Nước Mỹ Của Hillary Clinton 9.3 – Đảng Dân Chủ Của Tammany Hall

9.3 Đảng Dân Chủ Của Tammany Hall

Sự suy đồi của những chính trị gia Mỹ là điều không mới, dĩ nhiên nhưng trước đây, nó được tiến hành chủ yếu ở cấp độ địa phương. Nó cũng được tiến hành bởi đảng Dân Chủ. Cũng có những ngoại lệ, dĩ nhiên, đặc biệt trong giai đoạn Tái Thiết, và trong nội các của tổng thống Grant, và trong vụ bê bối Teapot Dome của nội các Harding.

Nhưng nhìn chung, khi chúng ta nghĩ đến sự hủ bại về chính trị, chúng ta nghĩ về bộ máy của đảng Dân Chủ trong những thành phố lớn tại Mỹ, nghĩ về những “ông chủ” thành phố dùng hệ thống chính trị để đào phiếu, đem bạn bè vào các ban ngành, thu hối lộ cho những hợp đồng thành phố, và thường bóc lột những người nộp thuế địa phương và cướp bóc kho bạc.

Cũng như chế độ nô lệ và quyền tối thượng da trắng đã từng là công cụ khai thác của đảng Dân Chủ tại miền nam, hệ thống ông chủ là công cụ tham nhũng và trộm cắp các thành phố trên khắp đất nước. Những ông chủ nổi tiếng nhất đảng Dân Chủ là Edward Crump, thị trưởng của Memphis từ năm 1910 tới năm 1916; Tom Pendergast, người điều hành Câu Lạc Bộ Dân Chủ Quận Jackson và kiểm soát các chính trị gia địa phương tại thành phố Kansas, Missouri, từ năm 1911 cho tới khi bị kết án gian lận thuế năm 1939; Frank Hague, thị trưởng của thành phố Jersey từ năm 1917 tới năm 1947; và Richard Daley, thị trưởng của Chicago từ năm 1955 tới năm 1976.

Hệ thống ông chủ có vẻ như là thành tích của quá khứ đảng Dân Chủ, nhưng nó vẫn tiếp diễn tốt trong thế kỷ 20. Những ông chủ được ghi lại rộng rãi trong đề cử của Harry Truman cho chức phó tổng thống tại hội nghị đảng Dân Chủ năm 1944. Ông chủ Chicago Richard Daley được cho là đã thắng sít sao sự ủng hộ của JFK thông qua việc sử dụng một chiến thuật ông chủ cơ bản: phiếu bầu của người chết. Nixon bị từ chối trong danh dự cuộc bầu cử năm 1960 mặc dù ông biết rằng kết quả của bang Illinois đã bị gian lận.

Hệ thống ông chủ của đảng Dân Chủ là một mạng lưới để chiếm ưu thế của những người nhập cư mới đến đất nước trong những làn sóng bắt đầu từ cuối thế kỷ 19 và tiếp tục suốt thế kỷ 20. Nhiều người nhập cư đến với 2 bàn tay trắng, nói rất ít hoặc không biết nói tiếng Anh, và không có cách nào dễ dàng để đứng vững gót chân tại đất nước này. Cũng như những nhà cấp tiến Dân Chủ tìm ra cách để kiểm soát những người da đen nghèo theo cách đơn giản là giúp đỡ và cấp dưỡng cho họ, họ cũng tìm ra cách để kiểm soát những người nhập cư nghèo với cái cớ tương tự.

Những ông chủ đảng Dân Chủ xây dựng quyền lực bằng cách làm chính mình trở nên không thể thay thế cho những người nhập cư miền bắc. Đầu tiên người nhập cư không cần đến đảng Dân Chủ. Họ dựa vào những hội huynh đệ tư nhân để cung cấp thực phẩm cho người nghèo khổ, hướng dẫn để nói tiếng Anh, những bài học công dân để giúp người nhập cư hòa nhập, và cả thông tin về việc làm và đôi khi là huấn luyện kỹ năng cho những công việc xây dựng và sản xuất.

Tuy nhiên, nó không kéo dài lâu, trước khi đảng Dân Chủ thấy nhóm nhập cư như một nguồn lực chính trị, sở hữu những lá phiếu có thể đạt được thông qua sự bảo hộ – nó đấy, bằng cách khai thác kho bạc thành phố. Tô vẽ bằng lý do viện trợ cho những người khó khăn, hay công bằng xã hội, những đề án trộm cắp này là cách để có phiếu, duy trì quyền lực, và thu lợi từ ví của công chúng. Đảng Dân Chủ, nói cách khác, đã tìm ra cách để làm điều đảng Dân Chủ vẫn thường làm, có tên là, trộm cắp vì ích lợi của chính mình.

