Cẩm Nang Về Cuộc Khủng Hoảng Kinh Tế – 2.7 Thủ Phạm Thứ 5: Quỹ Dự Trữ Liên Bang (FED) Và Tín Dụng Rẻ Tiền Nhân Tạo

2.7 Thủ Phạm Thứ 5: Quỹ Dự Trữ Liên Bang (FED) Và Tín Dụng Rẻ Tiền Nhân Tạo

Chuyện này là thật và cực kỳ quan trọng, mặc dù, những yếu tố này tự thân nó không giải thích phạm vi tuyệt đối của bong bóng nhà đất và chiều sâu của vụ sụp đổ. Để hiểu sự nảy nở và sụp đổ của bong bóng nhà đất, chúng ta phải hiểu lý do các chu kỳ kinh tế xảy ra. Trong khi những trí tuệ thông thường chỉ cho chúng ta biết những đợt nảy nở và sụp đổ này chỉ đơn thuần diễn ra, kết luận đó khiến chính phủ và ngân hàng trung ương của nó nằm ngoài vùng trách nhiệm.

Trường Phái Kinh Tế Áo, điều chúng ta sẽ thảo luận sâu hơn trong chương 4, giải thích cách thức các chu kỳ kinh tế diễn ra – một cách chi tiết, các thức chính phủ sửa chữ với việc cung cấp tiền và tín dụng khởi đầu nền kinh tế với một sự bùng nổ không bền vững kết thúc bằng một sự sụp đổ.

Khi quỹ dự trữ quốc gia đẩy thấp lãi suất bằng cách cung cấp thêm tiền, nó cổ vũ một sự bùng nổ sản xuất của các dự án tương đối dài hạn: nguyên liệu thô, xây dựng và hàng hóa vốn nói chung. Sự bủng nổ về ngành xây dựng và bất động sản trong thập niên quá khứ này, trở nên khả thi bởi lãi suất thấp, là một vì dụ. Không giống quá trình sản xuất có nguồn gốc từ sự kích thích của nhu cầu tiêu dùng, tuy nhiên, sự kích thích nhân tạo của Fed không đúng đài với sở thích của người tiêu dung hay tình trạng dự trữ hiện tại của nền kinh tế.

Nó thu hút các nguồn lực khỏi những dự án cung cấp cho nhu cầu tiêu dùng thực sự, và nó cổ vũ nhiều loại dự án khác nhau được thực hiện hơn mức nền kinh tế có thể thừa nhận. Các nguồn lực cần thiết để hoàn thành mọi dự án này một cách có lợi là không tồn tại. Cho dù là nguồn dự trữ tài nguyên để hoàn thành chúng, hay là mặt bằng tiêu dùng để mua sắm thành phẩm, chỉ tồn tại trong một khối lượng vừa đủ. Không có đủ người muốn hay đủ khả năng mua những căn nhà nửa triệu đô. Giá của những căn nhà này có thể hạ xuống thấp hơn nhiều so với dự kiến ban đầu. Sự sụp đổ xảy ra.

Fed – các cơ chế sẽ được giải thích tương tự trong chương sau – bắt đầu sự bùng nổ bằng cách tăng số lượng tiền cung cấp qua hệ thống ngân hàng với mục tiêu và nỗ lực để hạ thấp lãi suất. Trong cơn chấn động ngày 11 tháng 9, điều xảy ra chỉ hơn một năm sau sự sụp đổ của bong bóng công nghệ dot-com, chủ tịch Fed Alan Greenspan tìm cách tái kích hoạt nền kinh tế thông qua một loạt cắt giảm lãi suất, mà đỉnh cao là quyết định phi thường cắt giảm lãi suất mục tiêu của liêng bang (lãi suất mà các ngân hàng cho ngân hàng khác vay qua đêm, và thường thúc đẩy các lãi suất khác) xuống 1% trong cả một năm, từ tháng 6 năm 2003 tới tháng 6 năm 2004. Nhằm đem đến kết quả này, nguồn cung tiền đã tăng chóng mặt trong những năm đó, với nhiều đô la được in từ năm 2000 tới năm 2007 hơn toàn bộ phần còn lại của lịch sử nền cộng hòa Mỹ.

Lượng tiền và tín dụng mới này đã đảo vào thị trường nhà đất, nơi các tiêu chuẩn cho vay lỏng lẻo nhân tạo tạo ra những mua sắm nhà dư thừa quá mức và sự đầu cơ nhà đất có vẻ như một nước đi tài chính tốt cho nhiều người dân Mỹ. Fed cũng cổ vũ các GSE – Fannie Mae, Ginnie Mae, và Freddie Mac – và cục quản lý nhà ở liên bang vay và cho vay tại một cấp độ chưa từng thấy trước đây. Vì vậy các chiến dịch hạ thấp tiêu chuẩn cho vay đang tồn tại, cùng với các ưu đãi độc quyền đang được hưởng từ các cơ quan bán chính phủ như Fannie Mae và Freddie Mac, đóng một vai trò dẫn đạo cho lượng tiền mới mà Fed đã tạo ra chảy vào thị trường nhà đất. Nhưng cuối cùng, đó là Fed, đã tạo khả năng cho cuộc bùng nổ nhân tạo ngay từ đầu, và tất cả số tiền mới mà nó tạo ra đã trở thành nhân tố kích thích lớn nhất cho sự gia tăng không tự nhiên của giá nhà đất.

