Nước Mỹ Của Hillary Clinton 4.7 – Cuộc Cách Mạng Dân Quyền Gốc

4.7 Cuộc Cách Mạng Dân Quyền Gốc

Hãy bắt đầu bằng việc kiểm tra cuộc cách mạng Dân Quyền (Civil Rights) đầu tiên tại Mỹ – cuộc cách mạng Dân Quyền của thập niên 1860. Đây là một cuộc cách mạng của Đảng Cộng Hòa, đó là lý do vì sao Đảng Dân Chủ phủ nhận nó và giả vờ rằng những cuộc cách mạng sau này vào thập niên 1950 và 1960 là những phong trào duy nhất. Tuy vậy, trong cả 2 cuộc cách mạng Dân Quyền, cái đầu tiên – mà đã bị bỏ qua – thực ra là quan trọng hơn.

Để hiểu tại sao, hãy xem xét ý nghĩa của thuật ngữ Dân Quyền hoặc “dân quyền”. “Dân quyền” là gì và tại sao dân quyền lại quan trọng? Quyền công dân thực ra được phân biệt khỏi quyền tự nhiên. Thử tưởng tượng nếu bạn sống trong rừng, bị tách rời khỏi xã hội. Các nhà triết học gọi đây là “trạng thái tự nhiên.” Trong trạng thái tự nhiên, chúng ta sẽ có các quyền tự nhiên: quyền tự bảo vệ, hay quyền nhặt trái cây để ăn. Đó là những quyền chúng ta có nhờ việc làm người.

Quyền công dân, ngược lại, là những quyền mà chúng ta rút ra từ xã hội. Chúng sinh ra từ một xã hội nhỏ mà tính hợp pháp được lấy ra từ sự đồng thuận của người dân. Khi người da den là nô lệ, họ không có quyền công dân. Kể cả khi được giải phóng, nó chỉ đơn thuần trả họ về trạng thái tự do, trạng thái tự nhiên. Con người có quyền tự nhiên trong trạng thái tự nhiên nhưng họ không có quyền công dân. Quyền công dân được thiết lập từ việc trở thành thành viên của một xã hội.

Các nhà Cộng Hòa, những người kiểm soát cả 2 viện của quốc hội sau cuộc Nội Chiến biết điều này. Họ cũng biết rằng, trước khi trao quyền công dân, họ phải loại bỏ chế độ nô lệ một lần cuối và mãi mãi. Tu Chính Án 13 để kết thúc chế độ nô lệ đã được thông qua bởi Thượng Viện vào ngày 8 tháng 4 năm 1864, và bởi Hạ Viện vào ngày 31 tháng 1 năm 1865.

Đảng Cộng Hòa ủng hộ Tu Chính Án: 100%. Đảng Dân Chủ ủng hộ: 23%. Kể cả sau cuộc Nội Chiến, chỉ một thiểu số thành viên Đảng Dân Chủ đồng ý đăng ký để loại bỏ vĩnh viễn chế độ nô lệ. Hầu hết các nhà Dân Chủ muốn nó tiếp tục.

Trong năm tiếp theo, ngày 13 tháng 6 năm 1866, đại hội Đảng Cộng Hòa thông qua Tu Chính Án thứ 14 để đảo ngược quyết định Dred Scott và trao quyền công dân toàn diện và quyền bình đẳng trước luật pháp cho người da đen. Tu Chính Án này cấm các bang cắt giảm những “ưu đãi và miễn trừ” của mọi công dân, từ việc tước đoạt của cải “theo quy trình pháp luật” hay phủ nhận “quyền bình đẳng trước pháp luật.” Tu Chính Án thứ 14 được thông qua bởi Thượng Viện và Hạ Viện với sự ủng hộ duy nhất từ đảng Cộng Hòa. Không một đảng viên Dân Chủ nào ở Thượng Viện hay Hạ Viện bỏ phiếu cho nó.

Hai năm sau, năm 1868, Quốc Hội với sự ủng hộ của Tổng Thống đảng Cộng Hòa vừa được bổ nhiệm, Ulysses Grant, thông qua Tu Chính Án thứ 15 trao quyền bầu cử cho người da đen. Quyền bỏ phiếu, Tu Chính Án nêu rõ, không thể bị “từ chối hoặc cắt giảm bởi nước Mỹ hay bất kỳ quốc gia nào vì lý do chủng tộc, màu da hoặc quá khứ nô lệ.”

Tại Thượng Viện, Tu Chính Án thứ 15 được thông qua với 39 phiếu thuận và 13 phiếu chống. 39 phiếu thuận đều đến từ đảng Cộng Hòa. (Một số đảng viên Cộng Hòa như Charles Sunner bỏ phiếu trắng vì họ muốn các biện pháp xa hơn nữa). Tất cả 13 phiếu chống đều đến từ đảng Dân Chủ. Tại Hạ Viện, mọi phiếu thuận đều từ đảng Cộng Hòa, mọi đảng viên Dân Chủ đều bỏ phiếu chống.

Điều đó chắc chắn là một vấn đề có ý nghĩa quan trọng rằng những quy định của Hiến Pháp mở đường cho Luật Dân Quyền, Luật Bầu Cử và Luật Nhà Ở Công Bằng được đưa vào Hiến Pháp là nhờ vào đảng Cộng Hòa. Xa hơn, đảng Cộng Hòa đã đẩy mạnh một loạt các luật dân quyền để củng cố hơn nữa quyền của những người da đen để có tự do, bình đẳng và công lý xã hội.

