Cẩm nang về chiến tranh Việt Nam – 1.3 Đừng bao giờ tin vào một đầu bếp làm bánh

[nextpage title=”1″ ]

1.3 Đừng bao giờ tin vào một đầu bếp làm bánh

HCM (1890-1969, tên khai sinh là Nguyễn Sinh Cung), sinh ra tại làng Kim Liên, miền trung Việt Nam, con trai của một giáo viên trung học Pháp, ông đi theo chủ nghĩa CS khi sống ở Anh (nơi ông được đào tạo thành một đầu bếp bánh bởi Escoffier) và tại Pháp (1915-1923). Sau đó ông thành lập đảng CS Đông Dương và dành một khoảng thời gian sống tại Moscow. HCM là tên được mọi người biết đến. Nó có nghĩa “Hồ, người khai sáng,” hoặc cách nói lóng địa phương, “ông là người trục lợi từ những tên ngốc ngông cuồng.”

Sự hỗ trợ kinh tế của Mỹ đã tăng vọt bởi các sự kiện bên ngoài của Đông Dương Pháp, nổi bật trong số đó là Trung Hoa Đại Lục rơi vào tay CS vào năm 1949 và cuộc xâm lược của CS Bắc Triều Tiên với Nam Triều Tiên năm 1950. Cả hai đều là những tiến triển gây choáng váng đối với chính sách đối ngoại Mỹ. Mỹ trước giờ luôn về phe Trung Quốc (một phần bởi vì sự hiện diện của các nhà truyền giáo người Mỹ tại đây), và thật bất ngờ khi đất nước khổng lồ này lại rơi vào tay trong cuộc cách mạng CS. Cuộc xâm lược của CS Bắc Hàn—một phần của thế giới ít người Mỹ được biết đến—chỉ làm tăng thêm gấp bội tính hung hãn các mối đe dọa của CS, và cuộc xâm lược này bị đe dọa bởi “hành động giữ vững hòa bình” của Liên Hiệp Quốc do Mỹ dẫn đầu (hay còn gọi là chiến tranh Triều Tiên) để cứu Nam Hàn và khôi phục lại biên giới của nước này. Du kích CS cũng đã xuất hiện ở Philippines, phiến quân của Mao Trạch Đông có mặt ở Indonessia, và một cuộc nổi dậy của CS tại Malaysia đã nổ ra. Pháp lúc này được xem như cột chống—dù không phải là một cột chống vững chắc—để chống lại sự tấn công của CS đang tràn lan ở Châu Á.

Cột chống đó bị đập tan khi Pháp lên kế hoạch tấn công CS theo đường lối chiến thuật truyền thống cố định. Pháp nghĩ rằng trong trận chiến này họ có thể giáng một đòn tử xuống CS. Cũng là đòn tử, tuy nhiên, lại là với Pháp.

Pháp chọn chiến trường là một thung lũng tây bắc Việt Nam gần ngôi làng Điện Biên Phủ. Pháp bắt đầu đưa quân vào thung lũng Điện Biên Phủ vào tháng 11 năm 1953. Cuộc chiến quyết định đã diễn ra vài tháng sau đó kể từ ngày 13 tháng 3 đến ngày 7 tháng 5. Pháp nhận thấy họ đã mắc bẫy khi tập trung quân lính tại thung lũng. Họ đã xây dựng và tạo nên một bãi tiếp tế. Mục đích là để nhử Việt Minh tràn xuống từ các đồi rậm sum xuê bao bọc xung quanh, rồi sau đó tiêu diệt chúng bằng siêu hỏa lực của Pháp.

Đây là một tính toán sai lầm với nhiều xác suất đau thương, vì Việt Minh đã không đổ bộ xuống từ những ngọn đồi—ít nhất cũng không phải trước khi họ ném pháo binh một cách quyết liệt vào Pháp. Việt Minh đã kéo hàng trăm khẩu pháo qua rừng rậm và đặt chúng sau những ngọn đồi, khuất tầm nhìn và ngoài phạm vi của Pháp, lúc này đang nghĩ bọn họ đã bao vây quân địch, đông quân hơn và sẽ tiêu diệt toàn diện. Một vài máy bay thả bom của Pháp đã không thể đánh lại các khẩu súng của Việt Minh.