Mặc dù các nhà đầu cơ là một trong những nhóm mà các nền tảng chính trị và truyền thống dạy chúng ta ghét, chẳng có gì sai về việc đầu cơ hay và chính bản thân nó cả. Trong một thị trường tự do thực thụ, đầu cơ – cho dù là bất động sản, hàng hóa hay cổ phiếu – thực hiện một chức năng xã hội quan trọng, làm cho nền kinh tế hiệu quả hơn bằng cách tăng tốc tiến độ điều chỉnh giá để ngang bằng với cung và cầu. Như một chính sách tiền tệ dễ dàng lôi cuốn ngày càng nhiều những nhà đầu tư liều lĩnh hay thiếu chuẩn bị nhảy vào cuộc chơi, và đánh lừa mọi người với suy nghĩ một chiến lược đầu tư cụ thể nào đó là một công việc không thể lỗ. Tiền tệ rẻ lôi cuốn mọi người nhào vào đầu cơ, những con người không thuộc về nơi đó, những người biết rất ít về thị trường có liên quan, và những người nhìn nó như một đề án làm giàu nhanh chóng không thể cưỡng lại.

Và trên thực tế, thậm chí khi không có những ưu đãi cộng thêm được giới thiệu bởi các luật lệ và quy định mới, một chính sách tiền tệ dễ hơn bởi chính Fed cổ vũ giảm thiểu các tiêu chuẩn cho vay. Khi các ngân hàng cho vay những khoản tiền mới tạo ra bởi Fed, họ cần phải cho vay nó đến những người các ngân hàng trước đây cho là không xứng đáng. Nó cũng giống như tình huống mà một đội bóng rổ sẽ đối mặt nếu họ thêm vào 2 điểm đội hình mới – những điểm này sẽ đến tay những tuyển thủ đáng lẽ đã bị loại. Trong một bầu không khí của giá cả gia tăng và triển vọng nhìn chung, nó cũng trở nên khó khăn để phân biệt giữa một dự án tốt và một dự án bong bóng – vậy đó, giữa các dự án có ý nghĩa kinh tế tốt trong một giai đoạn bình thường, và những dự án chỉ có thể tồn tại nếu tín dụng duy trì tình trạng rẻ tiền nhân tạo.

Các hiện tượng như vậy chả có gì mới; các nhà quan sát đã bình luận về chúng xuyên suốt lịch sử nước Mỹ. Trong cuộc bùng nổ gây ra bởi tín dụng từ năm 1914 xuyên suốt năm 1920, chẳng hạn, cũng là sự lạc quan quá mức tương tự, sự sẵn lòng chấp nhận rủi ro tương tự, sự kích thích nhân tạo về đầu cơ tương tự đều là bằng chứng. Theo Fred Barlock, viết về tình huống ở Iowa cho tạp chí Land & Public Utility Economics năm 1926, “các cảnh báo bị quẳng theo gió bởi cả các ngân hàng và khách hàng của họ, đầu cơ trở thành súng trường, một gánh nặng khổng lồ về nợ đã được ký hợp đồng, và nền kinh tế bị cuốn theo một vòng xoáy lãng phí.” Garlock giải thích cách thức nó hoạt động:

Giá cả tăng ảnh hưởng đến cả ngân hàng và khách hàng với một sự lạc quan đã quét sang bên mọi tiêu chuẩn bảo thủ về kinh nghiệm và thăng cấp sự lãng phí và đầu cơ. Bất cứ thứ gì khác hàng mua, dù là hàng hóa hay đất đai, họ đều có khả năng bán lại với một lợi nhuận phi thường; Bất kỳ thứ gì được sản xuất ra trong nông tại của họ đều mang lại sự hồi báo phi thường. Chỉ một vài người, không chắc chắn lắm về những bố trí phải thực hiện cho những thu hoạch bất ngờ, bắt đầu giảm các khoản nợ cố định của mình. Tuy nhiên, nó không kéo dài, cho đến khi giá cả nào giá còn tiếp tục tăng, sự khuyến khích của những ngân hàng, và các cách thức được sử dụng bởi chính phủ như bán chứng khoán chiến tarnh, đã thuyết phục đa số rằng nợ thực ra là lời chúc phúc được ngụy trang, khi nó ngày càng dễ dàng hơn trong việc thanh lý và cung cấp một phương tiện để mở rộng hoạt động kinh doanh có lãi. Dưới sự thúc giục của những ảnh hưởng này, ngành công nghiệp đã bành trướng và phát triển mạnh, những người khởi xướng các loại tự động nhảy vào, và tính tiết kiệm nhường đường cho sự lãng phí. Các ngân hàng thấy rằng các tiêu chuẩn quen thuộc về phân tích tín dụng của mình đã lỗi thời, cho những giá trị tự động gia tăng với thời gian trôi qua. Vì nó là vậy, khi cơn sốt đầu cơ đã có chỗ đặt chân và phát triển, và nhu cầu về nguồn vốn ngân hàng gia tăng, tín dụng được mở rộng tới mọi loại người có – hay không có – mọi loại tiền bảo chứng, hạn mức quá độ trở thành chốn thông thường, sự chú ý của khách hàng dành cho người khởi xướng của những doanh nghiệp đầy nghi vấn và gian lận được chiết khấu với mức tưởng thưởng phong phú. Vay mượn cho mục đích cho vay lại trở thành một một hành vi phổ biến. Hết lần này tới lần khác các ngân hàng được cứu khỏi những tác động của các hành vi thiếu khôn ngoan của họ bởi sự tăng trưởng tiền gửi liên tục.

Kịch bản này nghe có vẻ quen thuộc. Loại cơn sốt bất động sản tương tự là bằng chứng xuyên suốt lịch sử của chu kỳ kinh tế Mỹ (cũng là lịch sử của tín sự bành trướng tín dụng ngân hàng nhân tạo) bắt đầu với sự hoảng loạn năm 1819, và nó có thể đơn giản được rút ra từ những báo cáo của báo chí năm 2008 và 2009.

Facebook Comments