Cẩm nang về chiến tranh Việt Nam – 1.7 Dân chơi và linh mục

[nextpage title=”1″ ]

1.7 Dân chơi và linh mục

Yếu tố quan trọng hơn nhiều so với SEATO là Ngô Đình Diệm. Không có nhân vật nào—không phải là HCM, không phải Lyndon Johnson—có tầm quan trọng ảnh hưởng đến kết quả của các sự kiện tại Việt Nam hơn Diệm. Ông cân bằng các nghịch lý cơ bản của chiến tranh: tiêu chuẩn Châu Á với tiêu chuẩn phương Tây; chủ nghĩa hiện thực với chủ nghĩa lý tưởng; diễn tập chính trị trừu tượng với thực tế đẫm máu. Những người Mỹ tại Việt Nam, những người cảm thấy thoải mái khi làm việc với người nước ngoài và văn hóa nước ngoài thường công nhận Diệm là người tổng thống tốt nhất chúng ta từng gặp. Nhưng có những người Mỹ tin rằng sự ủng hộ của chúng ta dành cho ông Diệm khiến ông hành động như một chính trị gia Mỹ (và ý kiến này bao gồm phần lớn là của Bộ Ngoại Giao), họ nghĩ rằng ông Diệm không phải là một người tốt và thậm chí cũng không phải là sự lựa chọn đúng đắn để trở thành “người đàn ông của chúng ta tại Việt Nam.”

Ông chính thức đương nhiệm vào năm 1954, khi Bảo Đại, vị vua trước đây (1926-1954) trao lại ngôi vị đứng đầu nhà nước Việt Nam phi CS, chọn Diệm để trở thành thủ tướng của ông. Bảo Đại đã được “chọn thảo” bởi Pháp vào năm 1948 để đại diện cho Việt Nam khi họ cần ai đó để “đàm phán.” Các vị vua trước đây rất yếu kém, nhu nhược, được biết đến giống như “dân chơi Hồng Kông,” và lựa chọn của ông được xem như một sự cố gắng thoát khỏi Pháp để duy trì quyền kiểm soát đất nước lúc bấy giờ hòng cấp lại độc lập cho đất nước. Tại Hội Nghị Geneva, Bảo Đại biết rằng ông không điều khiển được tình hình nên quay sang Diệm nhờ giúp đỡ.

Ông Diệm thuộc tầng lớp thượng lưu, được hưởng sự giáo dục dưới chế độ Pháp, ông đã từng làm việc cho các dịch vụ dân sự Pháp vào những năm 1920 và đầu năm 1930. Pháp khâm phục lòng tin chống CS mãnh liệt của ông và cách ông xử lý hiệu quả các nhiệm vụ của mình, vào năm 1933 ông làm bộ trưởng bộ nội vụ cho Bảo Đại, nhưng họ lại thấy lo sợ trước khao khát của ông về một cơ quan pháp luật Việt Nam. Chỉ sau ba tháng, Diệm từ chức, Bảo Đại được tin tưởng trở thành công cụ của Pháp. Từ đó về sau, Diệm cũng không hợp tác với thực dân Pháp hay những kẻ xâm lược Nhật Bản (mặc dù ông đã cổ vũ cho Nhật dẫn đầu cuộc đấu tranh dân tộc Việt Nam chống lại Pháp vào năm 1942, và vào năm 1945 được người nhật cân nhắc để bổ nhiệm trở thành thủ tướng).

Sau khi trở lại, Bảo Đại đã yêu cầu Diệm trở thành Thủ Tướng trên ba phương diện riêng, nhưng Diệm luôn từ chối, mãi đến năm 1954, khi đó ông chấp thuận, với điều kiện ông sẽ hoàn toàn kiểm soát về quân đội và tất cả các quyết định chính trị, Bảo Đại chỉ như một biểu tượng đứng đầu tượng trưng của đất nước. Bảo Đại dù miễn cưỡng, đã chấp nhận.

