dạy của Giáo Hội. Thay vào đó, con người nếu muốn làm theo lời Chúa thì đọc Kinh Thánh rồi giải nghĩa, đừng tin vào tổ chức hay cá nhân nào khác. Khái niệm tự do đó đã dẫn đến cột trụ sau, tinh thần tự do Anglo-Saxon.

TINH THẦN TỰ DO ANGLO-SAXON (ANGLO-SAXON FREEDOM) – Thế giới hiện tại được thống trị bởi các nước nói tiếng Anh. Từ chính trị, khoa học cho tới kinh tế. Người Anh không phải là dân tộc đầu tiên hay duy nhất thiết lập ra nền tảng tự do, nhưng là người áp dụng nó thành công nhất.

Khác với Châu Âu, những con người ở quốc đảo này không tin vào chính quyền. Họ thích được tự do và độc lập để khám phá. Bắt đầu với Magna Carta (Đại Hiến Chương), vốn tách và giới hạn quyền lực của nhà Vua, người Anglo-Saxon đã khẳng định rằng họ khác biệt bới những dân tộc khác.

Không dừng lại ở đó, họ đã có cuộc Nội Chiến Anh Quốc vì tranh cãi về quyền lực giữa Vua Chúa và tầng lớp quý tộc. Trong mắt họ, Nhà Vua chỉ là biểu tượng chứ không phải là kẻ cai trị. Cũng từ những giá trị đó quốc đảo này cho ra đời những nhà triết học như John Locke, Adam Smith và John Stuart Mills. Dù sinh ra khác năm nhưng đều có một tinh thần tự do như nhau.

Người Anglo-Saxon đi đến đâu thì họ đem tinh thần tự do đến đó. Cuộc cách mạng giành độc lập của Mỹ cũng sử dụng những bài văn của John Locke làm cảm hứng. Người Mỹ đã áp dụng thành công cơ chế thị trường của Adam Smith và chủ nghĩa tự do hơn ai hết. Những khái niệm như quyền tự nhiên, khế ước xã hội, kinh tế thị trường đã thúc đẩy nhân loại sang trang sử mới. Từ Hong Kong đến Singapore, Canada cho đến Úc, tự do luôn ngự trị.

KẾT LUẬN – Chủ Nghĩa Tự Do Cổ Điển là yếu tố quyết định sự thịnh vượng hoặc thất bại của các quốc gia. Nhưng quá trình sản sinh ra nó không hề ngắn mà kéo dài, mà xuyên hai thiên niên kỷ. Tự do không chỉ là điều mong muốn của riêng dân tộc nào mà là sự khát khao của cả nhân loại. Nhưng chỉ khi họ có những yếu tố cần thiết thì mới thành lập được nền tảng để bảo vệ tự do.

Cơ chế chính quyền cộng hoà của Rome, triết học Hy Lạp, đạo đức Do Thái-Thiên Chúa và tinh thần tự do của Anglo-Saxon – tất cả cộng lại thành nền tảng cho cái gọi là Conservatism. Nhắc đến một mà phớt lờ ba cái còn lại là thiếu hiểu biết. Tập trung quảng bá mảng tôn giáo mà quên đi cơ chế và triết học là đỉnh cao của ngu ngốc.

Ku Búa @ Cafe Ku Búa

freedom