Cẩm nang về chiến tranh Việt Nam – 2.17 Ngộ nhận về một cuộc chiến giới hạn

2.17 Ngộ nhận về một cuộc chiến giới hạn

Trong khi Mỹ tham gia một cuộc chiến bị giới hạn tại Việt Nam, Bắc Việt thì không. Vẫn còn những sai lầm ngớ ngẩn về mặt chiến lược được đưa ra bởi bộ trưởng bộ quốc phòng Robert McNamara và John F. Kenndy và Lyndon Johnson vì họ “quá giỏi quá thông minh.” Nó dựa trên thứ chúng ta có thể tạm gọi là triết lý tấm gương. Nếu chúng ta làm “thế này,” hẳn nhiên họ sẽ làm “thế kia,” vì những người lý trí sẽ phản ứng một cách lý trí.

Nhưng không một ai có chút hiểu biết về đảng CS ở Đông Dương lại có thể tưởng tượng rằng họ có thể chơi theo luật của một cuộc chiến giới hạn, hoặc họ có chút xíu ý định tuân thủ lâu dài những điều mà tổng thống Kennedy và Johnson nghĩ là hợp lý. Đối với Bắc Việt, những hạn chế mà Mỹ áp đặt lên họ chỉ làm tăng thêm những lợi thế cho nguyên nhân của cuộc cách mạng CS.

Sau thế Chiến Thứ II, các viện nghiên cứu dân sự, triết gia, nhà kinh tế và các nhà nghiên cứu xã hội học khác, phần lớn họ đều giới hạn hoặc không có trải nghiệm thực tế về chiến tranh hay chiến lược quân sự, tin rằng sự phát triển của vũ khí hạt nhân đã thay đổi bộ mặt chiến tranh. Dựa trên niềm tin đó họ nuôi dưỡng học thuyết về “chiến tranh giới hạn,” ý tưởng rằng Mỹ có thể phân bổ sức mạnh quân sự của họ, áp dụng chỉ một phần vừa đúng quân lực để thuyết phục đối thủ rời khỏi chiến trường hoặc bị hủy diệt.

Học thuyết chiến tranh giới hạn được áp dụng đầu tiên trong suốt cuộc chiến Triều Tiên, điều mà một số người cho là một thành công vì Mỹ đã đạt được mục tiêu là giới hạn sự hiếu chiến của CS mà không phải dựa vào sức mạnh của vũ khí nguyên tử hay mở rộng xung đột. Với nhiều người khác, cuộc chiến đó là một cuộc tập dượt hoàn toàn thất bại, và đặt ra một tiền lệ nguy hiểm về việc xuất quân với mục tiêu thấp hơn là chiến thắng.

Robert Osgood, trong bản cải tiến của ông về chiến tranh giới hạn, đã lưu ý rằng đặc điểm bản chất của lý thuyết chiến tranh giới hạn là “tiến triển từ từ” và lời cam kết “không dốc toàn bộ quân lực cho mục tiêu đánh bại về mặt quân sự của đối thủ; thay vào đó là sự điều phối binh lực một cách khéo léo dọc theo một tiến trình liên tục – từ ngoại giao, đến các cuộc khủng hoảng chiến tranh, rồi mới đến đụng độ vũ trang công khai – nhằm áp đặt hiệu quả mong muốn lên ý chí của kẻ thù.” Ông tiếp tục: “Học thuyết này đặt một nền móng logic mềm yếu cho sự khai sinh chủ nghĩa hiện thực tự do Mỹ, những người đã khám phá ra sứ mạng điều phối quyền lực sáng suốt nhân danh trật tự của thế giới.” Đó chỉ là một mô tả bốc mùi của tồn tại trong lớp học – không phải thực tế của chiến trường, không phải trải nghiệm thực tế của chiến tranh, và không phải là đời thực.

Quân đội tại Việt Nam, vài người đã được giáo dục tại các trường đại học trong khối Ivy League, có thể họ không biết về học thuyết “tiến triển từ từ”, nhưng họ đã nếm trải đau khổ, thất vọng và hậu quả của việc tham gia một cuộc “chiến tranh giới hạn”, và họ biết có điều gì đó đã sai. Một trong những trận đánh đẫm máu và tàn bạo nhất trong toàn cuộc chiến nổ ra vào năm 1969 – trận chiến đồi Hamburger. Lính Mỹ đã đánh lên tới đỉnh đồi, sau đó rút lui và để kẻ thù chiếm lại ngọn đồi. Các binh lính Mỹ giận dữ và thất vọng. Theo logic, dĩ nhiên, trong một cuộc chiến tiêu hao, điều hợp lý là xua đuổi kẻ thù trở lại vị trí dễ bị tấn công (mặc dù trong trường hợp này, vị trí của kẻ thù được gia cố cực kỳ chắc chắn) để có thể tiêu diệt nhiều binh lực hơn. Các ngụy biện trong cuộc tranh luận này cho rằng chiến tranh tiêu hao không phải là một chiến lược hữu hiệu để chiến đấu lại quân Bắc Việt. Sau 5 năm chiến đấu kéo dài, thậm chí một người lính Mỹ thất học cũng phải nhận ra điều đó.

Facebook Comments