Nước Mỹ Của Hillary Clinton 10.2 – Một Truyền Thống Cách Mạng

10.2 Một Truyền Thống Cách Mạng

Đồng ý rằng, ở đây có một sự mỉa mai; chủ nghĩa bảo thủ (cánh hữu) của Mỹ khác biệt trong cách nó bảo vệ không phải những chế độ cổ đại hay những truyền thống. Khác hơn, nó bảo vệ truyền thống cách mạng Mỹ. Hơn nữa, truyền thống cách mạng này là truyền thống của chủ nghĩa tự do cổ điển và liên quan đến 3 loại tự do: tự do chính trị, tự do kinh thế và tự do tư tưởng và tôn giáo.

Các nhà lập quốc không chỉ quan tâm đến tự do; họ còn quan tâm đến công lý. Với họ, công lý có 2 thành tố chính, công lý về phân bổ kinh tế và công lý về các quyền. Công lý về phân bổ kinh tế là công lý của thị trường tư bản tự do: ý tưởng nền tảng là mọi người nên được giữ lấy thành quả lao động của chính mình. Một dạng chính khác của công lý là sự bình đẳng về quyền trước pháp luật. Các nhà lập quốc biết rằng loại công lý thứ 2 này đã bị phản bội bởi chủ nghĩa nô lệ; đó là lý do vì sao họ lập ra các tổ chức được thiết kế theo thời gian để xóa sổ loại trộm cắp có tổ chức đó.

Sự mâu thuẫn giữ nguyên tắc của các nhà lập quốc và chủ nghĩa nô lệ đối đầu trong hai thế hệ sau, trong cuộc nội chiến. Năm 1860, một lần nữa các nguyên tắc nền tảng của nước Mỹ, và thực ra là sự sinh tồn của nước Mỹ như một quốc gia, đã bị đe dọa. Sự đe dọa này đến từ “miền nam.” Ý tưởng cho rằng miền nam hoàn toàn chịu trách nhiệm là một sự lừa dối của phe cấp tiến. Điều mà sự giả dối này để lại là thứ đã phân tách miền nam ngay từ đầu.

Tại sao điều này quan trọng? Cuối cùng, đó là miền nam, không phải đảng Dân Chủ, đã ly khai. Nhưng miền nam ly khai chính vì đảng của nó, đảng Dân Chủ, đã thua cuộc bầu cử. Nếu đảng Dân Chủ thắng, chế độ nô lệ đã được bảo vệ an toàn và miền nam vẫn sẽ đứng trong liên bang. Sự thua cuộc của đảng chủ trương nô lệ năm 1860 đã gây ra cuộc nội chiến.

Khi cuộc nội chiến bắt đầu, đảng viên Dân Chủ Miền Bắc như Stephen Douglas sợ cóng người. Họ đã nuông chiều chủ nghĩa nô lệ nhưng họ không dự tính chia cắt chính đất nước thành 2 phần. Vì vậy đảng Dân Chủ miền bắc lên án sự ly khai và cam kết trung thành với Lincoln. Nhưng nó là sự trung thành giả tạo; một thế lực mạnh mẽ của đảng Dân Chủ Rắn Độc đã làm việc không ngừng nghỉ để đào rỗng những triển vọng thắng trận của đảng Cộng Hòa.

Sự thật là đảng Dân Chủ Rắn Độc (Copperhead) muốn Lincoln thua trận. Họ muốn hòa bình với miền nam để duy trì chủ nghĩa nô lệ, nếu không phát triển thì ít nhất có thể bảo tồn. Khẩu hiệu của đảng Dân Chủ năm 1864 là giữ mọi thứ như trước chiến tranh. Nói cách khác, hãy tái lập liên bang nhưng để miền nam có chủ nghĩa nô lệ.

Những sự thật tàn nhẫn này cho thấy rõ ràng trong lần tái đắc cử của Lincoln, và thành công của quân đội Lincoln, điều cuối cùng đã đóng lại vận mệnh của chủ nghĩa nô lệ. Vì vậy chủ nghĩa nô lệ không phải được chấm dứt bởi “miền bắc” bởi vì miền bắc đã bị chia đôi bởi phe thân Lincoln và phe Dân Chủ Rắn Độc. Chủ nghĩa nô lệ thực ra bị chấm dứt bởi đảng Cộng Hòa.

