Cẩm nang về chiến tranh Việt Nam – 2.15 Kết cục của Diệm

[nextpage title=”1″ ]

2.15 Kết cục của Diệm

Các cuộc xì xầm về đảo chính trong giới tướng lãnh Sài Gòn bắt đầu gia tăng. Diệm đã tồn tại qua 2 cuộc đảo chính, một lần năm 1960 và lần khác năm 1962, khi dinh thự của công bị đánh bom bởi các sĩ quan không quân nổi loạn. Một vài tướng lãnh ARVN bị thất sủng vì chiến dịch đàn áp của Nhu đối với các chiến binh phật tử. Điều làm họ lo lắng là phản ứng từ phía Mỹ. Vào lúc khủng hoảng phật giáo bắt đầu, phía Mỹ đã đe dọa sẽ cắt viện trợ cho miền nam Việt Nam. Các tướng lãnh ARVN biết Diệm không được ưa thích bởi bộ ngoại giao Mỹ. Họ biết báo chí Mỹ chống lại Diệm. Tất cả những thông tin này khuyến khích họ, trong mắt họ, âm mưu của họ đã được chứng minh.

David Halberstam đã báo cáo với tờ New York Times rằng Diệm vừa tàn bạo vừa đánh bóng mình như một biểu tượng chính trị ở miền nam Việt Nam. Theo Halberstam, 30 tu sĩ đã bị giết bởi chính quyền ở Huế. Điều này dẫn đến một công văn của đoàn thanh tra Liên Hợp Quốc. Khi đoàn thanh tra đến, 30 tu sĩ bỗng nhiên thành 4, và thật ngạc nhiên, 4 tu sĩ này đồng ý phỏng vấn với đoàn thanh tra của Liên Hợp Quốc.

Dù vậy, Halberstam tiếp tục tấn công Diệm. Tâm điểm của các “tin tức” là Diệm đã mất hầu hết sự ủng hộ của nhân dân, rằng ông “không còn là một biểu tượng chính trị quan trọng,” và “những người Việt Nam chủ chốt đã chờ đợi Washington từ lâu cho một tín hiệu, rằng họ đã chịu đựng gia đình họ Ngô đủ rồi.” Rõ ràng là có một số người trong chính quyền miền nam Việt Nam muốn phế truất Diệm. Nhưng cũng rõ ràng Halberstam có hứng thú trong việc tạo ra tin tức (sẽ ảnh hưởng đến chính sách của Mỹ) cũng như mong muốn báo cáo những tin tức đó, và hắn có những đôi tai sẵn lòng lắng nghe từ phe chống Diệm ở Washington.

Vào sáng thứ 7 sau cuộc tấn công vào những ngôi chùa (30 chùa trong số 5,000 chùa trong nước), 4 người đàn ông, Averell Harriman (phụ tá chính trị của nhà nước), Roger Hilsman (trợ lý thư ký nhà nước về các vấn đề Viễn Đông), George Ball (phụ tá nhà nước), và Michael Frorrestal (nhân viên cao cấp của hội đồng an ninh quốc gia), soạn thảo một bản ghi chép gửi tới đại sứ Lodge, thứ đã mở ra chương cuối trong nhiệm kỳ của Diệm, và vợ ông. Từ khóa của bức điện tín là: “Chính phủ Mỹ không thể dung thứ cho tình trạng quyền lực tập trung trong tay của Nhu. Diệm phải có cơ hội để bứt mình ra khỏi Nhu và vây cánh của hắn…Nếu như, bất chấp mọi nỗ lực, Diệm vẫn cố chấp và không hợp tác, chúng ta cần đối mặt với khả năng là Diệm không thể được giữ lại…” Các tướng lãnh Việt Nam sẽ được thông báo rằng hỗ trợ về kinh tế và quân sự là không thể trừ khi Nhu bị loại bỏ, và nếu Diệm từ chối, chính phủ Mỹ sẽ không tiếp tục hỗ trợ ông thêm nữa.

Kennedy bày tỏ sự đồng ý với bức điện tín, điển hình là sự chấp thuận trước của thư ký nhà nước Dean Rusk và bộ trưởng bộ quốc phòng Robert MacNamara. McNamara chưa bao giờ đọc bức điện tín. John McCone, trưởng cục tình báo quốc gia (CIA) cũng vậy. Tổng tham mưu trưởng Maxwell Taylor chỉ được đọc bản tóm tắt khi ông đang dùng bữa tại nhà hàng. Bức điện tín đã được gửi đi chiều hôm đó mà không có sự phê chuẩn của McNamara, McCone hay Taylor. Trong văn phòng tổng thống vào thứ 2, McCone, McNamara và tướng Taylor, tất cả họ đều ủng hộ Diệm, đã nổi giận. Trong quyển nhật ký riêng Kennedy đã thú nhận: “Bức điện tín đã được soạn thảo rất tệ. Đáng lẽ nó không bao giờ nên được gửi đi vào thứ 7. Tôi không nên đồng ý với nó mà không có hội nghị bàn tròn nơi McNamara và Taylor có thể trình bày quan điểm của họ.”

