Việt kiều trẻ: một thế hệ mới khám phá Việt Nam

Việt kiều trẻ: một thế hệ mới khám phá Việt Nam

 

“Viet Kieu,” người hàng xóm tại thành phố HCM của tôi thốt lên, miệng anh gọi như vậy với một sự chán ghét, “đơn giản là không có gì tốt”. Anh không nói thêm, nhưng chỉ lắc đầu như tôi sẽ không bao giờ hiểu tại sao như vậy.

Cảm nghĩ của anh chính là những gì ít được nghe đến kể từ khi nền kinh tế Việt Nam bắt đầu bùng nổ, nhưng vẫn còn lại đấy làn sóng ngầm của sự oán hận không nhìn thấy được đối với hàng triệu người Việt Nam, những người vì sự lựa chọn hay vì hoàn cảnh phải định cư ở ngước ngoài. Một thế hệ Việt kiều mới, tuy nhiên, đang đổ về nền kinh tế thị trường mới nổi hiện nay và đang làm mọi thứ để đảo ngược hình ảnh tiêu cực đó.

Không giống như hình ảnh “người Mỹ xấu xí” thường được gắn liền với những vị khách người Mỹ đến Paris, những câu chuyện về người Việt Kiều gian xảo đã được thêu dệt như truyện cổ tích nhân gian kể từ khi đất nước chịu mở cửa với thế giới gần hai mươi thập kỉ trước. Những câu chuyện đó thường bắt đầu với một người đàn ông Mỹ gốc Việt trung niên mập mạp đi bằng máy bay, mặc đồ diêm dúa và khoe khoang tài sản kếch xù của mình với những người khác đang ghen tị. Ông ấy trở về, chúng tôi được kể lại rằng, để cưới một cô gái trẻ còn trinh rồi đem cô ta qua với công việc làm móng hoặc spa ở Nam California…ông không nói được một từ nào đúng với tiếng mẹ đẻ, nhưng tiền của ông vẫn có tiếng nói tại Sài Gòn, và thay vì thăm hỏi họ hàng, ông Viêt Kiều này tự mướn cho mình một phòng kiểu Las Vegas tại khách sạn hạng sang Rex, với dịch vụ mát xa đặc biệt, những bữa tối xa xỉ và các chai rượu hảo hạng để rồi đi không vững qua những người ăn xin đang nhìn ông trên lề đường với câu hỏi tại sao ông lại là người được may mắn thay vì họ.

Có một chút sự thật nào trong bức tranh này không? Có lẽ có. Nhưng ngay cả những người dân địa phương không có người thân ở nước ngoài gửi tiền về cũng nhận ra rằng thế hệ Việt Kiều thứ hai khá khác biệt.

Trong vòng hai năm sống ở Sài Gòn, tôi đã được dịp nói chuyện với hàng trăm Việt Kiều: đến từ khắp nơi trên thế giới. Mười trong số những người có cùng thế hệ với tôi đồng ý kể chi tiết về những trải nghiệm của việc quay về sống tại Việt Nam có những khác biệt lớn thế nào so với các quốc gia hòa bình mà cha mẹ họ đã bỏ đi hơn 30 năm trước. Thay vì tóm tắt quan điểm của họ một cách ngắn gọn, tôi đã quyết định để họ tự kể câu chuyện của mình, bằng lời kể của họ.

Laurence Nguyen, người trẻ tuổi nhất nhóm, 23 tuổi, sinh ra tại Montreal và chỉ mới đến Sài Gòn độ hơn 1 năm trước. Sau một thời gian làm việc tại Phòng Thương Mại Canada, cô hiện giờ là một nhân viên chăm sóc khách hàng cho công ty luật Fraser.

Christine Van 27 tuổi sinh ra ở Huế nhưng lớn lên tại Brooklyn, New Work. Cô quay về lại quê hương mình vào năm 2004 để tìm hiểu nguồn gốc Việt Nam, sau khi thấy được sự đồng hóa của bản thân với nước Mỹ. Giờ đây cô sống chung với cô, chú và anh chị em họ tại thành phố HCM quận 3, và làm tổng quản lí tại một nhà hàng mới mở từ tháng bảy có tên là Hideaway Cafe.

Dao Xuan Loc, 35 tuổi, là một quản lí phát triển phần mềm, sinh ra và lớn lên tại Paris, đã và đang sống tại Sài Gòn hai năm. Anh sống một mình nhưng thường xuyên gặp họ hàng mỗi ngày.

Nguyen Trung Hoang, một nhà làm phim 42 tuổi, rời Việt Nam năm 18 tuổi và trở về lại quê hương vào tháng giêng năm 2005 sau khi trải qua hơn nửa cuộc đời tại Pháp và Mỹ. Giờ đây anh được biết đến là Ouater Sand, gần đây anh vừa đám cưới với một cô gái tại địa phương (dì của cô ở Mỹ đã giới thiệu cô với anh), anh đem vợ quay lại San Francisco, là nơi anh sở hữu một nhà hàng. Anh là người duy nhất có gia đình trong nhóm mười người này.

Linda Pham, 27, rời nơi cô sinh ra là Melbourne để đến Sài Gòn, quê hương cha cô, hòng tìm kiếm kinh nghiệm trong ngành quảng cáo. Hiện giờ cô là một giám đốc nghệ thuật tại Saatchi and Saatchi. Linda (tên Việt Nam của cô là Hiền, nghĩa là dịu dàng và đức hạnh) là một trong số ít thành viên của nhóm sử dụng ngôn ngữ một cách thành thạo, có vẻ như cô đã thấy được sự thú vị trong việc cân bằng giữa giá trị Đông Âu và Tây Âu.

Năm 1975 Landon Carnie đã được nhận làm con nuôi khi còn là một đứa bé chập chững bởi cha mẹ người Mỹ nhờ một phần của “Chiến dịch Babylift,” chiến dịch này đã đưa gần 3,000 trẻ em mồ côi Việt Nam ra khỏi đất nước đến với các gia đình khác nhau trên khắp Thế Giới. Hiện nay anh 32 tuổi và đang giảng dạy tại một trường đại học quốc tế ở thành phố HCM, anh vừa trở về sau chuyến du lịch xuyên Trung Quốc, Mông Cổ và Nga trên tuyến đường sắt Siberian. Anh nói, bài học giá trị anh từng học được tại Việt Nam là la lối chẳng bao giờ giúp ích gì cho bạn.

Voughn Nguyen, 33 tuổi, giám đốc Maketing của tập đoàn Norfolk (bất động sản), lớn lên cùng với những giá trị truyền thống của Việt Nam tại Canberra, Úc, mặc dù cha mẹ cô rời đất nước khi còn là những đứa trẻ để đến Lào. Hiện nay cô là một nữ doanh nhân bận rộn, cô đang yên ổn tại Sài Gòn dù cô có thể có tương lai sáng lạng tại nơi khác.

Quoc Doan 29 tuổi mới vừa trở về San Jose sau ba năm rưỡi sinh sống tại Sài Gòn, tại đây anh đã nắm giữ nhiều chức vụ sáng tạo khác nhau, gần đây nhất là vai trò giám đốc nghệ thuật cho hãng McCann Erickson. Mặc dù anh nhớ cuộc sống ở Việt Nam, nhưng anh công nhận nó chỉ tốt nếu không có tình trạng giao thông và ô nhiễm.

