Nước Mỹ Của Hillary Clinton 5.3 – Chủ Nghĩa Phân Biệt Chủng Tộc Của Phe Cấp Tiến

5.3 Chủ Nghĩa Phân Biệt Chủng Tộc Của Phe Cấp Tiến

Trong chương này tôi sẽ cho thấy rằng đảng Dân Chủ chưa bao giờ từ bỏ chủ nghĩa phân biệt chủng tộc – nó đã tìm ra cách để tích hợp chủ nghĩa này vào triết lý của chủ nghĩa cấp tiến. Chủ nghĩa cấp tiến không thay thế chủ nghĩa phân biệt chủng tộc; đúng hơn, chủ nghĩa cấp tiến miền bắc đã làm việc song song với chủ nghĩa phân biệt chủng tộc miền nam để tạo nên một liên minh Dân Chủ thành công vượt trên cả Chính Sách Mới (New Deal) của FDR và Xã Hội Vĩ Đại (Great Society) của Johnson.

Tôi không phải là người duy nhất nghĩ vậy; sử gia cấp tiến Ira Katznelson thừa nhận tương tự trong một quyển sách quyền lực gần đây, Chính  Nỗi Lo Sợ (Fear Itself). Katznelson tập trung bản cáo trạng của mình vào nhân vật trung tâm của chủ nghĩa cấp tiến hiện đại, Franklin D.Roosevelt. Tôi mở rộng bản cáo trạng đến hai nhân vật trung tâm khác: Woodrow Wilson và Lyndon Johnson. Và dĩ nhiên chúng ta thấy những xu hướng tương tự trong toàn đảng Dân Chủ. Qua cuộc điều tra này, chúng ta sẽ khám phá ra thứ mà Byrd đã học được, thứ giúp ông hoàn thành cuộc lột xác dễ dàng từ một đảng viên Dân Chủ phân biệt chủng tộc thành đảng viên Dân Chủ tiến bộ.

Nó có vẻ như dị giáo khi kết nối ba nhà vô địch cấp tiến vĩ đại của thế kỷ 21 – Wilson, FDR, và Johnson – với chủ nghĩa phân biệt chủng tộc. Nhưng một sự thật không thể tranh luận là cả ba đều là những kẻ phân biệt chủng tộc hoặc đem đến hòa bình bằng việc phân biệt chủng tộc. Giới lịch sử học cấp tiến đã phải làm việc thêm giờ để che lấp sự thật này.

Cũng có vài tranh luận về việc Wilson có phải là một thành viên Ku Klux Klan hay không. Bất chấp sự thật là gì, không cần hỏi cũng biết Wilson có cảm tình với Klan. Bằng cách chiếu bộ phim Sự Khai Sinh Của Một Quốc Gia (Birth of a Nation) tại Nhà Trắng, Wilson đóng góp cho sự hồi sinh của Klan vào đầu thế kỷ 20. FDR không bài trừ người da đen theo cách của Wilson, nhưng ông từng phục vụ với chức vị Bộ Trưởng Hải  Quân trong chính quyền của Wilson, chưa bao giờ phản đối việc hợp pháp hóa sự phân biệt mà Wilson đã áp đặt lên khắp chính phủ liên bang.

Khi FDR trở thành tổng tống, ông đã thỏa thuận với những đảng viên Dân Chủ phân biệt chủng tộc miền nam, họ đòi hỏi ông phải chặn luật chống treo cổ và loại bỏ người da đen ra khỏi Chương Trình Mới. Sự gia tăng đột biến những vụ treo cổ trong suốt thập niên 1930 không có chút tác dụng nào trong việc thay đổi cam kết của FDR với nhóm. Người ta có thể mong đợi để thấy FDR tự do hóa quan hệ chủng tộc qua nhiều nhiệm kỳ của ông, nhưng ông chẳng bao giờ làm. Thỏa thuận của ông với những kẻ phân biệt chủng tộc tồi tệ nhất của đảng Cộng Hòa duy trì trong suốt quãng đời tổng thống của ông, từ năm 1932 đến năm 1945.