Một khi có quyền lực, những ông chủ Dân Chủ đề nghị những hợp đồng không đấu thầu cho những công ty để đổi lại sự đóng góp lớn cho bộ máy đảng Dân Chủ. Họ cũng đưa những hợp đồng dịch vụ lớn cho bạn của họ, kê giá lên để những dự án chỉ tốn vài ngàn đô cuối cùng lên đến hàng chục ngàn, thậm chí hàng trăm ngàn đô tại thời điểm mà các ông chủ nhận được phần của mình.

Để đổi lại, những người nhập cư phải đồng ý bỏ phiếu sớm và bỏ phiếu thường xuyên. Đây không phải là trò đùa; đảng Dân Chủ đã hoàn chỉnh phương pháp“lặp lại” mà trong đó một người có thể bỏ phiếu nhiều hơn một lần. Thậm chí người chết cũng có mặt tại các nơi bỏ phiếu, dựa trên sự tương tự về thông tin phiếu bầu với những bia mộ trong nghĩa trang địa phương.

Thật mỉa mai khi tên của đảng này là “Dân Chủ” lại chuyên chế cho sự lạc lối của tiến trình dân chủ. Thậm chí ngày nay đảng này ủng hộ những cử tri cùng ngày và đòi hỏi chứng minh thân phận của những cử tri đối thủ. Những lập trường này dự định mở đường cho bỏ phiếu phạm pháp. Vì vậy các vụ bỏ phiếu lừa đảo tiếp tục diễn ra theo một dạng được điều chỉnh.

Ông chủ nổi tiếng nhất – hoặc bẩn thỉu nhất – của các ông chủ Dân Chủ là Boss Tweed người điều hành mạng lưới Tammany Hall tại thành phố New York. Rất ít nhà cấp tiến ngày nay bảo vệ vòng tròn của Tweed. Nhưng Terry Golway trong quyển sách của ông Bộ Máy Đã Được Thành Lập Ra Sao (Machine Made) đã thuật lại trường hợp mà Tweed “giúp tạo ra chính quyền hiện đại và chính trị đô thị.” Golway ám chỉ rằng sự thống trị của đảng Dân Chủ tại các thành phố ngày nay chủ yếu duy trì thông qua các tổ chức phong cách Tweed. Ông ta đúng. Sự bất đồng duy nhất với ông là ông nghĩ nó tốt, còn tôi nghĩ nó thực sự rất tệ.

Golway không tâng bốc Tweed, một cựu thủ thư người mà đã xây dựng sự nghiệp khởi đầu từ những băng đảng địa phương cống hiến hết mình cho hối lộ và mạng lưới bảo kê đường phố. Dần dần Tweed xây dựng một hội huynh đệ mạnh mẽ, Cộng Đồng Của Thánh Tammany. Chức danh của ông là Grand Sachem của cộng đồng. Tên của nhóm này thôi cũng khá thú vị vì điều gây tò mò là Tammany không xuất hiện trong danh sách các thánh được công nhận bởi nhà thờ Công Giáo.

Tweed không tìm kiếm những vị trí cao trong công chúng cho chính mình. Ông không cần phải làm thế. Ông quyền lực hơn nhiều khi hoạt động như một chính phủ ngầm, bổ nhiệm và kiểm soát những công chức khác. Trong 12 năm, Tweed cơ bản điều hành thành phố New York. Ông thành lập một hệ thống độc đảng, đảng viên Cộng Hòa không có tiếng nói. Theo thông báo khiêm nhường của ông khi là một phó ủy viên đường phố, Tweed bổ nhiệm người bảo trợ của mình vào các vị trí quan trọng, như là hội viên cao niên của thành phố và chánh án Toàn Án Tối Cao.

Tweed xây dựng mối quan hệ bền chặt với nhà thờ Công Giáo, cung cấp nhỏ giọt những quyền lợi nhỏ để đổi lại sự chúc phúc của nhà thờ. Điều này quan trọng với Tweed vì hầu hết những người ủng hộ ông là những người nhập cư Công Giáo trung thành cuồng nhiệt với nhà thờ. Tweed cũng xây dựng bền chặt với các công đoàn, những người quá hạnh phúc được tham gia vào hệ thống của ông để tống tiền, lại quả và hối lộ. Những công đoàn này tiếp tục hủ bại rất lâu sau kỷ nguyên Tweed, và tồn tại mãi đến thế kỷ 20.