Bạn chung phòng trước đây của Quoc, Tho Vu, người cũng đến từ Pháp, cũng đã quay về nhà mùa thu này sau khi dành một năm dạy nói tiếng Pháp cho học sinh tiểu học tại thành phố HCM ở khu vực ngoại ô mở rộng Phú Mỹ Hưng. Anh chàng 30 tuổi này đã tận hưởng khoảng thời gian của mình tại đây, nhưng anh vẫn thấy hạnh phúc hơn khi trở về với gia đình chính của mình tại Paris.

Van Linh Siharath, vừa bước sang 34 tuổi. Sinh ra tại Lào bởi cha mẹ Việt Nam và lớn lên tại vùng núi thuộc trung tâm nước Pháp cùng với người cha kế gốc Pháp đáng kính. Gần đây cô mới vừa trở về Paris sau một năm sống với họ hàng tại Hà Nội, cô đã nỗ lực cải thiện ngôn ngữ của mình và “tìm kiếm phần nguồn gốc còn lại mà tôi không biết đến”.

 

NHA: điều gì khiến bạn quay trở về Viet Nam?

Landon: tôi tìm kiếm những thứ mới lạ. Dạy học không được trả lương hậu hỉ tại Mỹ, và tôi không bao giờ có thể tiết kiệm tiền tại đó được. Tại đây tôi có thể tiết kiệm 60 phần trăm thu nhập của mình, hoặc khoảng 1000 đô một tháng. Ở Sài Gòn, tôi có được mức sống cao bởi chi phí thấp. Cuộc sống tôi dễ dàng hơn. Mỗi ngày đều có những thứ mới lạ diễn ra tại đây. Ở nhà tôi cảm thấy cuộc sống rất đơn điệu.

Hoang: tôi trở về để gặp vị hôn thê của mình, thay đổi một số quan điểm và tìm cảm hứng cho bộ phim mới nhất của tôi. Người Việt nam thường không thích phim Việt. Tôi muốn thay đổi cảm giác đó bằng một việc thực tế. Nhưng để tạo chuyển biến ở đây là một việc khó.

Quoc: đó là sau khi dot.com sụp đổ năm 2002. Tất cả bạn bè tôi đều thất nghiệp. Tôi đã trở về trong kì nghỉ và quyết định ở lại. Tôi đã cảm thấy thích thú với khoảng thời gian làm việc tại đây.

 

NHA: lần đầu trở lại bạn cảm thấy như thế nào?

Quoc: tôi được biết ông nội của tôi mất vào ngày thứ hai, trong lúc đó tôi đang ở trên máy bay vào ngày thứ sáu năm 2001. Chúng tôi đi thẳng đến làng của ông, Quảng Biên, cách Sài Gòn một tiếng, để đến ngôi nhà nơi tôi từng sinh ra. Sau đó tôi tiến đến nghĩa trang, tại đây tôi đã gặp 26 người có nét mặt hoặc răng giống tôi, một số khác thì giống về đôi mắt, họ đứng đấy. Họ đang đợi tôi để đóng quan tài. Rồi từ mộ ông nội chúng tôi đi lại phía mộ cha tôi. Tôi đã không biết điều đó nằm trong kế hoạch. Với tôi đó là khoảng khắc tôi cảm nhận được mọi thứ một cách rõ ràng nhất từ trước đến nay. Tôi đã luôn hình dung dựa trên những gì gia đình kể lại, điển hình là mẹ và hai chị. Giờ tôi đang thấy ngôi mộ một cách hữu hình. Điều đó làm tôi cảm giác cuộc sống của tôi có hai cột mốc để đánh dấu lần đầu tiên. Tôi đã khóc như một đứa trẻ. Sau đó chúng tôi đi ăn, dĩ nhiên rồi.

Voughn: lần đầu tôi đặt chân đến Việt Nam là khi tôi 21 tuổi và tôi đã khóc suốt hai tuần liền vì tôi muốn trở về Úc. tôi không chắc nhà của tôi ở đâu hiện tại. Tôi cũng không nhớ về nơi đó khi tôi đi xa lúc này.

Van Linh: tôi đã gặp gia đình ở Hà Nội lần đầu tiên năm 1998. Tôi chỉ xuất hiện trước nhà họ trên một chiếc xích lô vào một buổi sáng. Tôi nói ít tiếng Việt hơn bây giờ, nhưng khi tôi nói với họ tôi là ai và tôi có bức ảnh của bà và tôi, người phụ nữ kia bật khóc. Tôi không được phép ở chung với họ, vì thế tôi ở tại một khách sạn, nhưng chỉ vài ngày, và khi chúng tôi chia tay lần nữa, tất cả chúng tôi lại khóc. Nhưng tôi đã trở về một vài lần sau đó và đến hiện nay, khi tôi đi chúng tôi đều biết sẽ lại gặp nhau lần nữa.

Christine: khi tôi trở về lần đầu tiên để thăm hỏi gia đình, tôi đã rất yêu thích điều đó. Mọi thứ được chuẩn bị kĩ càng—tôi có một đại gia đình ở đây, vì thế tôi không cần phải lo ngại về tiền bạc—đó là một trải nghiệm khác lạ. Từ khi tôi chuyển đến đây tôi đã học cách giao tiếp với người xung quanh. Lần đầu tôi đã lo sợ, thật sự không thoải mái. Phải mất khá lâu chỉ để tôi có thể ra khỏi giường và đến siêu thị. Giống như khi ở trung học, mọi người đều nhìn chằm chằm vào bạn. Vẫn với ngoại hình như thế nhưng tôi không còn quan tâm đến việc đó nữa.

Linda: khi tôi 12 tuổi, tôi chỉ nhớ rằng có 50 người tại sân bay và mẹ tôi đã khóc—cả gia đình đã ở đấy. Ở độ tuổi ấy, tôi không nhận thức được văn hóa của chúng ta, tôi chỉ nghĩ đó như một cuộc đoàn tụ của một gia đình lớn.

 

NHA: bạn có thể miêu tả điều kiện sống của bạn ở đây được không? Bao lâu bạn thăm họ hàng một lần?

Christine: tôi sống cạnh dì và chú phía ngoại, trong một căn hộ một phòng ngủ mà họ sở hữu. Sát bên là một người chú khác, cùng với vợ và con cái của ông. Tôi có nhiều anh em họ cùng tuổi. Tôi ăn trưa với họ mỗi ngày, và thỉnh thoảng ăn tối với bạn bè ở ngoài.

Loc: chú tôi và anh em họ tôi ở đây. Tôi thích có một căn nhà của riêng mình hơn, nhưng tôi gặp gỡ họ mỗi ngày, chúng tôi thường xuyên dùng bữa với nhau. Thật vui khi có những ngày nghỉ cùng họ. Chúng tôi không mắc phải nhiều vấn đề về giao tiếp—họ giúp tôi trong tiếng Việt.

Hoang: tôi từng thân thiết với anh em họ của mình khi chúng tôi còn nhỏ [Anh rời Việt Nam lúc 18 tuổi]. Nhưng bây giờ tôi đang làm quen tất cả họ lại lần nữa. Chúng tôi cùng nhau ra ngoài, nhưng họ đều đã kết hôn và có con. Họ ngạc nhiên vì tôi muốn trở về sống ở đây. Đối với họ điều đó không công bằng. Họ khao khát được đến nước Mỹ làm việc và kiếm tiền. Tại một đất nước nghèo, mối bận tâm duy nhất là kiếm ra tiền. Nếu chúng ta lớn lên trong nghèo khó thì lẽ tự nhiên chúng ta muốn thể hiện với mọi người rằng chúng ta có tiền.