 

Bản tóm tắt niên đại ngắn, rất ngắn về chiến tranh Việt Nam

1954 — Việt Minh (CS/các nhà yêu nước) dẫn đầu bởi HCM đánh bại Pháp.

1955 — Việt Minh bắt đầu các cuộc tấn công khủng bố vào miền Nam Việt Nam của Tổng Thống Diệm (đã tạo nên cuộc hòa giải Geneva).

1961 — Tổng thống Kennedy dần dần tạo dựng nên sự có mặt của Mỹ tại miền Nam Việt Nam với các cố vấn và quân lực đặc nhiệm.

1965 — Tổng thống Johnson đưa Thủy Quân Lục Chiến đến Việt Nam, dần tạo nên lượng binh lính Mỹ và cuối cùng đạt đến con số 500,000.

1969 — Tổng thống Nixon bắt đầu rút quân Mỹ khỏi Việt Nam.

1973 — Toàn bộ lính chiến đấu Mỹ rút khỏi Việt Nam sau lệnh ngừng bắn.

1975 — Miền Bắc Việt Nam xâm lược và chiếm miền Nam Việt Nam.

[/nextpage]

[nextpage title=”2″ ]

Mặc dù việc ông được bổ nhiệm là do nhân dân, ít nhất là vào lúc đầu, cùng với thượng nghị sĩ Dân Chủ Mỹ Mile Mansfield và John F.Kennedy, người đã ủng hộ ông đầu tiên, ông Diệm chưa bao giờ có ý định điều hành theo những mệnh lệnh của nền dân chủ phương Tây. Diệm tin rằng lối dân phương Tây không phù hợp với một nước đã từng luôn bị thống trị bởi nền văn hóa chính trị độc tài. Tuy nhiên, có một sự phân biệt rõ ràng trong nhận thức của ông—và trong thực tế—giữa một chính phủ theo xu hướng Tây Âu bảo thủ, độc đoán và một chế độ CS độc tài. Một bên có tôn giáo, truyền thống, quan hệ kinh tế và sự tự do đại chúng; một bên chèn ép tôn giáo, truyền thống, và bất cứ hình thức tự do nào.

Diệm chính là lựa chọn hợp lí để dẫn dắt Việt Nam? Rõ ràng HCM cũng đã nghĩ như vậy. Ông đã đề cử Diệm một vị trí hợp lý trong chế độ riêng của mình. Diệm từ chối thậm chí không xem xét nó. Không chỉ có ông kiên quyết chống CS, một trong những anh em của ông đã bị giết chết (chôn sống) bởi Việt Minh. (Bản thân Diệm đã bị bắt giữ như tù binh dưới tay Việt Minh sau Thế Chiến Thứ II và thoát chết khỏi những âm mưu ám sát của CS.) Diệm gần như là lãnh đạo miền Nam Việt Nam duy nhất có cơ hội để dẫn dắt đất nước trong một thời kỳ cực kỳ khó khăn.

Trong bộ com-lê trắng phổ biến và mái tóc được chải chuốt kĩ càng, Diệm lúc đó trông như một “anh chàng chải chuốt,” nhưng thực tế ông lại có những thói quen gần giống như một tu sĩ, ngủ trên giường củi trong phủ tổng thống, và không kết hôn. (Ông từng tu nghiệp trong thời gian ngắn để trở thành linh mục và anh trai ông là một giám mục.) Báo chí đã khắc họa chân dung ông như một kẻ ngu dốt và bạo lực, Diệm lại nhu mì và luôn bình tĩnh, tự chủ. Ông là như vậy, tuy nhiên, rất đa nghi—không có gì ngạc nhiên bởi đó là điều bắt buộc trong cuộc sống chính trị—và ông không thích giao phó công việc. Em trai ông, Ngô Đình Nhu, là thân tín của ông, ông cứng nhắc, tình cảm, không khoan nhượng, ông có một người vợ rực rỡ, bà từng rất không được lòng mọi người. Nhu từng có vai trò như người giữ cửa, bạn tâm tình, và người bảo vệ cho Diệm. Dưới sức ép từ mọi phía, bạn bè và kẻ địch, buộc phải loại Nhu khỏi vị trí quyền lực trong chính phủ, Diệm đã kiên quyết bác bỏ trong vòng tám năm sau đó. Ông Nhu đã có lần nói với một nhà báo Mỹ: “Mỗi chính phủ cần phải có một người cứng rắn, người làm những việc không trong sạch và không được lòng mọi người. Ngay cả Eisenhower cũng đã từng có Sherman Adams [Chánh Văn Phòng của Eisenhower], ở một đất nước tiên tiến và thống nhất như Hoa Kỳ. Tại Việt Nam, nơi bạo lực và độc tố ở khắp nơi, tôi là người đảm nhiệm những việc phật lòng. Tôi là người bị phỉ báng, nhờ đó những người khác sẽ được dung thứ.”