Vào giữa thế kỷ, chẳng hạn, nhiều công đoàn kiểm soát hoặc ảnh hưởng bởi 5 đảng mafia lớn tại New York, băng Gambino, Lucchese, Genovese, Colombo, và gia đình nhà Bonnano. Những ông chủ công đoàn dưới sự ủng hộ của các băng đảng đã trở nên giàu có nhờ lại quả và hối lộ trong khi các công nhân thông thường chẳng được gì. Những thành viên công đoàn đứng lên tố cáo tham nhũng thường bị đe dọa và thiệt mạng trong vài trường hợp. Đoạn lịch sử xấu xí này về các nghiệp đoàn Mỹ thường bị làm mờ nhạt trong sử sách đảng Dân Chủ.

Rất nhiều người Ireland nghèo khó yêu thích Tweed, bởi vì ông phân phát gà tây rộng rãi cho công chúng vào dịp lễ tạ ơn và những hành động từ thiện biểu tượng khác. Trong thực tế, Tweed luôn đảm bảo những khoản tiền lớn luôn chảy về lại hướng ông. Ông thường cắn những khoản lại quả lớn từ các hợp đồng thành phố. Vụ điển hình nhất của mạng lưới Tweed là ông bắt người đóng thuế tại New York chi trả cho công trình xây dựng tòa án thành phố.

Tòa án đã được phân bổ ngân sách 250,000 đô, nhưng Tweed trả cho một thợ gỗ 350,000 đô cho một tháng làm việc, thứ đáng lẽ chỉ tốn vài ngàn đô. Ông tính phí cho thành phố gần 3 triệu đô cho nội thất và nửa triệu đô cho thảm. Hàng trăm ngàn đã được chi trả cho việc “tu sửa” và “thay thế” cho một thương hội quan hệ chặt chẽ với Tweed. Cuối cùng, công trình duy nhất này tốn phí của những người đóng thuế 14 triệu đô.

Cuối cùng New York Times đã làm cả một lượt bài báo bóc trần mạng lưới của Tweed. Nhà làm phim hoạt hình Thomas Nast của Harper phát động một cuộc viễn chinh một người chống lại Tammany Hall, châm biếm nhóm Tweed như những con lợn tham lam chõ mũi vào máng và những kẻ ủng hộ Tweed như những người Ireland say xỉn và dốt nát. Tweed tranh chấp về chi phí với phong cách giải quyết kiểu Hillary, nhưng theo thời gian các lời chỉ trích đã gióng lên hồi chuông.

Samuel Tilden, chủ tịch của đảng Dân Chủ New York, cuối cùng cũng bị áp lực phải hành động. Tilden biết rằng sự sa đọa không phải đặc điểm của riêng nhóm Tweed; nó chạy sâu vào trong các cấp của đảng. Tilden cũng biết rằng Tweed đã đi quá xa, và sự nhận biết giữa Tweed và đảng Dân Chủ có thể kết thúc bằng tổn thất của đảng. Tweed, vì thế, phải ra đi.

Vì vậy Tilden tập trung những bằng chứng chống lại Tweed. Tuy nhiên, ông đã chừa thời gian. Cuộc điều tra của Tilden kéo dài gần 10 năm. Các sử gia sau đó đã tự hỏi sao nó lại kéo dài lâu thế. Lý do là Tilden muốn bảo vệ đảng Dân Chủ khỏi bị hạ bệ cùng Tweed. Tilden muốn hạ bệ Tweed nhưng vẫn bảo vệ đảng Dân Chủ. Thực ra, ông có một ý tưởng làm thế nào để đảng Dân Chủ, qua thời gian, có thể hợp pháp hóa mạng lưới kiểu Tweed.

Sau cùng Tweed bị truy tố bởi 120 tội danh từ giả mạo cho đến ăn cắp lớn. Ông ta bị buộc tội và kết án 12 năm tù giam. Tháp tùng bởi một vài tay sai, Tweed bỏ trốn tới California và sang Tây Ban Nha. Nhưng ai đó đã nhận ra ông từ những phim hoạt hình của Nast, và ông bị trục xuất về New York. Ông chết trong tù năm 1878.

Trong cuộc hạ bệ Tweed, Tilden được ghi chép như một trong những nhà “cải cách” Dân Chủ đầu tiên. Truyền thống “cải cách” này liên quan chặt chẽ đến chủ nghĩa cấp tiến. Một vài sử gia giả vờ như các nhà cấp tiến chỉ quan tâm tới việc chấm dứt sự hủ bại của đảng Dân Chủ. Trên thực tế nó chỉ để tinh giản, hợp thức hóa và biến nó thành một phần của cách thức làm ăn kiểu Dân Chủ.