Landon: tôi sống một mình và thật vui vì tôi không có liên hệ gì với gia đình ở đây. Tôi không có mong muốn tìm lại họ [anh được cho làm con nuôi khi còn là trẻ sơ sinh]. Nếu có cơ hội xuất hiện, tôi sẽ không từ chối nó, nhưng tôi cũng sẽ không tìm kiếm nó.

Laurence: tất cả họ hàng của tôi đều đã đến Canada trước khi tôi sinh ra. Khi ông bà tôi trở về thăm gia đình, họ chỉ đến những nhà hàng Pháp đắt đỏ. Họ sợ uống nước đá và ăn uống trên đường, và việc phải uống mấy viên thuốc sốt rét. Tôi đã rất ngạc nhiên, đây là đất nước của họ mà, nhưng tôi nhận thấy tôi nên chăm sóc họ.

Linda: mẹ tôi có chín anh chị em trai và gái, còn cha tôi thì có tám anh chị em. Thật đông đúc. Khi lần đầu tiên tôi đến đây, tôi đã ở với dì và chú tôi. Họ cứ níu giữ tôi. Tôi đã luôn sống với ba mẹ ở nhà, nhưng tôi chỉ sống với họ hai tháng. Họ không thể hiểu vì sao tôi làm việc khuya hay ra ngoài trễ vào ban đêm. Họ nghĩ rằng như vậy đồng nghĩa họ là những người chủ nhà không tốt. Điều đó thật khó khăn, bởi vì tôi không muốn ảnh hưởng đến họ. Tôi đã thường gặp họ mỗi tuần, và hiện tại là hơn một tháng một lần hoặc cỡ đó, vì tôi bận công việc. Vào cuối tuần tôi cần nghỉ ngơi và thư giãn với bạn bè. Thăm họ khiến tôi mất nhiều thời gian, và đó không phải là cách tôi muốn tận hưởng cuối tuần của mình.

 

NHA: trải nghiệm khi làm việc tại Việt Nam khác với những nơi khác thế nào?

Loc: đầu tiên, không dễ để kiếm một công việc thú vị nơi này. Ở Pháp, nhân viên ở thế chủ động, luôn muốn đẩy nhanh tiến trình để đạt thành quả. Tại đây họ chỉ chờ để được chỉ bảo phải làm gì. Văn hóa không tạo nên cá nhân, điều này đôi lúc làm tôi mệt mỏi. Tôi đã không lường trước việc đó. Những người Việt tôi biết ở Pháp rất khác…mọi người ở đây làm việc chăm chỉ, nhưng bằng phương thức khác. Tôi nghĩ họ cần học cách đảm nhận trách nhiệm và đưa ra quyết định.

Landon: trong số các nhân viên Việt Nam, rất ít người chịu chủ động. Sự năng động không tồn tại. Trong số 30 nhân viên Việt Nam, tôi nghĩ chỉ có hai người là thực sự làm việc chăm chỉ. Trợ lý người Việt của tôi thỉnh thoảng tranh luận với tôi về cách xử lí mọi việc như thế nào trong tận 30 phút. Tôi nhận thấy mọi người thường muốn làm mọi việc một cách nhanh nhất, không cần phải theo đúng cách.

Laurence: phần lớn thời gian. Mọi người ở đây không định hướng công việc như chúng ta. Đó là một công ty chung, vậy nên những người trong gia đình được ưu tiên trước, và bạn luôn chờ sếp nói với bạn phải làm gì. Như kiểu: “sếp nói với tôi phải làm như vậy, nhưng tôi không nghĩ đó là ý hay, nên cứ ra ngoài ăn trưa đi đã.” Hay: “hãy trải báo lên sàn và ngủ thôi.” tôi đã từng ngồi và đọc email trong khi đồng nghiệp cũ của tôi đang ngủ.

Linda: những phòng ban sáng tạo ở nước ngoài trông rất phóng khoáng, thẳng thắn, âm nhạc sôi động luôn được mở trong văn phòng và trang phục thì điên cuồng. Tại đây, văn hóa làm việc bảo thủ hơn. Tôi không thể mặc những bộ đồ khoe hình xăm khi đi làm, vì tôi sợ đồng nghiệp của tôi sẽ dị nghị, và bởi vì tôi tôn trọng họ, tôi muốn hòa nhập với môi trường làm việc của họ. Mặc dù thế, công ty của tôi vẫn tương đối cởi mở, và chúng tôi rất vui vẻ với nhau. Tổng Giám Đốc là người Mỹ gốc Việt. Giờ nghỉ trưa ở Việt Nam rất nhiều. Tại Melbourne, thật may mắn cho bạn nếu bạn có được nửa tiếng nghỉ trưa.

Voughn: có khá nhiều hệ thống cấp bậc [và quá nhiều] quan hệ con ông cháu cha ở đây. Không phải là bạn biết những gì mà vấn đề là bạn quen biết ai, hay bạn đẹp đến cỡ nào. Thông minh hay tài năng không cần thiết tại Việt Nam.

Christine: kinh doanh với người Việt cho tôi thêm cái nhìn khác không mấy tốt đẹp về họ. Họ luôn giải quyết mọi việc theo cách không bình thường như kiểu đặt nhẹ nó. Không theo bất cứ hệ thống hay tổ chức gì. Nhưng những ai hiểu được sự khác biệt giữa Đông và Tây trong cách cư xử thì rất tuyệt khi làm việc chung.

 

NHA: bạn có thông thạo tiếng Việt không? Làm thế nào để bạn tiếp thu ngôn ngữ và văn hóa?

Quoc: mọi Việt Kiều, tôi nghĩ thế, đều sử dụng kiểu nói chuyện như em bé, kể từ lúc chúng tôi biết nói với mẹ. Trở lại đây mọi thứ trên đường lại khác lạ. Vấn đề về ngôn ngữ đó là nó vẫn chưa đủ tiêu chuẩn— ngôn ngữ vẫn luôn thay đổi. Những thuật ngữ ngày nay khác với từ ngữ cha mẹ tôi sử dụng ở những năm 60. Tôi đọc sách Tiếng Anh để giải trí—dù sao đi nữa, tài liệu Tiếng Việt quá khó để hiểu.

Voughn: tôi chỉ có thể nói về những điều cơ bản. Bố mẹ tôi không bao giờ nói chuyện về khoa học hạt nhân hay tình hình kinh tế các quốc gia hiện nay ở nhà….ông bà tôi đều ở đây. Tôi yêu họ, nhưng thật khó để gần gũi họ bởi ngôn ngữ và rào cản văn  hóa. Chúng tôi có thể nói chuyện về nhiều thứ mỗi ngày, nhưng không thể biểu lộ tình cảm sâu sắc của mình hay thực sự thấu hiểu nhau. Để gần gũi bạn phải có khả năng giao tiếp.