Khi Diệm đặt chân vào chức Thủ Tướng vào năm 1954, ông đã được thừa kế một đất nước trong tình trạng hỗn loạn, phải nói là rất yếu kém, thực sự là một “mớ hỗn độn của sự xung đột giữa các bè phái và các phe phái tôn giáo, một bộ  máy chính phủ vô tích sự và gần như không hiện hữu, và một lực lượng cảnh sát và quân đội lố bịch,” như Phillip Davidson đã đánh giá. Người Pháp, những người hiện vẫn sống tại miền Nam Việt Nam năm 1954, căm ghét Diệm, Việt Minh thù hận ông, chính phủ phía Bắc Việt Nam xem thường ông, các giáo sĩ của các giáo phái miền Nam Việt Nam (và nhà bán quân sự)—như Cao Đài và Hòa Hảo—đã không đứng về phía ông, các tay cướp biển Bình Xuyên và các găng tơ (những người trở thành đồng minh của CS) chiến đấu chống lại ông, các Phật tử phẫn nộ với ông, và quân đội không trung thành với ông. Những người trung kiên ủng hộ ông chỉ có người Công Giáo tại Việt Nam. Ít nhà lãnh đạo trong lịch sử lên nắm quyền một cách ôn hòa cùng với sự chống đối chồng chất lên người họ; và tuy ông từng không được dân chúng yêu mến (ông đã không nghĩ sự yêu mến cần thiết để lãnh đạo một đất nước tại Châu Á) thì ông là nhà lãnh đạo kinh nghiệm nhất, được tôn trọng nhất, và phù hợp nhất mà miền Nam Việt Nam từng có.

[/nextpage]

[nextpage title=”3″ ]

Tổng thống Eisenhower và bộ trưởng bộ ngoại giao, John Foster Dulles (người đã từng gặp Diệm và yêu thích ông), đã quyết định hỗ trợ cho thủ tướng miền Nam Việt Nam, và bằng việc làm đó họ có được sự ủng hộ rộng rãi của lưỡng đảng. Eisenhower yêu cầu CIA, Bộ Quốc Phòng, và Bộ Ngoại Giao thiết lập chương trình để tăng cường quân đội cho miền Nam Việt Nam, đồng thời Mỹ cam kết về một chương trình viện trợ kinh tế lớn cho Việt Nam. Mỹ có lòng tin rằng nếu người dân Miền Nam Việt Nam được hưởng sự giàu có, khả năng họ tham gia vào CS sẽ ít đi, và ngược lại, sự thịnh vượng của miền Nam Việt Nam sẽ khuyến khích dân Bắc Việt gia nhập thế giới tư bản.