Đối với Pháp, tình hình tại Điện Biên Phủ trở nên tuyệt vọng. Lượng lính nhảy dù Pháp đã được đưa vào làm quân thay thế, họ biết rằng họ gần như phải đối mặt với cái chết. Đường băng được coi là huyết mạch của Pháp, liên tục bị nả đạn và không một máy bay nào có thể hạ cánh xuống được. Thay vào đó các máy bay phải xà thấp xuống và thả các thùng viện trợ tiếp tế—nhiều cái rớt xuống tay kẻ địch. Một trong những chuyến bay cuối cùng đến Điện Biên Phủ được điều khiển bởi huyền thoại CIA James “Earthquake McGoon” McGovern—một phi công nặng 260 pound, người đã có các chuyến bay với đội Fying Tigers ở Thế Chiến Thứ II và sau đó được tuyển dụng vào “Vận Tải Hàng Không Dân Dụng” (CAT, hàng phòng thủ cho các trận đánh của CIA). Ông đã tham gia các chuyến bay hỗ trợ nhiệm vụ cho Tưởng Giới Thạch sau Thế Chiến Thứ II, và sau đó được giao nhiệm vụ ở Đông Dương. Là một người lập dị và là một anh hùng thực sự, máy bay C-119 của ông đã bị bắn rơi khỏi bầu trời trong khi cố thả một khẩu pháo binh cho Pháp. Anh là bộ đàm chính giữ vai trò liên lạc đến các phi công và lính Pháp, “Ôi trời, nhóc à, coi như đây là kết cuộc rồi,” trước khi máy bay bị rớt xuống đất và nổ tung trong lửa khói. McGoven và phi công chiến đấu cùng anh Wallace Buford là hai người Mỹ đầu tiên chết trong trận chiến tại Việt Nam. Vào năm 2005, chính phủ Pháp trao huy chương Legion of Honor cho McGovern và sáu phi công khác, với cấp bậc Kị Sĩ vì những gì họ đã cống hiến trong quân đội Pháp tại Điện Biên Phủ.

[/nextpage]

[nextpage title=”2″ ]

Khi Pháp bị đánh bại, Tổng Thống Mỹ Dwight Eisenhower đã viết một lá thư dài về tình hình ở Đông Dương đến Thủ Tướng Anh Winston Churchill. Đó được coi là báo cáo đầu tiên đầy đủ và rõ ràng về lí do vì sao Mỹ tham gia vào Việt Nam.

Ngài Winston thân mến:

Tôi chắc rằng cũng giống như tôi, ngài đang theo dõi các báo cáo hàng ngày về cuộc trận chiến đang được chiến đấu bởi người Pháp tại Điện Biên Phủ cùng với sự quan ngại và lo lắng. Hiện nay, tình hình vẫn chưa phải là hết hy vọng.

Nhưng không bàn đến kết quả của trận chiến đặc biệt này, tôi sợ rằng Pháp không thể một mình đối phó được, mặc dù chúng ta đang hỗ trợ cho họ lượng tiền bạc và vật chất rất lớn. Không có giải pháp đơn giản nào để thúc đẩy Pháp tăng cường nỗ lực của họ, nếu họ không thể sáng suốt, và Đông Dương rơi vào tay CS, ảnh hưởng sau này đến vị trí chiến lược toàn cầu của tôi và ngài với hệ quả là sự chuyển đổi về tỷ lệ sức mạnh trên khắp Châu Á và Thái Bình Dương có thể là một thảm họa, tôi biết, điều đó thật khó chấp nhận cho ngài và tôi. Làm thế nào để Thái Lan, Miến Điện và Indonesia có thể được sự an toàn khỏi tay CS. Chúng ta không có khả năng làm gì. Mối đe dọa sẽ tiếp diễn với Malaya, Úc và New Zealand. Các chuỗi hòn đảo ngoài khơi sẽ bị chiếm đóng. Các áp lực kinh tế lên Nhật Bản đã biến mất bởi thị trường phi CS sẽ lập lại trong một khoảng thời gian, cũng như nguồn thức ăn và nguyên liệu tươi cũng sẽ mất đi, khó có thể thấy Nhật Bản có thể chống lại việc hòa nhập với thế giới CS nơi sẽ kết hợp các nguồn nhân lực và tài nguyên thiên nhiên của Châu Á với tiềm năng công nghiệp Nhật Bản. Điều này dẫn chúng ta đến quyết định khó khăn rằng tình  hình Đông Nam Á cần chúng ta, phải khẩn trương đưa ra quyết định nghiêm túc và tiếp cận từ xa.