Christine: gia đình tôi và tôi không nói về chuyện tình yêu hiện tại của chúng tôi hay trao đổi với nhau về những chuyện cá nhân và có những cuộc tâm tình. Suy nghĩ của họ rất khác tôi. Một trong những anh chị em họ của tôi, anh 22 tuổi, đang hẹn hò với một cô gái, kiểu tán tỉnh của anh đối với tôi thật cổ lỗ sĩ. Nắm tay và cười rúc rích—cứ như thời trung học.

Hoang: tôi không biết một số từ ngữ, nhưng tôi học thêm được nhiều từ từ khi tôi trở về. Ngôn ngữ vẫn đang phát triển. . .mọi người biết tôi là Việt Kiều: bởi vì tôi lịch sự và luôn nói “cám ơn,” điều mà đa số mọi người ở đây không làm. Họ cũng có thể đoán ra tôi là Việt Kiều vì chiếc áo sơ mi của tôi không bao giờ đóng thùng. [Anh chỉ những người đàn ông xung quanh chúng tôi trong quán cà phê, họ đều ăn mặc theo kiểu chuẩn mực của quí ông: áo sơ mi trắng đóng thùng với quần tây đen cùng với nịt và giày đen.] Và tôi thấy vui vì tôi có thể tự do phát biểu. Tôi có thể nói về chính trị mà không cần lo lắng vì tôi có hộ chiếu Mỹ.

Tho: thường thì tôi hiểu những gì mọi người nói với tôi, nhưng tôi thiếu các thuật ngữ chuyên ngành. Thế nên thật khó để vượt qua những hành động khách sáo và làm các mối quan hệ của tôi trở nên sâu sắc hơn.

Landom: về cơ bản tôi được trả tiền không phải để nói Tiếng Việt tám tiếng một ngày. Sau khi tan sở, tôi quá mệt để trau dồi ngôn ngữ. Tôi muốn nói Tiếng Việt vì đi đến đâu mọi người đều nói Tiếng Việt với tôi. Những  người bạn nước ngoài của tôi nói Tiếng Việt với người phục vụ, anh ta luôn nhìn tôi để tìm câu trả lời. Và tôi thì không có câu trả lời cho anh.

Laurence: mọi người nói rằng tôi nói giọng miền bắc từ 30 năm trước. Họ có thể nghe thấy nó ngay. Vì thế tôi luôn bị nhận biết là Việt Kiều, tôi có thể diễn đạt ý muốn và thể hiện bản thân. Mọi thứ đang dần tốt hơn. Sếp cũ của tôi là người Việt, và tôi muốn nói với cô ấy cảm nhận của tôi về một số thứ nhất định, nhưng thật sự khó vì ngôn từ của tôi không tương tác được với cô. Tôi có một vài người bạn địa phương, nhưng giao tiếp lại là vấn đề. Họ nói chuyên sâu về thứ gì đó và tôi thì lại không hiểu câu chữ họ dùng. Vì thế cuộc đối thoại của chúng tôi luôn thường dựa trên những điều đơn giản, và kết quả là tôi cảm thấy tôi không thực sự biết rõ về họ. Tôi nghĩ tôi cần đặt thêm nhiều thời gian và quyết tâm vào việc học ngôn ngữ.

 

NHA: là một Việt Kiều bạn đã từng gặp phải thành kiến ở Việt Nam chưa? Thế còn ở nước ngoài thì sao?

Christine: chín mươi lăm phần trăm khoảng thời gian ở đây tôi giả vờ không nói được Tiếng Việt. Bằng cách đó tôi nhận được nhiều sự tôn trọng hơn. Nếu họ biết tôi là Việt Kiều. Họ sẽ đối xử với tôi một cách khó chịu. Có một lần tôi đến một nhà hàng ở Hội An với một anh bạn người nước ngoài, và phục vụ nói với tôi, “Cô không thấy lạnh sao?” đó là một cách để châm biếm chiếc áo ba lỗ tôi đang mặc và việc tôi đang đi với một anh chàng Tây. Vài người còn cho rằng tôi là gái làng chơi.

Voughn: một số Việt Kiều trở về nước và nghĩ họ có quyền hành với cả Trái Đất chỉ vì họ nói được Tiếng Anh, những người này đã tạo nên ấn tượng tiêu cực, tôi cũng bị đối xử không tốt tại đây bởi vì tôi là Việt Kiều hay vì tôi không xứng đáng để được đối xử tốt. Dù cho chuyện gì xảy ra, tôi đã học được rằng không nên tin tưởng.

Loc: chắc rồi, luôn có định kiến ở đây. Khi bạn cố gắng mặc cả, mức giá đưa ra luôn cao hơn. Đôi lúc họ nghĩ tôi là người nước ngoài, điều đó làm tôi thấy thích hơn. Chỉ vì tôi không muốn bị xem là Việt Kiều. Tại đây [tại một quán cà phê Highlands] nhân viên tự động nói tiếng Anh với tôi, nên tôi cũng hòa theo họ. Điều đó dễ dàng hơn, tôi không cần phải cố giải thích mình muốn gì.

Tho: mọi người đều biết ngay chúng tôi là Việt Kiều, thế nên họ đối xử với chúng tôi khác biệt. Chúng tôi không biết họ sẽ cư xử với chúng tôi thế nào nếu chúng tôi chỉ là người Việt bình thường. Tôi nghĩ Việt Kiều ở Mỹ đã tạo nên tiếng xấu cho chúng tôi—họ khoe mẽ quá nhiều.

Hoang: cách tôi được đối xử ở đây rất khác biệt. Ngoài mặt mọi người rất tử tế với Việt Kiều—họ dẫn chúng tôi ra ngoài và có vẻ muốn  kết bạn với chúng tôi, nhưng chúng tôi không bao giờ chắc liệu bên trong có ý đồ gì khác không. Họ mời chúng tôi đến cà phê Highlands hay những nơi họ thường không đủ khả năng đến, rồi sau đó mong chờ chúng tôi trả tiền. Mọi người thường hứa hẹn trong khi họ không thể giữ lời, chỉ vì nói rằng bạn sẽ làm gì đó khi bạn biết bạn không thể làm một cách để thể hiện.

Landon: tôi gặp phải nhiều thành kiến ở đây hơn khi tôi ở Mỹ. Đa phần vì tôi không thể hiểu những gì mọi người nói. Họ luôn nói xấu sau lưng bạn. Tôi nhận thấy sự phân biệt đối xử nhiều nhất tại các trường Tiếng Anh trong thành phố. Họ không tuyển dụng Việt Kiều. đúng ra họ cho rằng phụ huynh Việt Nam sẽ không chấp nhận giáo viên người Việt dạy con họ Tiếng Anh. Trường đại học của tôi không như vậy. Nhưng những nơi khác thì là như thế. Họ trả tôi mức lương của người Việt…Có nhiều kiểu Việt Kiều khác nhau, như có một số người đã Tây hóa giờ đây lại quay lại với việc lái xe Wave Alpha. Có thể họ đã đi nước ngoài một vài năm, làm các công việc chân tay một cách cật lực để tiết kiệm tiền và rồi về nước để phô trương sự giàu có. Mọi người ở đây nghĩ đơn giản rằng  cuộc sống ở Mỹ dễ dàng. Họ không biết gì cả. Họ phân biệt chúng tôi, nhưng họ không thể nói lên sự khác biệt giữa chúng tôi. Thật tệ khi tôi được đối xử tử tế hơn khi tôi nói Tiếng Anh.