Diệm bắt đầu xây dựng chính quyền theo đa số các nhà lãnh đạo Thế Giới Thứ Ba đã và đang làm—bằng việc mua chuộc, gia đình trị, thiên vị và đôi khi có phần tàn bạo. Mặc dù phương cách của ông ít khắc nghiệt hơn nhiều so với những người theo chủ nghĩa Stalin HCM—người ủng hộ CS Liên Xô và Trung Quốc, họ dùng bất kỳ và tất cả phương pháp để đạt được một nhà nước CS—Diệm được đánh giá ở một mức độ cao hơn bởi người Pháp, Mỹ, báo chí và giới tri thức Sài Gòn. Diệm cố gắng củng cố vị trí của mình bằng việc sử dụng sự trợ giúp của Mỹ để tạo nên một quân đội trung thành với ông; thật đáng tiếc, sự hào phóng trong việc dùng viện trợ từ nước ngoài của ông lại tạo nên một quân đội trung thành với các tay lãnh đạo tham nhũng, yếu kém, đồi bại, và thiếu dũng cảm hay kỷ luật để chiến đấu.

Vấn để lúc ban đầu của Diệm là với người Pháp, những người xem ông như một kẻ phản bội Đông Dương Pháp thuộc. Về phần Diệm, ông chỉ trích người Pháp đã để Bắc Việt Nam rơi vào tay CS tại Geneva. Pháp muốn người Việt ủng hộ mình bao gồm cả chính phủ của Diệm. Diệm không chỉ làm ngơ với ý kiến của Pháp mà còn với những người ủng hộ hành động chuộc lỗi của Pháp nắm vị trí quyền lực.

Trong một cuộc phỏng vấn năm 1981, William Colby, người chịu trách nhiệm các hoạt động của CIA tại Đông Nam Á trong nhiều cuộc chiến, và là Tổng Tình Báo Trung Ương từ tháng chín năm 1973 đến tháng một năm 1976, chú thích rằng, “Mấu chốt của Việt Nam là Pháp đã ủng hộ nhiệt tình các đối thủ của Diệm trong cuộc tranh đấu giành quyền lực vào giữa những năm năm mươi. Và ông đã đánh bại họ. Họ đã ủng hộ vị tướng quân đội đầu tiên, và bước kế tiếp của Diệm là sa thải ông, việc đó đã tạo nên chấn động vào thời điểm đó. Nhưng một khi ông nắm giữ được quân đội và có người đứng đầu quân đội của riêng mình, ông sẽ tiến đến bước tiếp theo là chống lại cảnh sát. Khi ông kiểm soát được những thứ đó, ông sẽ quay sang chống lại các bè phái khác nhau, Pháp dĩ nhiên đã kết hợp các quy trình này với nhau, trong nhiều năm. Đó là kỹ thuật của họ để điều hành thuộc địa Việt Nam…..đó là kiểu liên hệ thường thấy với tất cả các lực lượng khác nhau trong ván cờ, và nước Việt Nam sẽ không thống nhất vì điều đó sẽ gây mất kiểm soát. Vậy nên Diệm đã đúng khi nghi ngờ Pháp.”

Thật vậy vào tháng 11 năm 1954, chỉ ba tháng sau khi Diệm nhậm chức, Tướng Nguyễn Văn Hinh, chỉ huy của quân đội Bảo Đại (một trong ba nhà tu hành lớn/bán quân sự hoạt động tại Sài Gòn), bắt đầu bàn bạc một cách công khai việc thay thế Diệm với Hoàng Tử Bửu Hội. Pháp ủng hộ ý tưởng đó. Nhưng Mỹ âm thầm chống lại, và Eisenhower đã cảnh báo Tướng Hinh rằng sự bảo trợ của Mỹ sẽ chấm dứt nếu xảy ra cuộc đảo chính chống Diệm. Âm mưu bị lật đổ, và Bảo Đại đã đày Hinh đến Paris. Từ đây nổ ra gần hàng chục cuộc diễu hành dài của các sĩ quan quân đội, quan chức chính phủ và lãnh đạo dân sự trước đại sứ quán Mỹ, đòi hỏi, tha thiết, đề nghị, van xin, và đề xuất các cuộc đảo chính chống Diệm. Những điều đó gây hệ trọng buộc Washington đưa ra đáp trả tương tự—viện trợ sẽ chấm dứt nếu Diệm xuống chức.

[/nextpage]

Facebook Comments