Kẻ nịnh hót Tammany Hall, George Plunkett, người đã cung cấp những phát ngôn được thu thập và ghi nhớ bởi nhà văn William Riordan trong quyển sách tự đề Plunkett của Tammany Hall, thẳng thắn chỉ ra công thức. Ở đây chúng ta thấy Plunkett khuyên nhủ những đồng sự đảng Dân Chủ. “Chính trị gia không phải ăn trộm để sống bởi vì một chính trị gia có thể trở thành triệu phú thông qua hối lộ trung thực.” Tôi khá chắc chắn rằng Harry Reid có một bản của quyển sách này ngay cạnh giường, và ba thế hệ của đảng Dân Chủ đã trở nên giàu có theo những lời khuyên của Plunkett.

Mặc dù sự thống trị của Tweed chỉ kéo dài hơn một thập kỷ, sự thống trị của Tammany Hall ở New York tiếp tục từ thập niên 1860 tới thập niên 1930. Nó chỉ chấm dứt với cuộc Đại Suy Thoái. Lý do nó kết thúc là vì nó đã hợp nhất thành một đề án lớn hơn. FDR trong lúc hưng phấn đã lấy đề án Tammany và mở rộng ra toàn quốc. Lượt phản đối nổi tiếng của FDR để chống lại hệ thống ông chủ tại New York không phải bởi vì ông chống đối hệ thống về mặt nguyên tắc. Ông không thích những ông chủ địa phương vì ông muốn tự mình làm ông chủ lớn của cả nước.

Tuy nhiên, FDR không chấm dứt hoàn toàn hệ thống ông chủ trong những thành phố Mỹ. Ông chỉ đơn thuần bón phân cho những nguyên tắc đó vì những ích lợi của đảng Dân Chủ quốc gia. FDR, nó đủ quan trọng để được chú ý, đã giàu có sẵn khi ông tiến tới Nhà Trắng; mục tiêu đẩy mạng lưới ông chủ lên tầm quốc gia là vì quyền lực, không phải vì làm giàu cá nhân.

Tài năng trong hành vi tội phạm của nhà Clinton là họ đã nâng tầm mạng lưới đô thị lên cấp quốc gia, thậm chí quốc tế, những độ cao mới về trục lợi cá nhân, bán tháo uy tín của vị trí tổng thống trong suốt nhiệm kỳ của Bill và bán chính sách đối ngoại của Mỹ trong nhiệm kỳ của Hillary làm Bộ Trưởng Bộ Ngoại Giao. Riêng về mặt này, nhà Clinton đã tự tạo thành liên minh sa đọa của riêng mình.

Tuyên bố nổi tiếng của Hillary về việc mình và Bill “phá sản” khi họ rời Nhà Trắng. Phải thừa nhận rằng nhà Clinton đã tích lũy một số hóa đơn luật sư đáng kể bởi vì những vụ bê bối khác nhau, từ Whitewater cho tới vụ quấy rối tình dục Paula Jones cho đến cuộc điều tra về Monica Lewinsky. Không nghi ngờ gì nữa, tài sản ròng của họ đã giảm mạnh khi Bill phải trả cho Paula Jones 850,000 đô để ra đi – người mà Hillary không thể đuổi đi mà không thương lượng được.

Nhưng trước khi ra đi Hillary cũng kịp đàm phán một hợp đồng 6 triệu đô. Bill đã tuyên bố mục đích cho những buổi nói chuyện công chúng với chi phí ước tính khoảng 50,000 tới 100,000 đô. Tuyên bố của Hillary về việc phá sản là một sự chế nhạo, và nó rõ ràng là vậy.

Tuy nhiên, từ khi họ rời Nhà Trắng, nhà Clinton đã gia tăng tài sản với tốc độ kinh khủng. Họ đã đi từ con số 0 tới 200 triệu đô chỉ trong vài năm. Quỹ từ thiện của họ – thứ cơ bản là phần mở rộng của nhà Clinton – đã tích lũy nhiều hơn và nhanh hơn nữa.

Làm sao nhà Clinton có tất cả số tiền này? Họ không phát minh bất cứ thứ gì hay bắt đầu bất kỳ chuyện làm ăn nào. Họ ở trong chính trường cả đời, và lương bổng chính phủ thì không nhiều đến vậy. Những hợp đồng sách và chi phí cho các buổi nói chuyện khó mà đạt được mức tài sản đó. Vậy thì nó đến từ đâu?

 

Facebook Comments