Laurence: thỉnh thoảng tôi bị chặt chém bởi tài xế xe ôm và taxi. Tôi biết giá, nhưng họ luôn cố tăng phí với tôi. Tiền bạc không quan trọng với tôi, nhưng đó là nguyên tắc. Họ trông giống như muốn nói, “tại sao cô có được cơ hội để có cuộc sống tốt hơn mà không phải là tôi?” tôi nghĩ một vài người nghĩ chúng tôi là những kẻ phản bội và nói rằng chúng tôi rời đất nước vì chúng tôi không muốn chiến đấu cho tổ quốc. Tôi có thể hiểu quan điểm của họ. Nhưng chúng tôi không trở về để bóc lột họ. Chúng tôi trở về để khiến mọi thứ tốt hơn. Tại đất nước tôi, tôi có thể làm ra nhiều tiền hơn. Tôi ở nơi này vì tôi là người Việt Nam và tôi muốn quê hương tôi tiến xa hơn. Nhưng không phải ai cũng khó khăn với chúng tôi. Nhiều người khuyến khích tôi và hỗ trợ việc học ngôn ngữ của tôi. Họ tò mò, khi họ gặp tôi, họ luôn hỏi những câu như: tuổi tác, gia đình, mức lương. Điều đó làm tôi thấy không thoải mái, nhưng bạn phải trả lời. Tôi phải nói dối vì tôi không muốn họ nghĩ rằng tôi nghĩ tôi giỏi hơn họ.

Linda: thỉnh thoảng mọi người không đoán ra tôi là Việt Kiều. Tôi có nhiều người bạn địa phương, và tôi nghĩ hành động của tôi giống họ. . .tôi đã thích nghi rất tốt. Tôi cảm nhận được sự cổ vũ của bạn bè tôi khi họ nói tôi có những đặc trưng rất Việt Nam: tôi thẳng thắn, tôi muốn chăm sóc cho tất cả mọi người và muốn mọi người đều vui vẻ. Tuy nhiên, tin tưởng lại là một vấn đề. Sài Gòn là mảnh đất thực dụng. Ví dụ, tôi chỉ vừa mới gặp mẹ của bạn tôi thì cô ấy liền nói liệu ba mẹ tôi có thể làm người bảo lãnh cho một trong những người thân của cô đến Úc được không. Như thế chẳng hay ho tí nào.

Quoc: những người ở nông thôn luôn thích thú khi gặp tôi. Nhưng người thành phố thì hằm học với chúng tôi—tôi có thể cảm nhận được. Tôi đã từng nhạy cảm với điều đó, nhưng giờ tôi không quan tâm nhiều nữa.

Van Linh: tôi đã đi du lịch khắp Việt Nam và chưa cảm thấy sự phân biệt—khá là trái ngược mọi người—nhưng có thể bởi vì tôi không sống ở bất cứ nơi nào lâu để có thể minh chứng tôi là ai và tại sao tôi ở đây. Tôi lớn lên tại một thị trấn nhỏ ở Pháp, nơi chỉ có duy nhất một cô gái Châu Á là tôi. Mọi người đều muốn  bảo vệ tôi. Tên của tôi khá khó [để đọc]. Tôi luôn muốn một cái tên Pháp như Sophie hay Isabelle, và chỉ khi đến tuổi thiếu niên tôi mới hiểu sự khác biệt của tôi là một lợi thế. Kể từ đó tôi thu hút được những người khác, thật không bình thường. Những người đó biết nhiều thứ, nói nhiều ngôn ngữ và hiểu biết các nền văn hóa khác nhau…

 

NHA: bạn sẽ nói bạn hợp với quan điểm sống của phương Tây hơn hay của Việt Nam hơn trong cuộc sống?

Voughn: trước khi đến đây năm 21 tuổi, tôi luôn nghĩ bản thân tôi là người Úc. Tôi không chấp nhận tôi là người Châu Á vì tôi nghĩ điều đó không có gì đặc biệt. Nhưng giờ đây tôi nhận ra rằng tôi không phải là hình tròn hay hình vuông. Có thể tôi là hình ngôi sao. Khó để hẹn hò với đàn ông ở đây vì tôi không thể hoàn toàn hòa hợp với dân địa phương hay đàn ông Tây. Thật không dễ để tìm ai đó hoàn hảo lớn lên ở nước ngoài có cả hai nền văn hóa bổ trợ lẫn nhau.

Tho: Châu Âu chia sẻ một số vấn đề tâm lí với nhau. Chúng tôi có tương lai. Ở đây phần lớn mọi người sống ngày nào hay ngày đó. Họ có thể chỉ nghỉ đến ngày mai. Tôi có cả hai nền văn hóa. Tôi nói tiếng Pháp một cách dễ dàng, nhưng tôi cũng không chia sẻ, quan điểm của họ khác tôi.

Quoc: tôi hợp với người phương Tây hơn vì tôi đã trải qua một phần cuộc đời ở đó. Vài người có thể nói rằng tôi bị Tây hóa, nhưng tôi là người Việt. Bạn có thể đặt một con châu chấu vào sa mạc, nhưng nó vẫn là một con châu chấu. Nó chỉ học cách để thích nghi với sa mạc.

Loc:  những người bạn thân của tôi ở đây đa số là người Anh và những người nói được Tiếng Pháp. Người Việt không đi chơi khuya—và nếu có thì cũng toàn là đàn ông đi uống bia với nhau đến khi say mèm. Tôi không thực sự kết thân Việt Kiều nào ở đây. Tôi không thích họ cho lắm. Việt Kiều Mỹ bị mang tiếng xấu. Tôi cảm giác như họ muốn thể hiện bản thân.

Van Linh: tôi cũng không hoàn toàn thống nhất. Tôi ảnh hưởng Pháp nhiều. Nhưng tôi muốn biết về phần khác hay ho hơn. Tôi tự hào khi một người lạ ở đây nghĩ tôi là người Việt. Nếu tôi ra đường mà không ai mời mọc tôi “mua cái này đi!” hay nghĩ tôi là người nước ngoài, thì đó là một cảm giác tuyệt vời.

Hoang: tôi có cảm giác tôi giống một người nước ngoài hơn. Nếu tôi hành động hay ăn mặc như dân ở đây, họ sẽ nghĩ tôi ở tầng lớp bình dân. Với những người bạn cũ, tôi vẫn là người Việt Nam. Nhưng đối với người lạ, tôi là một người nước ngoài. Bởi vì sự thật là, mỗi khi tôi trình hộ chiếu ra, tôi được đi thẳng vào lãnh sự quán thay vì phải xếp hàng như những người khác trong làn đường.

Loc: tôi lớn lên ở Pháp. Chúng tôi không bao giờ ăn Tết ở nhà, không có bàn thờ tổ tiên hay tôn giáo. Tôi luôn cảm giác như đang ở nhà tại Pháp. Nhưng ngôi nhà thứ hai này lại là ở Việt Nam.

Landon: tôi không có bất cứ vấn đề gì về bản sắc của tôi. Tôi cảm thấy tôi là người Mỹ khi tôi ở Mỹ. Khi tôi ở một mình tôi cũng cảm nhận mình là người Mỹ, và thỉnh thoảng khi đi bộ một mình trên đường ở đây tôi lại cảm giác mình là một người Việt. Tôi nghĩ học sinh của tôi gắn bó với tôi tốt hơn vì tôi là nguời Việt Nam.