Geneva [hội nghị Geneva để giải quyết tương lai của Việt Nam] sẽ diễn ra cách đây bốn tuần nữa. Có thể CS đang muốn đâm thủng ý chí của chúng ta, khiến chúng ta đặt sự lo lắng vào Pháp, hơn là vào Berlin. Tôi có thể hiểu được điều mong muốn tự nhiên của Pháp trong việc tìm kiếm một dấu chấm hết cho cuộc chiến làm họ tổn thất trong tám năm. Nhưng mọi nỗ lực tìm kiếm của chúng tôi đã đi vào bế tắc buộc chúng tôi kết luận rằng không có giải pháp đàm phán về vấn đề Đông Dương, về bản chất không có phương sách để kéo dài sự đầu hàng của Pháp cũng không có giải pháp cứu vãn để khống chế sự áng binh của CS. Lựa chọn đầu tiên rất quan trọng trong các vấn đề liên quan đến chiến lược tầm xa đối với chúng ta và ngài có thể sẽ chấp nhận. Ngoài các hệ quả trong khu vực Đông Nam Á, nơi ngài và Khối Thịnh Vượng có được những lợi ích trực tiếp và quan trọng, hậu quả nghiêm trọng nhất sẽ là ở Bắc Phi, Châu Âu và các nơi khác. Đây sẽ là nguồn gốc gây nên một sự mất mát rộng lớn bởi việc tín nhiệm vào hệ thống hợp tác xã. Tôi nghĩ sẽ không phải là nói quá nếu như nói Pháp là cường quốc bị đòn chí tử. Có thể Pháp sẽ không bao giờ trở lại thành cường quốc nữa, sẽ rất khó để chúng ta đương đầu với việc đó.

Bằng mọi cách chúng ta cần phải dự tính đến phương kế thứ hai. Một số ý sơ bộ đã được tóm tắt bởi Foster [Ngoại Trưởng John Foster Dulles] trong bài phát biểu của ông vào đêm thứ hai vừa rồi, ông nói rằng với tình hình việc lấn áp của hệ thống chính trị CS của Nga và CS đồng minh Trung Quốc lên Đông Nam Á hiện nay, dưới bất cứ hình thức nào, sẽ là một mối đe dọa nghiêm trọng đối với sự tự do của toàn thể dân chúng, và theo quan điểm của chúng tôi khả năng xảy ra việc này hiện tại cần phải bị ngăn chặn bởi hành động của liên minh, không thể chấp nhận một cách bị động. Ông cũng đã tường thuật tường tận với [đại sứ Anh tại Mỹ] Roger Makins.

Tôi tin rằng cách tốt nhất để can thiệp vào việc này là đem lại nguồn lực tinh thần và vật chất lớn hơn để hỗ trợ cho những nỗ lực của Pháp bằng việc thành lập một đội mới, đặc biệt hoặc liên minh gồm các quốc gia đang quan ngại sâu sắc về việc khống chế sự bành trướng của CS trong khu vực. Tôi nghĩ ngoài hai nước chúng ta còn có Pháp, các quốc gia liên đới [Việt Nam, Lào, Campuchia], Úc, New Zealand, Thái Lan và Philippine. Chính phủ Mỹ chờ đợi để tham gia vào một liên minh đầy đủ như vậy. Liên minh của chúng ta sẽ không hướng về CS Trung Quốc. Nhưng nếu, trái với những gì chúng ta tin tưởng, những nỗ lực của chúng ta để cứu Đông Dương và vị trí khối thịnh vượng của vương quốc Anh đối với miền Nam bằng cách nào đi nữa có thể  tăng nguy hiểm cho Hồng Kông, chúng tôi mong đợi kết hợp với ngài tại đó. Giả sử Liên Hiệp Quốc được một số quốc gia chấp thuận, nhưng tôi vẫn không tự tin rằng, đưa ra lời phủ quyết với Liên Xô, có thể có hiệu lực nhanh chóng và mạnh mẽ như ý chúng ta.

