Sự thật về giảm phát – Nó là một điều tự nhiên và tốt

Sự thật về giảm phát – Nó là một điều tự nhiên và tốt

Truyền thông chính thống, thậm chí bao gồm cả những tờ báo kinh tế, chất đầy những lời cảnh báo bất hợp lý và cuồng loạn về giảm phát. Cũng như lạm phát, giảm phát đã bị thay đổi định nghĩa trong thế kỷ 20. Đã từng được định nghĩa là một sự giảm sút trong nguồn cung tiền, giờ đây nó đề cập theo cách nói thông thường về một sự sụt giảm về giá cả tiêu dùng. Cho dù nó đề cập đến sự sút giảm thực sự về nguồn cung tiền hay chỉ là giảm về giá cả tiêu dùng, giảm phát được xem là mối đe dọa lớn trong thời đại chúng ta. Không ngạc nhiên, khi, một trong những biện minh chống lại hóa tệ là nó có thể dẫn tới, hoặc không thể chống lại, giảm phát.

Những nhà phê bình nhắm vào lời cáo buộc này thường không ngụ ý rằng nguồn cung vàng thực sự suy giảm theo thời gian, khi sự thật là nguồn cung vàng tăng từ từ. Lập luật là sự phát triển về nguồn cung vàng không theo kịp sự phát triển nguồn cung mọi loại hàng hóa khác, và kết quả là giá cả sụt giảm. Giá cả giảm được cho là gây ra những giai đoạn kinh tế khó khăn.

Nhưng dĩ nhiên giá cả giảm không gây ra những giai đoạn kinh tế khó khăn. Chúng là kết quả tự nhiên của một tiến trình kinh tế thị trường. Dưới hệ thống tiền tệ chuẩn hàng hóa, có một xu hướng cơ bản để giá cả tiêu dùng giảm theo thời gian. Nguồn cung tiền giữ nguyên ở mức nhất định hoặc tăng ở mức khiêm tốn, nhưng sự gia tăng đầu tư tư bản và kết quả tăng về hiệu suất của một nền kinh tế thị trường thường tạo ra mức tăng trưởng mỗi năm về sản lượng hàng hóa và dịch vụ. Kết luận đơn giản, khi chúng ta có nhiều hàng hóa hơn và số lượng tiền gần như giữ nguyên, giá cả hàng hóa sẽ giảm. Chẳng có gì sai trái hay có vấn đề kinh tế nào liên quan đến tiến trình lành mạnh này cả, thứ mà nhà kinh tế Joseph Salerno đã gọi là “giảm phát tăng trưởng.” Nó là nét đặc trưng của nền kinh tế Mỹ từ năm 1789 xuyên suốt năm 1913, một giai đoạn mà nền kinh tế Mỹ đạt một độ cao phi thường về sự thịnh vượng. Trung Quốc cũng trải qua một giai đoạn giảm phát tăng trưởng những năm gần đây từ 1998 tới năm 2001, giá bán lẻ nói chung giảm trong mỗi năm đó khoảng từ 0.8 tới 3.0%, đồng thời GDP thực gia tăng ở mức trung bình hàng năm 7.6%.

Chúng ta đã quen phát triển, sống dưới một chế độ tiền pháp định, để xem giá cả tăng hay giảm chầm chậm từ năm này qua năm khác. Hầu hết chúng ta giả định rằng nó chỉ xảy ra thôi – giá cả sẽ tăng theo thời gian. Nhưng thậm chí trong môi trường lạm phát được tạo ra bởi tín tệ của chúng ta, chúng ta có thể chỉ ra những lĩnh vực giảm phát tăng trưởng: các sản phẩm công nghệ cao. Giá cả máy vi tính đã giảm mạnh, và dĩ nhiên các công ty máy tính vẫn tiếp tục thịnh vượng. Năm 1999, sau tất cả những đợt “giảm phát” này, các công ty máy tính đã xuất đi khoảng 43 triệu đơn vị, khi so sánh với chỉ khoảng 490,000 năm 1980, bất chấp sự giảm sút 90% về giá cả theo chất lượng trong sản phẩm của họ. Người tiêu dùng rõ ràng là được lợi.

Một sự giảm phát tăng trưởng trên khắp nền kinh tế sẽ làm lợi nhiều hơn cho mọi người tiêu dùng. Thực tế, đây là cách mà tiêu chuẩn sống được nâng cao: đầu tư tư bản nhiều hơn làm cho nền kinh tế có hiệu suất hơn, và sự gia tăng nguồn cung hàng hóa dẫn đến giá cả giảm. Giá cả giảm: đây là một nỗi kinh hoàng không thể nói ra mà Fed hứa sẽ cứu chúng ta khỏi đó, bất chấp nó phải in ra bao nhiêu tiền từ không khí để làm vậy. Peter Schiff phàn nàn chính đáng rằng “dưới sự dẫn dắt của ‘giá cả ổn định,’ được định nghĩa chung là giá cả hàng năm tăng khoảng 2-3%, chính phủ đã cướp bóc của người dân mọi ích lợi từ giá cả giảm và dùng tiền cướp đoạt để mua trái phiếu, qua đó đổi lấy sự gia tăng tiêu chuẩn sống cho các cử tri của mình để được tái đắc cử.”