Laurence: tôi đoán tôi hòa hợp hơn với người phương Tây vì chúng tôi đều phải đối mặt với những trắc trở giống nhau tại đây, như việc bị làm ngơ hay quá áp lực. Có một sự liên kết giữa những người Canada tại Việt Nam. nhưng tôi là công dân quốc tế. Nhờ sự toàn cầu hóa, bạn có thể có một người cha từ Morocco và một người Mẹ từ Ý. Montreal là vùng đa văn hóa, nơi bạn có thể trở thành năm màu sắc khác nhau. Tuy nhiên khi tôi ở đây, người Việt nói tôi là người Việt Nam, không phải người Canada. Điều đó còn tùy người tôi gặp được. Tôi không cảm thấy thất vọng. Tôi nhìn đất nước này dưới con mắt của người Canada. Tôi cảm thấy như ở nhà tại đây vì tôi quyết định tạo dựng cơ ngơi tại nơi này, nhưng tôi cũng có thể sinh sống ở bất cứ đâu.

Linda: tôi tự xem bản thân là người Việt Nam. Tôi luôn nói tôi là người Việt Nam khi ai đó hỏi về quốc tịch của tôi, bởi vì đó là cách tôi nhìn nhận. Với những người bạn Việt Nam của tôi, tôi không thể chỉ ngồi không và thư giãn mà không nói gì. Họ luôn khuấy động và trò chuyện về những trải nghiệm quá khứ hay những lúc vui vẻ. Chúng tôi đi bơi, câu cá…nhưng sau một năm đầu, tôi bắt đầu thấy nhớ những người bạn Tây, tôi cảm thấy tôi cần cân bằng lại một ít. Với người nước ngoài, các cuộc đối thoại đa dạng hơn—chúng tôi có thể nói về chính trị, sex. Giờ đây tôi gặp những người bạn địa phương mỗi ngày vào bữa trưa và những người bạn Tây vào cuối tuần. Những người bạn bản địa của tôi rất chu đáo và sẵn sàng giúp đỡ tôi. Tôi thật là may mắn.

Quoc: trưởng thành, ý tôi là tại Việt Nam, là một việc ức chế, không phải vì chính trị, mà đối với cá nhân, cấp bậc trong gia đình: phải luôn vâng lời những người lớn hơn. Chúng ta có ít tự do hơn những đứa trẻ ở Mỹ, quan điểm này luôn bất đồng với mẹ tôi. Bà nói: “Con không thể làm những gì mà bạn bè Mỹ con làm vì con là người Việt Nam.” Mẹ không hiểu khi nào chị tôi muốn đi nhảy—chúng tôi còn không được đi hẹn hò. Thế nên khi còn nhỏ tôi cảm giác như tôi là người Việt lớn lên tại Mỹ; giờ đây tôi cảm nhận tôi là người Mỹ tại Việt Nam.

 

NHA: Bạn ăn uống thế nào tại đây? Bạn có đi chợ và nấu ăn không?

Voughn: nấu ăn sao? Tôi hiếm bao giờ ở nhà, và đi chợ để tiết kiệm, đồ ăn ngon tiện hơn nhiều.

Landon: có một quán phở tôi rất thích. Sẽ tốn tiền hơn nếu đi chợ và mua thành phần hơn là ăn ở ngoài.

Loc: tôi rất thích ăn những thứ được xem là lạ ở Pháp, như sầu riêng và thịt chó.

Laurence: tôi ăn mọi bữa ở ngoài. Đồ ăn rẻ mà lại ngon, và tôi không có thời gian để nấu nướng. Hơn nữa, chúng tôi chỉ có một cái nồi, không có nồi cơm điện và chỉ có bốn cái nĩa.

Linda: một buổi tối điển hình với người dân ở đây là ăn một cách nhanh chóng. Sau bữa tối chúng tối sẽ dừng lại uống sinh tố, sau đó đi đâu đó và tiếp tục ăn. Tôi trải qua một năm đầu ở đây bằng việc ăn ở vỉa hè, những chỗ này tôi sẽ không bao giờ tìm thấy tại nơi tôi sống.

 

NHA: bạn nhớ gì ở “nhà” khi bạn sống tại Việt Nam? Và ngược lại?

Loc: phô mai và gan ngỗng. Tôi thích thời tiết ở đây hơn. Ở Pháp luôn lạnh và mưa. Ở đây gia đình tôi cũng đông hơn, điều đó vui hơn nhiều.

Van Linh: phô mai, những người bạn và Ba Ngoa [bà ngoại]. Lần trước tôi trở về từ Việt Nam, đường phố Paris có vẻ buồn đối với tôi, nó thưa người. Ở đây rất ồn ào, náo nhiệt, nhiều người bán dạo, đường phố sinh động.

Mọi người+những đám đông+tiếng ồn=vui. Nhiều người trên đường phố. Ở Pháp, mọi người về nhà sau khi tan sở và không ra ngoài. Ở đó rất trống trải. Và bạn cũng không dễ kiếm  món phở để ăn vào buổi sáng.

Tho: tôi nhớ thể thao. Khó để tập thể dục trong thời tiết nắng nóng này. Và các môn thể thao mà tôi thích chỉ dành cho giới thượng lưu ở đây: như câu cá và gym. Pháp rõ ràng là nhà tôi, vì tôi hiểu hệ thống và cách thức hoạt động của nó. Ở đây mọi thứ đều mơ hồ. Mọi người nói rằng Việt Nam đã phát triển, nhưng tôi không chắc. Chúng tôi không biết vị trí Việt Kiều chúng tôi là ở đâu. mọi người không tự tin trong hệ thống. Mọi thứ thay đổi dựa trên ý thích. Nhưng mọi người cởi mở và dễ tiếp cận, đó là điều tôi thích. Bạn có thể liên hệ với họ trong vài phút và gặp họ ở bất cứ đâu—họ có nhiều sự chủ động hơn chúng ta.

Voughn: những luật lệ, qui định, thái độ lịch sự và việc ra đường mà không sợ ai tông vào tôi. Không khí trong lành, những rạp chiếu phim lớn và các siêu thị đầy ắp hàng hóa. Tôi không có ý định ở Việt Nam lâu dài. Tôi cảm thấy thử thách sẽ xuất hiện.

Quoc: sự sạch sẽ, những tiện nghi hiện đại, sự cởi mở trong tình dục, tự do thông tin ngôn luận. Tôi muốn bật Tv hay đọc sách và xem những thứ tôi thích mà không bị hạn chế. Khi tôi đến Thái từ Việt Nam tôi được mở mang tầm mắt—tôi thấy phấn khởi. Cám ơn Chúa vì internet. Tôi đọc trang web tôn giáo của BBC…nhưng tôi sẽ nhớ việc lái xe máy chạy vòng vòng vào ban đêm khi tôi rời đi. Tại đây tôi là một phần của giới thượng lưu. Tôi có điều kiện đi chơi mỗi tối.                                        

Có lẽ cuộc sống ở đây bình dị. Có một số ngày tôi là người Việt Nam, một vài ngày khác tôi lại là người Tây. mỗi ngày bạn lại bắt đầu lại từ đầu.  Là một Việt Kiều bạn có thể tiếp xúc các tầng lớp và các giới, mỗi cái điều chứa đựng phạm vi riêng của mọi người, đủ để làm cuộc sống trở nên thú vị. Nhưng giữa tầng lớp cao và thấp có sự rất khác biệt.