Lyndon Johnson cũng là một thành viên của nhóm phân biệt chủng tộc của đảng Dân Chủ miền nam mà FDR đã đưa ra những thỏa thuận. Johnson cũng đã kêu gọi chống lại Quyền Dân Sự trong giai đoạn đầu của sự nghiệp. Sau đó Johnson có vẻ như đã thay đổi, nhưng trong chuyện này vẻ ngoài chỉ là sự lừa dối. Kể cả khi lên làm tổng thống – trong giai đoạn mà ông đã thúc đẩy luật về quyền dân sự năm 1964 – Johnson gọi người da đen là “mọi” và nói rằng luật dân quyền là một giải pháp chiến thuật để giữ người da đen trong trang trại Dân Chủ.

Vậy còn đảng Cộng Hòa? Tôi sẽ trình bày trong chương này rằng đảng Cộng Hòa trong suốt thập niên 1950 và 1960 đã ủng hộ luật Dân Quyền, trong khi phía đối lập chính của luật về quyền dân sự đến từ đảng Dân Chủ. Người da đen, bắt đầu từ thập niên 1930, đã chuyển từ bỏ phiếu cho đảng Cộng Hòa sang bỏ phiếu cho đảng Dân Chủ, nhưng nó không phải vì nguyên nhân chủ nghĩa phân biệt chủng tộc. Ngược lại, những người da đen gia nhập đảng Dân Chủ thấy mình đứng cùng chiến tuyến với những kẻ phân biệt và Ku Klux Klan. Còn xa mới thoát khỏi chủ nghĩa phân biệt chủng tộc, những người da đen tự đưa mình vào đảng của phân biệt chủng tộc.

Tại sao họ lại làm vậy? Ý kiến sáng suốt nhất cho câu hỏi này đến từ tạp chí nội chiến của Mary Boykin Chesnut. Chesnut quan sát thấy rằng kể cả khi tất cả những người đàn ông da trắng khỏe mạnh đã lên đường chiến đấu với người Mỹ bản địa, các nô lệ vẫn không rời khỏi những trang trại. Chesnut thấy điều này thật lạ lùng vì những người nô lệ ở một mình cùng phụ nữ và trẻ em. Họ đã có thể rời đi nếu họ muốn; không ai ở đó để ngăn họ. “Nếu chế độ nô lệ là khó chịu đối với người da đen như cách chúng ta vẫn nghĩ,” cô viết “tại sao họ không tràn qua biên giới nơi họ sẽ được chào đón với vòng tay rộng mở?” Chesnut ngụ ý rằng bất chấp loại ác cảm nào họ có với chế độ nô lệ, những người nô lệ vẫn thích có sự an toàn được cung cấp bởi những đồn điền.

Một người khác hiểu rõ sự hấp dẫn về an ninh của cuộc sống đồn điền là đảng viên Cộng Hòa bãi nô Frederick Douglass. Douglass, tuy nhiên, đã chửi bới om sòm về nó. Trong bài diễn văn năm 1865 tại đại hội chống chế độ nô lệ Massachusetts, Douglass đã giải quyết câu hỏi: phải làm điều gì cho những người nô lệ cũ? Douglass trả lời, “Đừng làm gì cho chúng tôi! Những hành động của các người đã chơi khăm chúng tôi. Nếu một người da đen không thể tự đứng trên đôi chân của anh ta, cứ để anh ta thất bại. Cứ bỏ mặc anh ta. Nếu bạn chỉ cởi trói anh ta và cho anh ta một cơ hội, tôi nghĩ anh ta sẽ sống.”

Bài diễn văn của Douglass có tựa đề, “Người Da Đen Muốn Gì.” (“What the Black Man Wants”). Với Douglass, người da đen chỉ muốn tự do – tự do để làm nên tương lai của chính mình. Nhưng đảng Dân Chủ của thập niên 1930 nghĩ khác. Đảng Dân Chủ biết rằng người da đen cũng chịu đựng sự khó khăn về tài chính như bất cứ ai từ cuộc Đại Suy Thoái; và những khó khăn này cho đảng Dân Chủ – đảng của chủ nghĩa nô lệ, phân biệt và Jim Crow – một cơ hội mới.

Facebook Comments