Trong cuộc họp với McCone, McNamara và Taylor, Kennedy đã để cơn giận của mình sôi lên (có lẽ bởi vì ông đột nhiên nhận ra mình có trách nhiệm cho một cuộc đảo chính mà ông không hoàn toàn cam kết). Ông chửi rủa vai trò mà Halberstam đảm nhiệm ở Việt Nam. Ông thậm chí còn nghi ngờ là bức điện đã được gợi ý bởi New York Times. “Halberstam thực ra đang chạy một chiến dịch chính trị.” Kennedy nói với McCone, McNamara và Taylor. “Hắn hoàn toàn không có chút khách quan, hắn làm tôi nhớ đến phóng viên Herbert Matthews của New York Times trong những ngày Castro. Điều cần thiết là chúng ta không thể cho phép sự thiếu kỷ luật của Halberstam ảnh hưởng đến các hành động của chúng ta.

Tuy nhiên, bức điện đã có hiệu lực ngay lập tức. Lodge chỉ đạo CIA liên lạc với các tướng lãnh ARVN. Lucien “Lou” Conein thuộc CIA, một tay kỳ cựu mang đầy màu sắc Việt Nam (hắn được thả xuống Việt Nam bởi OSS năm 1945 để chống Nhật và gửi đến Việt Nam lần nữa năm 1950 bởi CIA), trao đổi với tổng tư lệnh ARVN Trần Thiện Khiêm. Khiêm không hào hứng lắm với một cuộc đảo chính. Ông biết rằng Diệm và Nhu là không thể chia rẽ bởi vậy yêu cầu tống cổ Nhu hoặc khác nghĩa là “hoặc khác” – và trong trường hợp đó, ông không biết bất kỳ ai, dân sự hay quân sự, có thể thay thế vị trí của Diệm như một nhà lãnh đạo chính trị và cả đất nước. Dù vậy, Khiêm vẫn đồng ý sẽ nói chuyện với các tướng lãnh. Sau đó, ông thông báo rằng cuộc đảo chính sẽ diễn ra trong vòng 1 tuần.

Nhưng nó đã không xảy ra, các tướng lãnh lùi bước vì họ tin rằng phần lớn (chắc khoảng 2 so với 1) quân đội Sài Gòn và các khu vực lân cận vẫn trung thành với Diệm. Tuy nhiên, các động lực chính trị vẫn chống lại chế độ Diệm. Bức điện tín Lodge gửi Washington ngày 29 tháng 8 năm 1963 nói rõ: “Chúng tôi đã khởi đầu một giai đoạn không có cách nào quay lại: lật đổ chính quyền Diệm.”

[/nextpage]

[nextpage title=”2″ ]

Kennedy tiếp tục dao động suốt tháng sau đó, thường gửi những tín hiệu mâu thuẫn tới Lodge trong những ngày nối tiếp. Đầu tháng 9 ông đã gửi một đoàn điều tra khác tới Việt Nam, bao gồm tướng Victor Krulak (McNamara đề cử) và Joseph Mendenhall của bộ ngoại giao (lựa chọn của Harriman và Hilsman). Krulak đi khắp đất nước nói chuyện với hàng chục cố vấn người mỹ và quan chức miền nam Việt Nam. Kết luận của ông là: cuộc chiến đang tiến triển tốt và ARVN không có ý định loại trừ Diệm. Mendenhall dành thời gian ở 3 thành phố lớn của miền nam Việt Nam. Ông nói chuyện với các công chức, các cán bộ ngoại giao Mỹ và một số người khác. Kết luận của ông là: nếu Nhu tiếp tục nắm giữ quyền lực, miền nam Việt Nam sẽ bị cuốn vào một cuộc nội chiến tôn giáo, hoặc với VC.

Các báo cáo được gửi cho Kennedy và hội đồng an ninh quốc gia vào ngày 10 tháng 9 năm 1963. Đó là cuộc họp mà Kennedy đã châm biếm, “2 anh thực sự đã đến cùng 1 quốc gia, phải không?” Quyết định ưu tiên của Kennedy là do dự, nhưng trước áp lực liên tiếp từ Lodge, ông cuối cùng đã ra lệnh cắt giảm viện trợ cho chính quyền Diệm. Các tướng lãnh ARVN đã chú ý, và khoảng giữa tháng 10 kế hoạch đảo chính đã được bàn bạc lại. Các phóng viên chống Diệm thêm dầu vào lửa. Neil Sheehan (UPI) viết: “Cuộc chiến của chính phủ Diệm chống lại VC không thể thắng trừ khi chế độ Diệm được thay thế bởi một nhóm thiên về chủ nghĩa tự do hơn để có thể thắng được sự hỗ trợ của toàn thể dân chúng”19 (một tuyên ngôn của mưu đồ chính trị, không phải là sự thật theo tình huống, như Victor Krulak đã chứng tỏ). Stanley Karnow viết trên tờ Saturday Evening Post: “Bất kể Mỹ hỗ trợ nhiều bao nhiêu cho chế độ không được ưa thích của Ngô Đình Diệm, phần thắng của chế độ này trước chủ nghĩa CS gần như là con số 0”. Thực tế, chính quyền Diệm đã thắng tại thời điểm đó.