Christine: tôi nhớ việc trò chuyện với mọi người, và những thứ vô danh. Thịt bò. Sự đa dạng. Quần áo vừa vặn—thời trang ở đây không đẹp. Anh chị em họ tôi luôn kêu tôi béo. Khi tôi rời đi tôi sẽ nhớ cuộc sống thoải mái ở đây và những người tôi yêu, những người tôi biết sẽ không bao giờ rời bỏ đất nước này.

Hoang: luật pháp. Tổ chức. Ở đây đèn đỏ không có ý nghĩa gì. Mọi người làm bất cứ việc gì họ muốn. Khi có cảnh sát giao thông, họ giữ luật. Nhưng khi không có, thì chẳng có luật lệ gì hết. Khi tôi trở về Mỹ tôi nhớ đồ ăn, trái cây và khí hậu ở đây, chứ không phải là lối sống.

Landon:  tôi rất nhớ mọi thứ ở nhà. Như việc chờ đợi khi xếp hàng và biết bạn cuối cùng cũng sẽ được phục vụ. Ở đây bạn có thể chẳng bao giờ được tới lượt mình. Mọi người luôn cắt ngang bạn. Bạn không thể lịch sự nổi, bạn đành phải xô đẩy. Tôi ghét việc đó. Tôi cũng nhớ việc mọi người nói “xin lỗi” và việc có thể đi tắt vào đường rừng hoặc đi bộ đường dài. Tôi lớn lên ở vùng ngoại ô cùng với môn trượt tuyết và trượt nước. Ở đây bạn chỉ có thể đi uống cà phê và uống bia. Đi bộ quả là ác mộng. Phía Nam Sài Gòn thì tốt hơn, nó giống như ngoại ô nước Mỹ. việc đầu tiên tôi làm khi tôi về Mỹ là lái xe một tiếng đồng hồ và bật radio. Vâng, cả tiệm sách nữa—các cuốn sách và tạp chí mới.  Nhưng những lợi ích ở đây vẫn nhiều hơn những tiêu cực. Tôi có hộ chiếu và có thể trở về bất cứ lúc nào. Khi tôi về. Tôi sẽ nhớ sự giản dị của cuộc sống nơi đây, và các quầy bán hàng trên dường—tôi rất thích chúng. Tôi mong họ sẽ không đánh mất những điều như thế, nhưng tôi e điều đó sẽ xảy ra.              

Linda: tôi yêu Melbourne, nhưng điều đó sẽ không bao giờ thay đổi. Sẽ luôn như vậy

Laurence: khi ra đi tôi sẽ nhớ nước dừa và việc ăn uống tại các gian hàng ven đường. Và cả giá cả thấp nữa—như việc có thể mát xa một lần một tuần. Chất lượng cuộc sống của tôi tốt hơn nhiều so với ở nhà. Chỉ 200 đô một tháng, chúng ta đã có một người giúp việc để nấu nướng và dọn dẹp, một căn nhà rộng và đẹp…một chai bia thì chỉ tốn một đô!

 

NHA:  bạn có chia sẻ cách nhìn nhận hay quan điểm chính trị của ba mẹ bạn khi bạn ở VIệt Nam không?

Christine: lúc đầu ba mẹ tôi ngạc nhiên và không vui về việc tôi đến sống ở đây, nhưng miễn là tôi có một công việc khá và tôi làm tốt mọi thứ ở đây thì họ không còn bận tâm nữa. Chính phủ Việt Nam không hẳn là vấn đề với tôi. Tôi không nghĩ nhiều về điều đó, nhưng tôi chia sẻ lập trường chống đối cộng sản của ba mẹ tôi. Tôi được trải nghiệm dưới chế độ cộng sản trực tiếp mỗi ngày và nó quả thực không tốt. Việt Nam có thể phát triển nhanh hơn và hiệu quả hơn nhưng điều đó là không thể chỉ vì chính phủ.       

Voughn: tôi rất may mắn khi ba mẹ tôi không áp đặt việc chính trị lên con cái. Lý tưởng cộng sản ban đầu của Hồ Chí Minh mà tôi ngưỡng mộ, rất khác với chế độ của hiện tại.

Van Linh: mẹ tôi đã không hiểu vì sao tôi muốn đến đây. Bà nói: “Tại sao? Ở đó chẳng có gì ngoài sự nghèo đói. Phụ nữ luôn chỉ ở nhà, con sẽ không có độc lập, không có an ninh xã hội. Ở đây con có công việc, chúng ta, bạn bè, còn ở Việt Nam thì chẳng có gì!”

Landon: kể từ khi tôi lớn lên với cha mẹ người Mỹ, tôi chưa bao giờ có cảm giác muốn chống lại cộng sản như những người VIệt Kiều khác. Tôi rất ghét các kiểu quan điểm đó. Họ giương các biểu ngữ của tự do và công lý, trong khi chỉ cần hộ chiếu Mỹ là họ có thể có được bảo hiểm xã hội và thất nghiệp. Chắc rồi, hiện tại tôi đang sống với chính phủ Việt Nam và người dân ở đây, nhưng những ai không sống ở ngước ngoài thì sao? Khi tôi đọc những câu chuyện chống cộng sản của những người Việt Kiều và các cựu chiến binh chiến tranh, tất cả tôi thấy được là sự cay đắng. Họ cần phải để mọi thứ qua đi. Họ đang làm cuộc sống của họ khổ sở hơn, họ cố làm người khác cảm nhận như họ thay vì chấp nhận mọi thứ theo cách đang diễn ra và tiếp tục sống.     

Quoc: Đối với gia đình tôi, chính phủ Việt Nam gợi lên những kí ức tàn bạo về chiến tranh…nhưng chính phủ đang thay đổi chính sách để phù hợp với thời đại tăng trưởng kinh tế (Stalin sẽ lồng lộn trong mộ nếu ông biết ngày nay cộng sản được tư bản trợ cấp). Việt Nam cuối cùng cũng bắt đầu góp phần vào lợi ích chung của thế giới để được chia lợi. Và sẽ không trở lại như trước. Ngày nay chính phủ không còn muốn kiểm soát và đàn áp như trước đây. Một người bạn Việt Nam gần đây có nói với tôi rằng “chẳng ai quan tâm anh gọi nó là cộng sản hay dân chủ. Miễn là đất nước ta thịnh vượng, như vậy là tốt cho mọi người rồi.”

 

NHA: Khía cạnh nào của văn hóa Việt bạn yêu thích và sẽ dạy cho con cái bạn? Phần mâu thuẫn là gì, bạn sẽ bỏ qua chứ?   

Christine: Nếu tôi có con, tôi sẽ dạy chúng ngôn ngữ và văn hóa nhưng chắc chắn không phải tâm lí người Việt. tôi có cảm giác như họ bắt chước phiên bản MTV của nền văn hóa chúng tôi và ứng dụng với nó. Như việc quan trọng hóa việc sở hữu chiếc xe máy hay điện thoại đời mới nhất trong khi họ lại không có tiền nạp thẻ hay đổ đầy bình xăng. Điều đó thật đáng tiếc, tôi đã được học những thứ giá trị hơn ở đây khi lớn lên với gia đình Việt Nam của tôi ở New York.       