Sau khi thua cuộc chiến, đảng Dân Chủ không thể tái lập chế độ nô lệ vì vậy họ chuyển sang chế độ tôi tớ. Họ thực hiện chế độ tôi tớ này thông qua một loạt đề án kinh tởm nhắm vào người da đen: luật Black Codes, sự kỳ thị, Jim Crow và chủ nghĩa khủng bố địa phương của Ku Klux Klan.

Đảng Cộng Hòa một lần nữa chiến đấu với kế hoạch tái thiết, tới mức độ phải có những thống đốc quân sự trên khắp miền nam để cản trở những nỗ lực của đảng Dân Chủ để đàn áp, tước quyền bỏ phiếu và sát hại người da đen. Các biện pháp của đảng Cộng Hòa rất mạnh tay tại vài thời điểm nhưng một sự mạnh tay nhất định là cần thiết để đối phó với sự cướp bóc và khai thác của đảng Dân Chủ.

Đảng Cộng Hòa không phải lúc nào cũng thắng. Họ đã không thể đảo ngược những bộ luật kỳ thị được thông qua bởi các cơ quan lập pháp Dân Chủ, ký bởi những thống đốc Dân Chủ, và chấp hành bởi cảnh sát trưởng và quan chức Dân Chủ. Dự luật chống treo cổ của đảng Cộng Hòa bị chặn đứng bởi một đảng viên Dân Chủ cấp tiến, Woodrow Wilson, và sau đó bởi thêm một đảng viên Dân Chủ cấp tiến nữa là Franklin Roosevelt. Cả 2 đều là đồng minh của những kẻ phân biệt chủng tộc tồi tệ nhất nước Mỹ.

Mặc dù biện pháp chống treo cổ của đảng Cộng Hòa đã bị thất bại, đảng này đã chặn đứng Klan chỉ sau vài năm thành lập, ít nhất là cho tới khi nó được hồi sinh lần nữa bởi đảng Dân Chủ vào đầu thế kỷ 20. Đảng Cộng Hòa cũng lãnh đạo cuộc cách mạng nhân quyền lần thứ nhất, mà kết quả là sự thông qua của Bộ Luật Về Quyền Dân Sự năm 1866, cũng như 3 Tu Chính Án nội chiến: tu chính án thứ 13, 14 và 15.

Đảng Dân Chủ xé bỏ những tu chính án này, biến chúng thành những con chữ vô nghĩa tại miền nam và ngăn chặn những người da đen và dân tộc thiểu số không thụ hưởng được các quyền của họ thêm 3 phần 4 thế kỷ nữa. Nhưng cuối cùng đảng Cộng Hòa đã thắng, mặc dù phải bỏ ra một cuộc cách mạng về quyền dân sự nữa, sau gần một thế kỷ, để thực sự chấp hành các tu chính án sau cuộc nội chiến.

Trớ trêu thay, đó chính là một tổng thống Dân Chủ, Lyndon Johnson, người đã đưa ra bộ luật về quyền dân sự, nhưng ông đưa ra nó với một động cơ chính trị thấp kém. Những đối thủ chủ yếu đến từ chính đảng của ông, không phải đảng Cộng Hòa. Thực ra, nếu không có áp lực từ đảng Cộng Hòa, và phiếu của đảng Cộng Hòa, LBJ sẽ không bao giờ có thể ký, và có lẽ cũng sẽ không muốn ký luật về Quyền Dân Sự năm 1964, luật về Quyền Bầu Cử và luật Công Bằng Về Chỗ Ở.

Trái với sự tuyên truyền của những nhà cấp tiến, đảng Dân Chủ gần như đã chứng minh không ngừng nghỉ rằng họ là đảng của sự cuồng tín trong khi đảng viên Cộng Hòa có những ghi chép kiên định về việc chống lại sự cuồng tín. Đảng dân chủ là đảng của sự thuần hóa và chiếm hữu trong khi đảng Cộng Hòa là đảng của quyền bình đẳng và các sân chơi bình đẳng. Từ chủ nghĩa nô lệ đến chủ nghĩa cấp tiến hiện đại, đảng Dân Chủ luôn ăn cắp thành quả lao động của người khác trong khi đảng Cộng Hòa đứng lên để mọi người được giữ lại thành quả họ làm ra và kiếm được.

Facebook Comments