Nói về sự giảm phát giá cả; điều gì xảy ra nếu chính nguồn cung tiền giảm sút? Khi các ngân hàng thất bại, ví dụ, mọi số tiền mà họ in ra từ không khí biến mất cùng họ. Với hệ thống hóa tệ, đúng là chính phủ không có những công cụ để cố gắng đẩy giá lên lại (khi nó không thể tránh khỏi và thật ngu ngốc khi cố làm như thế) trong đợt dư chấn của sự giảm sút nguồn cung tiền. Đó là điều tốt. Khi thị trường cố gắng tái thiết giá cả hợp lý của những hàng hóa theo cung và cầu trong một dự chấn của đợt lạm phát trước về nguồn cung tiền, sự thao túng nhiều hơn của chính phủ về nguồn cung tiền chỉ có thể tạo ra sự nhiễu loạn và ngăn trở tiến trình lành mạnh này.

Nói thêm về điểm này, với chế độ hàng hóa tệ, chúng ta sẽ không bao giờ có giá cả lạm phát ngay từ đầu, khi nguồn cung tiền không tăng đều đặn: hệ thống ngân hàng sẽ nhận ra họ rất khó in tiền từ không khí mà không kích thích yêu cầu trao đổi hàng loạt từ tiền giấy sang hàng hóa.

Những thành quả kinh tế nghèo nàn không đến từ việc giảm giá. Giá cả giảm đôi khi xảy ra như kết quả của việc một trái bong bóng lạm phát phát nổ. Khi giá giảm trong dư chấn của một cơn lạm phát trước đó, tư bản và sức lao động được tái phân bổ vào những tiến trình sản xuất bền vững, và không có phúc lợi người tiêu dùng nào có thể được mang lại bằng việc trở ngại tiến trình thanh lọc này.

Đó là vai trò của các thương gia để dự đoán mọi biến số ảnh hưởng đến thị trường cho sản phẩm của anh ta – không chỉ chi phí đầu vào và giá cả tiêu dùng, mà cả nguồn cung tiền, sự lành mạnh tương đối của hệ thống ngân hàng và thị trường chứng khoán, và những thứ như thế. Nếu anh ta trông đợi giá sẽ giảm hoặc thậm chí nguồn cung tiền sẽ giảm (bởi vì các ngân hàng lạm phát có thể đang đứng trên bờ vực đóng cửa), anh ta đáp lại bằng việc giảm mức giá mà anh ta sẵn lòng trả cho lao động, linh kiện, hàng hóa bán sỉ – thứ mà các nhà kinh tế gọi là “các yếu tố sản xuất.” Ai đó có thể chống chế: điều gì xảy ra nếu những công ty sản xuất ra các yếu tố sản xuất này không chấp nhận sự trả giá thấp hơn cho hàng hóa của họ? Nếu họ làm thế, nhất thiết là họ đang có những mối hời hơn và có khả năng bán giá cao hơn ở đâu đó khác. Khả năng sinh lời vì thế sẽ tồn tại ở đâu đó khác trong nền kinh tế. Nếu những thương gia của chúng ta không thể mua được những yếu tố sản xuất anh ta cần để đạt được mức giá mà doanh nghiệp của anh ta sẽ có lời, anh ta chính xác là đang ở trong tình huống tương tự với bất kỳ thương gia nào khác để nhận ra rằng người ta không sẵn lòng trả đủ cho thứ họ đang bán.

Dĩ nhiên, cách tốt nhất để tránh giảm phát tín dụng ngân hàng và các vấn đề tính toán nó có thể gây ra là đừng lạm phát nguồn cung tiền nhân tạo ngay từ đầu – thêm một ích lợi nữa của hệ thống hóa tệ và nguồn cung của nó mà chính phủ không thể thao túng.

Năm 2014 các giấy tờ và kỷ yếu của tờ American Economic Review bao gồm cả một nghiên cứu kinh nghiệm về giai đoạn giảm phát tại 17 quốc gia trong vòng 100 năm qua. Khi tác giả loại bỏ cuộc Đại Suy Thoái, họ nhận ra rằng, trong 90% giai đoạn giảm phát mà họ nghiên cứu, không có cuộc suy thoái nào xảy ra. “Trong một bối cảnh lịch sử rộng hơn, bên ngoài cuộc Đại suy thoái, có khái niệm rằng giảm phát và suy thoái có liên kết với nhau hầu như biến mất,” họ kết luận. Chính bản thân sự suy giảm giá cả không gây ra suy thoái kinh tế – chúng xảy ra quá thường xuyên trong những giai đoạn thịnh vượng để điều đó có thể là thật – và thường là hậu quả của một điều kiện kinh tế suy thoái hơn là nguyên nhân gây ra nó.

Bài viết trên là một phần của cuốn sách Cẩm Nang Về Cuộc Khủng Hoảng Kinh Tế, sắp được Cafe Ku Búa xuất bản

Cafe Ku Búa

Facebook Comments