Hoang:  Phụ nữ ở đây thật tuyệt vời. Họ đi làm, sau đó về nhà nấu nướng, dọn dẹp và chăm sóc chồng con. Tôi đã được tiếp thu hai nền văn hóa Pháp và Mỹ bên cạnh việc lớn lên cùng nền văn hóa Việt, và tôi định sẽ dạy con tôi biết về cả ba nền văn hóa đó. Trẻ em Mỹ quá tự do. Bạn không thể dạy dỗ chúng, chúng không biết tôn trọng người lớn.

Landon: tôi bắt đầu nhận thấy Việt Nam đang mất đi sự thống nhất trong gia đình. Hiện nay cả cha mẹ đều đi làm. Những sản phẩm đắt tiền luôn sẵn có và mọi người đều muốn mua nó. Ở Mỹ có rất nhiều đứa trẻ ở nhà một mình với thuốc Ritalin. Tại đây các học sinh vẫn tôn trọng giáo viên và bố mẹ, chúng hiểu được giá trị của sự giáo dục.

Laurance: tôi thích tính tập thể của họ và cách họ gắn bó với người lớn tuổi. Nhưng tôi thấy tiếc cho những phụ nữ không được kết hôn vì phải chăm sóc cho mẹ già. Họ chấp nhận hôn nhân như số mệnh và chỉ trích sự phóng khoáng của chúng tôi. Có thể cô ấy chỉ 32 tuổi, nhưng cô ấy lại  như một bà giúp việc già không được phép ra khỏi nhà sau 10 giờ tối. Thật không công bằng.        

Van Linh: tại đây không ai trong gia đình bạn đi xa một mình hay khi cần thiết. Ở Pháp chỉ có mẹ, bà, bố dượng và anh trai tôi. Ở Việt Nam gia đình bao gồm tất cả mọi người. Tôi nhớ cách tôi lớn lên, và muốn như thế trong tương lai. Tôi cũng thích việc hòa hợp giữa những giá trị hiện đại và truyền thống. Như việc một nữ doanh nhân trong bộ com lê đi vào một ngôi chùa để làm lễ. Hoặc một người phụ nữ đi chợ trong bộ đồ ngủ mà không cần bận tâm về điều đó.

Linda: Phương Tây rất thực dụng, có vẻ như Sài Gòn cũng sẽ giống vậy. Sẽ nhanh thôi. Tôi luôn giữ hình tượng người phụ nữ đẩy xe bánh mì, tôi sợ điều đó sẽ biến mất. Vùng ngoại ô thì khác hẳn.

Loc: tôi muốn tập trung vào các giá trị gia đình. Mối liên kết gia đình chặt chẽ hơn ở đây. Bố mẹ tôi nuôi dưỡng tôi như thế. Ở Việt Nam tầm quan trọng của sự thành công rất lớn. Mỹ quan trọng tự do và hạnh phúc hơn. Tại đây bạn được hướng đến việc phải  thành công, kiếm tiền và lập gia đình. Có một số lợi thế đối với việc đó, đặc  biệt là tập trung vào giáo dục, điều đó giúp trẻ em tiến xa hơn. Tôi sẽ dạy con tôi theo cách Việt Nam. Đó là chìa khóa trong quá khứ và là di sản mà chúng có được. Nhưng mặt khác tôi sẽ chỉ giữ lại những giá trị chính của gia đình. Một gia đình gắn bó tạo nên một hệ thống vững chắc để chống lại mọi thứ.

Trong quá trình lớn lên, tôi được dạy những giá trị Châu Á được duy trì từ lâu. Sống tại Việt Nam khiến những quan niệm về văn hóa của tôi trở nên khác đi. Chúng tôi được học những giá trị thuần túy, nhưng giờ đây tôi thấy cách họ áp dụng, kết quả chính là điều mâu thuẫn. Bề mặt và danh tiếng rất quan trọng, thế nên mọi người đều muốn được kính trọng hơn người bên cạnh mình khi xuất hiện nơi công cộng. Nhưng mọi chuyện lại khác khi họ ở một mình. Trong khi phụ nữa phải biết vâng phục và dịu dàng, thì đàn ông lại ra ngoài nhậu nhẹt và tán tỉnh những người phụ nữ khác. Và mặc dù không ai nói về tình dục, những gì bạn phải làm là nhìn vào số lượng trong gia đình và tự hiểu việc gì đang diễn ra. Dân số Việt Nam không vượt qua 80 triệu người bởi vì việc kiêng cử quan hệ.

Tho: Người Việt Nam luôn nói về văn hóa truyền thống của họ. Nhưng bạn chỉ có thể tìm thấy điều đó ở ngoại ô. Giống như vùng quê nước Pháp, người dân tự cung cấp cho mình và có một cuộc sống giản dị. Hạnh phúc phụ thuộc vào những nhu cầu tối thiểu của bạn. Nếu bạn không biết về cái gì đó, bạn sẽ không cần nó.

Voughn: tôi phát hiện ra rằng tôi am hiểu giá trị văn hóa Việt hơn những người bạn bản xứ của tôi, họ khao khát được thoát khỏi những điều truyền thống. Người nhà tôi, thay vì ở Úc lại bị hải quan chặn lại, họ gần như lãng quên điều đó trong thời kì hiện đại hóa nhanh chóng của Việt Nam. Bố tôi rất nho giáo và thành kính tổ tiên cũng như các nghi thức truyền thống. Nếu tôi có con, tôi hi vọng chúng sẽ lễ phép, tử tế và có tư cách cho dù chúng được tiếp thu môi trường văn hóa nào. Nhưng với tất cả sự tôn trọng, hầu hết những giá trị tôi khám phá được ở Việt Nam không phải là điều tôi muốn nuôi dạy một đứa bé.

Thế hệ Việt Kiều của chúng tôi thật may mắn vì chúng tôi có cơ hội tạo nên cầu nối giữa người Việt ở đây và những người chọn ở lại đất nước thứ hai của họ. Để thúc đẩy sự thấu hiểu và hàn gắn vết thương của nhau.

Đáng buồn thay, những người ở Sài Gòn đang cố Tây hóa, khi họ làm vậy họ đang đánh mất bản chất Việt Nam của mình. Tại sao lại muốn thay thế mọi thứ như vậy? Phát triển là tốt, nhưng bạn cũng cần bảo tồn lịch sử. Thật buồn khi thấy người Việt phủ nhận di sản Châu Á của họ cũng như phủ nhận những đặc điểm tự nhiên để trở thành những bản sao nhựa.

Cha mẹ tôi đã vẽ nên một bức tranh màu hồng về Việt Nam, và tôi đã nghĩ nó cũng giống như những gì trong bản nhạc bố mẹ tôi hay nghe. Phụ nữ Việt hiền lành, nhu mì và ôn hòa, đàn ông thì ga lăng. Ai cũng dễ dàng để kết bạn. Họ sống chung thủy với nhau suốt đời sống hôn nhân. Người trẻ tôn kính người già, và họ rất trong sáng. Nhưng tôi chứng minh được điều đó không đúng. Tất cả chúng ta đều có những quan niệm sai lầm về những nước ngoài mà chúng ta không bao giờ biết.

Bé Đẹp @ Cafe Ku Búa

Theo NHA Magazine, Modern Viet kieu – a new generation navigates Vietnam

Ngày 31 tháng 7 năm 2006

 

 

Facebook Comments