Khi đảng Cộng Hòa thông qua đạo luật Dân Quyền năm 1866 – đảm bảo cho người da đen về quyền thực hiện hợp đồng và luật hình sự được áp dụng bình đẳng giữa người da trắng và da đen – đảng Dân Chủ đã phản pháo. Họ không có phiếu chiếm số đông tại Quốc Hội, nhưng có một đồng minh mạnh mẽ là tổng thống Andrew Johnson. Johnson đã bỏ phiếu phủ quyết.

Bây giờ điều này có vẻ là một động thái kỳ lạ của Phó Tổng Thống của Lincoln, nhưng thực ra thì không. Nhiều người không nhận ra rằng John không phải đảng viên Cộng Hòa; ông là đảng viên Dân Chủ. Nhà sử học Kenneth Stampp gọi ông ta là “người của Jackson cuối cùng.” Lincoln đã chọn ông ta làm Phó Tổng Thống vì ông ta là một nhà Dân Chủ ủng hộ Liên Bang và Linlcon đang tìm cách giành phiếu từ những nhà Dân Chủ phản đối chính sách phân ly đất nước.

Tuy nhiên, Johnson vừa là một đảng viên miền nam và là đảng viên Dân Chủ. Khi cuộc Nội Chiến kết thúc, ông đã cố gắng dẫn dắt những đảng viên Cộng Hòa nhu nhược vào một liên minh Dân Chủ mới dựa trên sự phân biệt chủng tộc và đặc quyền da trắng. Johnson sùng câu thần chú của Đảng Dân Chủ về quyền tối thượng của người da trắng, tuyên bố rằng, “Đây là đất nước của người da trắng, và thề có Chúa, chừng nào tôi còn là tổng thống, đó sẽ là chính phủ của người da trắng.”

Trong thông điệp hàng năm gửi đến Quốc Hội năm 1867, Johnson tuyên bố rằng người da đen sở hữu “khả năng kém trong việc tự chủ hơn bất kỳ chủng tộc nào. Chưa có chính phủ độc lập dưới bất kỳ dạng nào từng thành công dưới bàn tay của họ. Ngược lại, bất cứ khi nào họ được bỏ mặc với những cơ chế của mình, họ cho thấy một xu hướng kiên định trong việc trở lại chủ nghĩa man rợ.” Tuyên bố này có thể là những lời phân biệt chủng tộc nặng nề nhất từng được thốt ra bởi một tổng thống Mỹ, và không ngạc nhiên, chúng được thốt ra bởi một đảng viên Dân Chủ.

Bị xúc phạm bởi những lời nói của Johnson và quyền phủ quyết của ông với đạo luật Quyền Công Dân (hoặc Dân Quyền) năm 1866, Quốc Hội dưới đảng Cộng Hòa tìm cách buộc tội ông. Các biện pháp đã được Hạ Viện thông qua nhưng lại thất bại ở Thượng Viện – cũng như một thế kỷ sau đó, Thượng Viện đã không có đủ phiếu thông qua việc buộc tội Bill Clinton. Đảng Cộng Hòa, tuy nhiên, đã thành công trong việc chống lại quyền phủ quyết của Johnson, vì vậy bộ luật Dân Quyền năm 1866 chính thức được thành lập bất chấp sự kháng cự của tổng thống đảng Dân Chủ.

Nổi điên trước thành công của Đảng Cộng Hòa trong việc thông qua các Tu Chính Án của Hiến Pháp và quyền công dân hợp pháp cho người da đen, các nhà Dân Chủ miền nam đáp trả với “đạo luật đen” khét tiếng. Những đạo luật này được phê duyệt thông qua các cơ quan lập pháp nhà nước cấp tiểu bang và các công ước hiến pháp nhà nước trên khắp miền nam những năm hậu chiến tranh. Chỉ người gia trắng tham gia những phiên họp này. Các “đạo luật” này đại diện cho hình thức Dân Chủ khác của chế độ nô lệ; một vài sử gia sử dụng thuật ngữ “tân-nô lệ.”

Khá điển hình là đạo luật mà đảng Dân Chủ áp dụng tại Nam Carolina. Người da đen chỉ được cho phép làm việc trong một số ngành nghề nhất định, qua đó giữ thế độc quyền lao động của người da trắng trong các lĩnh vực khác. Ông chủ người da trắng có thể phạt roi các đầy tớ da đen. Người da đen không được phép tự do di chuyển; nếu họ làm vậy, họ sẽ đối mặt với rủi ro bị tuyên bố là “người lang thang” và trong trường hợp đó, họ có thể bị bắt giữ và bỏ tù. Cảnh sát trưởng sau đó có thể áp đặt lao động khổ sai hay cho thuê họ đến những ông chủ người da trắng để làm việc theo bản án. Trẻ em da đen có thể bị buộc học nghề với những người sử dụng lao động da trắng ngoài ý muốn của chúng.

Thêm nữa, người da đen không được bỏ phiếu hay phục vụ trong bồi thẩm đoàn. Những lời khai của họ trước tòa chỉ được cân nhắc trong các trường hợp liên quan đến người da đen khác. Nhiều tội hình sự – như phản loạn, đốt nhà hoặc tấn công một phụ nữ da trắng – có thể chịu án tử hình cho người da đen, nhưng da trắng thì không. Người da đen không được bán rượu hay mang vũ khí.  Kể cả khi người da đen đã được phép kết hôn, đạo luật mô tả rất rõ rằng “hôn nhân giữ người da trắng và da màu sẽ là vô hiệu.”

Facebook Comments