Cẩm nang về chiến tranh Việt Nam – 2.1 Chương hai – Không phải là Camelot

2.1 Chương hai – Không phải là Camelot

Tổng thống mới của Mỹ vào năm 1961 là John F Kennedy – trẻ trung, mạnh mẽ, lôi cuốn đã cam kết sẽ đi bất cứ nơi đâu và dỡ bỏ bất cứ gánh nặng nào để hỗ trợ cho lý tưởng tự do. Tự vây quanh mình với những con người thông thái, tập kết những đồng minh và cảnh báo những kẻ thù. Và ông bị thách thức gần như ngay lập tức với sự kiện Vịnh Con Lợn – Một vụ bê bối dính líu đến CIA trong nỗ lực tấn công Cuba (Kennedy đã hủy lệnh không kích được lên lịch sẵn để vờ như Mỹ không liên can) và lật đổ Castro. Thất bại này thuyết phục giới CS rằng Kennedy nói thì ba hoa nhưng làm thì không ra gì.

Đoán xem?

  • Những bài hùng biện đầy giận dữ của tổng thống John F. Kennedy thường được tiếp nối bởi những quyết định thực tế hết sức mù mờ và thiếu quyết đoán.
  • Cam kết của Mỹ với Việt Nam ngay từ đầu là một thỏa thuận song phương – mặc dù tất cả tiến trình leo thang chiến tranh sau đó đều được thực hiện bởi đảng Dân Chủ.
  • Chính quyền Kennedy đã khuyến khích một cuộc đảo chính ở miền nam Việt Nam – điều vốn xóa sổ nền chính trị hiệu quả duy nhất mà đất nước này có.

Tháng 6, Kennedy đã đến tham dự hội nghị thượng đỉnh kéo dài 2 ngày với thủ lĩnh của liên bang Soviet, Nikita Khrushchev, một gã tự kiêu và hiếu chiến, một sự bắc cầu kỳ quái giữa việc cố tỏ ra đạo đức và tính thô lỗ của lính bộ binh Pillsbury, tính cách của gã vô sản thô tục này tương phản hoàn toàn với sự tao nhã quý tộc của Kennedy. Kennedy hy vọng thảo luận về vấn đề hạn chế vũ khí hạt nhân và sự độc lập của Lào. Cuộc họp đã không diễn ra theo hướng mà ngài tổng thống mong muốn. Ông khó mà nói được 2 từ liền nhau khi Khrushchev hét vào mặt ông với hàng đống tố cáo về chủ nghĩa tư bản và phương tây, rằng Michael Moore cũng như toàn nước Mỹ đều được điều hành bởi một vài doanh nhân giàu có giống như trong cáo trạng. Chủ nghĩa CS, như Khrushchev tuyên bố chính là làn sóng của tương lai, và những thành tựu về văn hóa cũng như kinh tế của nó sẽ sớm chôn vùi nước Mỹ. Giữa hàng tấn nước bọt, Khrushchev thậm chí vu khống Kenndy rằng nước Mỹ có ích lợi tại Lào, mặc dù sau cùng đã phải chấp nhận ý tưởng rằng Lào là một bên trung lập trong toàn bộ vụ căng thẳng Đông Dương – đặc biệt là như gã biết, hoặc đã chấp nhận, rằng tính trung lập này sẽ được kiểm soát bởi một bên (Mỹ/hoặc Nam Việt Nam) và không phải là bên của HCM. Hội nghị thượng đỉnh là một khởi đầu tốt lành cho những nhà lãnh đạo của thế giới tự do.

Sau hội nghị, Kennedy dừng chân ở London và gặp gỡ thủ tướng Anh Harold Macmillan. Trong lá thư gửi nữ hoàng, Macmillan đã cho biết ấn tượng của ông: “Tổng thống đã hoàn toàn bị choáng ngợp bởi sự tàn nhẫn và dã man của các giới chức Nga. Nó làm tôi gợi nhớ đến cách mà lãnh chúa Halifax hay Mr.Neville Chamberlain đã từng cố gắng trò chuyện với ông Hitler.”

Chỉ vài tuần trước khi Kennedy tuyên thệ trong lễ nhậm chức rằng “chúng ta sẽ trả bất cứ giá nào, chịu bất cứ trọng trách nào, đối mặt với bất kỳ khó khăn nào, trợ giúp bất kỳ một đồng minh nào để đảm bảo cho sự thành công và tồn tại của tự do,” Nikita Khrushchev đã tuyên bố rằng “Liên bang Soviet sẽ hỗ trợ các cuộc chiến giải phóng dân tộc”. Bài hùng biện của Khrushchev không thơ mộng hay truyền cảm hứng tốt như của Kennedy, nhưng điều đáng sợ là nó có thể có quyền lực ngầm cao hơn rất nhiều.

Với sự bắt nạt, hăm dọa và lừa gạt từ Liên Xô (dựng lại bức tường Berlin, gửi tên lửa hạt nhân đến Cuba rồi lại rút về, châm ngòi thổi gió cho ngọn lửa cho phong trào “giải phóng” của CS tại thế giới thứ ba, và đe dọa sẽ đánh bại mọi nỗ lực của Mỹ trên bất cứ mặt trận nào), Kennedy tìm kiếm một nơi để thể hiện quyết tâm của mình. Ông ta đã chọn Đông Nam Á.

Facebook Comments