Quân đội và CIA tiếp tục ủng hộ Diệm, dẫn tới yêu cầu của Lodge rằng trưởng cục tình báo CIA tại Sài Gòn phải bị thay đổi. Giám đốc tình báo trung ương John McCone từ chối. Nhưng sau đó ông đã bị buộc phải ra tay khi các phóng viên chống Diệm “chỉ điểm” Richardson là người của CIA tại Sài Gòn. Sau đó, Richardson đã bị thuyên chuyển.

Kennedy rối tung lên, cố gắng tìm kiếm sự đồng thuận không hề tồn tại, và cố gắng kéo dài thời gian bằng cách cử McNamara và Taylor cho một nhiệm vụ “điều tra sự thật” nữa vào cuối tháng 9. Cuối cùng thì các tướng lãnh ARVN đã chịu đựng đủ – không phải Diệm, mà là áp lực từ Mỹ, đe dọa, cắt viện trợ. Các tướng lãnh hưởng ứng lời khẩn cầu của Lodge, và cuộc đảo chính được định ra vào đầu tháng 11. Với sự sụp đổ của chính quyền Diệm đã được định trước, Kennedy chỉ còn 2 mối lo. Một: kế hoạch sẽ không tiến triển nếu không có khả năng chiến thắng rất cao; Hai: Diệm và Nhu phải được đảm bảo an toàn. Chưa bao giờ có một lệnh thi hành hay sắc lệnh hoặc thậm chí một đề nghị chính thức nào thúc đẩy cuộc đảo chính. Vị thế của Mỹ bám vào điều lệ “không ngăn chặn 1 nỗ lực hợp pháp” để thay đổi chính quyền miền nam Việt Nam.

Những người ủng hộ Diệm tại Mỹ đánh cược lần cuối để cứu ông. Clare Booth Luce – một người Công Giáo cải đạo và chống CS, cựu nghị sĩ đảng cộng hòa từ Connecticut, cựu đại sứ Italy, và là một nhà văn nổi tiếng có chồng là Henry Luce sở hữu tạp chí Time – đã dành cả một trang trên New York Times để bảo vệ chính quyền Diệm. Tướng thủy quân lục chiến Victor Krulak, trong lúc đó, phân phát báo cáo của 8 thành viên đoàn đại biểu quốc hội. Sự thật cho thấy Diệm đã thắng cuộc chiến và không hề có kẻ thù khi ông đến để lãnh đạo chính trị; không có ai khả dĩ thay thế cho tổng thống hiện thời của miền nam Việt Nam (Đoàn đại biểu quốc hội cũng công khai lên án báo chí Mỹ đã “ngạo mạn, cảm tính, không khách quan và thiếu thông tin” khi viết về Việt Nam.)

Sáng ngày 1 tháng 11 năm 1963, cuộc đảo chính bắt đầu. Các tướng lãnh, với tướng Minh “Bự” làm lãnh đạo trên danh nghĩa của họ, đã được lên kế hoạch tốt, và cuộc đảo chính đã được thực hiện với kỹ năng làm xấu hổ ARVN tại Ấp Bắc. Tuy nhiên, Diệm và Nhu trốn thoát. Ẩn náu tại Chợ Lớn trong nhà của một thương gia giàu có. Diệm liên lạc với thủ lĩnh cuộc đảo chính đề nghị đầu hàng với điều kiện được đảm bảo an toàn. Ông không nhận được sự đảm bảo chắc chắn nào cả. Diệm và Nhu bị bắt khi ra khỏi một nhà thờ Công Giáo. Họ bị tống lên xe thiết giáp, tay bị trói sau lưng, và bị giết. Một tấm ảnh ghê rợn của 2 anh em bị giết đã được gửi đi toàn thế giới. Tại Washington DC, trong một bữa tiệc đứng với những người bạn, William Colby (người đã dừng lại để cầu nguyện cho anh em Diệm vào buổi sáng), đại sứ Nolting, và John Richardson lắc đầu buồn bã, tự hỏi vì sao chính quyền Kennedy lại có thể đồng ý cho một hành động tự thua cuộc: một hành động không chỉ lấy đi người lãnh đạo đáng tin duy nhất của miền nam Việt Nam, mà còn thành lập một tiền lệ cho những bất ổn chính trị vượt xa những cuộc biểu tình phật giáo.

[/nextpage]

Facebook Comments