Tôi sẽ không cân nhắc vai trò nào cho Formosa hoặc Hàn Quốc trong quá trình thành lập liên minh này.

Điều quan trọng là liên minh phải mạnh mẽ và nó phải sẵn sàng cho cuộc chiến khi cần thiết. Tôi không tính được số lượng lục quân đáng kể cần thiết ở phía ngài hay phía tôi. Nhưng nếu các thành viên của liên minh hoàn toàn kiên quyết, liên minh có thể làm rõ với CS Trung Quốc rằng việc tiếp tục hỗ trợ vật chất cho Việt Minh chắc chắn sẽ dẫn đến việc các lực lượng quân đội chống lại họ càng mạnh thêm.

Những đồng nghiệp của tôi và tôi nhận thức rõ về những rủi ro kéo theo của đề xuất này nhưng trong tình trạng mà chúng ta đối mặt hiện nay, không có cách giải quyết nào không có nguy hiểm dù là hành động hay không hành động, và tôi biết không ai có thể đương đầu khó khăn kiên quyết hơn ngài. Nếu chúng ta cùng nhau hợp sức tôi tin chúng ta sẽ tăng nhiều cơ hội giúp người Trung Quốc tin rằng những lợi ích của họ là dối trá thông qua các lời tuyên truyền dưới sự cai quản chặt chẽ. Bằng cách đó chúng ta có thể tiến tới hội nghị Geneva với quan điểm về một thế giới không chỉ hoàn toàn tự do mà còn vững mạnh.

Hiện nay chúng ta đang đối mặt với tình hình khó khăn của một thảm họa được báo trước bởi sự yếu kém của Pháp và việc cần thiết là phải đối phó với nó trước khi tình hình tệ thêm. Điều này có nghĩa cần bàn bạc trực tiếp với Pháp. Trong những cách tương thích với tình hình này mà ngài đã mô tả một cách xuất sắc trong chương thứ hai của diễn văn  “Giờ khắc cuối của họ,” (“Their Finest Hour”) lịch sử đã làm rõ rằng chiến lược của Pháp và các kế hoạch trước bước đột phá năm 1940 đã bị thách thức trước đòn đốn ngã này.

Tôi thấy tiếc vì làm tăng rắc rối cho ngài. Nhưng thực tế không phải do tôi, mà là do kẻ thù của chúng ta. Tôi có lòng tin rằng nhờ hành động của tình bạn hữu trong việc đối mặt với hiểm họa chúng ta sẽ có được sức mạnh tinh thần, điều này sẽ giúp chúng ta chống lại việc rơi vào hoàn cảnh ngờ vực nhau.

Nếu tôi có thể xem lại lịch sử, thì chúng ta đã thất bại trong việc ngăn chặn Hirohito, Mussolini và Hitler là vì không có hành động hiệp nhất vào thời gian đó. Điều đó đã tạo nên mở đầu cho bi kịch ảm đạm và hiểm họa ghê gớm nhiều năm sau đó. Hai quốc gia chúng ta còn không học được điều gì từ bài học đó sao?

Thế nên tôi tin tưởng tuyệt đối rằng hiệu quả của yếu tố liên minh chính là điều đánh cược mà tôi đã chuẩn bị để gửi cho Foster hay [Ngoại trưởng Walter] Bedell [Smith] đến viếng thăm ngài trong tuần này, vào một ngày gần nhất thuận tiện với ngài. Sẽ có người dành một ngày tại Paris để tránh sự nổi giận của Pháp, tạo vỏ bọc chuẩn bị cho Geneva.

Eisenhower

[/nextpage]

Facebook Comments