Nước Mỹ Của Hillary Clinton 3.8 – Sự lảng tránh khéo léo

3.8 Sự lảng tránh khéo léo

Vậy thì, ai đã đúng, những nhà Dân Chủ ngày xưa hay những nhà Dân Chủ mới? Thực sự thì, những nhà Dân Chủ của thập niên 1860 nói đúng hơn những nhà Dân Chủ ngày xay. Lincoln thậm chí đã không chỉ tin vào việc chấm dứt chế độ nô lệ mà còn vào sự nới rộng quyền bầu cử và bình đẳng cho người da đen. Ông ta trông như không có sự phản đối nào đối với việc người da đen kết hôn đa chủng tộc.

Mặc dù vậy, Lincoln đã thừa nhận rằng ông ta không thể đứng ra bảo vệ những quan điểm đó trước công chúng. Nếu Lincoln trong cuộc tranh cử 1860 nói về những vấn đề như quyền bầu cử cho người da đen hoặc hôn nhân đa chủng tộc – lúc đó bị phản đối bởi phần đông người Mỹ ở khắp hệ chính trị – điều đó sẽ đảm bảo sự thất bại về mặt chính trị cho ông ta. Nếu những nhà Dân Chủ đã đánh bại những nhà Cộng Hòa trong cuộc tranh cử 1860, miền nam sẽ không đòi ly khai và chế độ nô lệ sẽ tiếp tục ở Mỹ.

Vì vậy chúng ta có từ Lincoln những câu tuyên bố khéo léo như, “tôi không hiểu rằng vì sao vì tôi không muốn một người phụ nữ da đen làm nô lệ thì tôi phải muốn cô ta làm vợ tôi.” Hơn nữa, để đáp lại những cáo buộc của phe Dân Chủ về sự thấp hèn của người da đen, Lincoln đã nói, “nếu Chúa cho ông ta ít, thì hãy để ông ta tận hưởng sự ít ỏi đó.”

Lincoln không hề nói rằng người da đen thấp hèn hơn. Ông ta không nói rằng ông ta bác bỏ cái ý tưởng về người da đen kết hôn với người da trắng. Ông ta chỉ không muốn đề cập đến những vấn đề đó. Ông ta duy trì cuộc tranh luận vào những chủ đề cần thiết, về cái câu hỏi đơn giản rằng liệu con người nên được phép lấy đi sự sống và công lao của người khác bằng cách nô lệ hóa họ. Về người phụ nữ da đen, ông ta nói, ”Trong quyền lợi tự nhiên của cô ta để ăn ổ bánh mì cô ta đã đạt được từ chính bàn tay của mình mà không cần sự bố thí của bất cứ ai, cô ta bình đẳng với tôi và bình đẳng với những người khác.’

Cho nên những nhà Dân Chủ ngày nay mà cáo buộc Lincoln về những quan điểm không tốt đẹp của ông ta về người da đen đang nói sai sự thật. Quan niệm của Lincoln là không hề vô hiểu biết. Ngược lại, nó là phong cách nói chính trị, Lincoln vào lúc đó từ chối thừa nhận tham vọng của mình để có thể thực hiện những thứ mình không thể làm được. Ông ta cũng từ chối để cho những nhà Dân Chủ như Douglas thay đổi chủ đề từ sự nới rộng của chế độ nô lệ – chủ đề gay tranh cãi chính giữa hai đảng – đến những chủ đề không liên quan khác.

Cũng tương tự, khi Lincoln khẳng định rằng cuộc Nội Chiến là vì liên minh, chứ không phải vì chế độ nô lệ, điều này được hiểu bởi những nhà sử học đích thực rằng Lincoln muốn gìn giữ những tiểu bang giáp biên giới – Maryland, Delaware, Kentucky và Missouri – ở trong liên minh. Những tiểu bang đó có nô lệ và nếu Lincoln nói rằng cuộc nội chiến là để chấm dứt chế độ nô lệ, những tiểu bang đó có thể sẽ ly khai khỏi liên minh. Nếu họ ly khai, Lincoln tin rằng mục đích của liên minh sẽ bị đánh mất. Một lần nữa, Lincoln đã hành động như một nhà chính trị để gìn giữ những tiểu bang đó lại, và ông ta đã thành công trong việc đó, và điều này đã rút ngắn thời gian của cuộc chiến và chấm dứt chế độ nô lệ nhanh chóng hơn.

Những nhà Dân Chủ của giữa thế kỷ 19 không chỉ căm ghét, mà có đôi lúc họ còn hành hung những nhà Cộng hòa. Một ví dụ điển hình đã xảy ra vào năm 1856 khi Thượng Nghị Sĩ Đảng Cộng Hòa Charles Sumner đã thực hiện một bài diễn văn chỉ trích chế độ nô lệ trên sàn của Thượng Viện Mỹ. Để đáp lại, một dân biểu Đảng Dân Chủ tên Preston Brooks đã bước đến Summer và đánh ông ta liên tục với cây gậy của mình.

Sumner đã bị thương trầm trọng và sức khỏe của ông ta đã bị ảnh hướng đến suốt đời. Sự phẫn nộ này của phe Dân Chủ đã giúp thuyết phục nhiều người Mỹ rằng hoàn toàn không có một cách nào hợp lý để giải quyết vấn đề chế độ nô lệ với những nhà Dân Chủ được.

Các nhà Dân Chủ căm ghét những người hoạt động chống nô lệ như Sumner và John Brown, nhưng trên hết họ đều ghét Đảng Cộng Hòa. Đó là bởi vì Đảng Cộng Hòa, khác với những nhà chống nô lệ, có khả năng chiến thắng trong cuộc tranh cử toàn quốc và ngăn chặn chế độ nô lệ lan rộng sang những lãnh thổ mới. Nhiều nhà Dân Chủ đã lo sợ rằng nếu chế độ nô lệ không được phép nới rộng, trước sau gì nó cũng sẽ suy giảm. Quyền lực tương đối của những tiểu bang tự do sẽ tiếp tục gia tăng và tuổi thọ của chế độ nô lệ sẽ nhanh chóng chấm dứt. Nỗi lo sợ này là vì sao các tiểu bang công nhận chế độ nô lệ muốn ly khai, và vì vậy dẫn đến cuộc Nội Chiến.

Sự cứng rắn của Lincoln và những nhà Cộng Hòa, từ lúc Lincoln đắc cử cho đến thời kỳ tiến triển của cuộc chiến, nên được coi là một ví dụ cho những nhà Cộng Hòa ngày nay. Lincoln có thể đã ngăn chặn cuộc chiến xảy ra bằng cách thỏa thuận những lập trường của mình rằng chế độ nô lệ nên được tiếp tục ở miền nam nhưng sẽ bị cấm lan rộng vào những vùng lãnh thổ mới. Vài sự thỏa thuận như vậy – bao gồm sự thỏa thuận Crittenden – được thúc đẩy để ngăn chặn sự ly khia cũng như cuộc chiến.

Cuộc Thỏa Hiệp Crittenden bảo đảm sự tồn tại vĩnh viễn của chế độ nô lệ trong tất cả các tiểu bang và lãnh thổ được phân định bởi đường Thỏa Hiệp Missouri. Nó cũng công nhân sự chủ quyền phổ biến như là một động cơ để các lãnh thổ mới quyết định họ có nên chấp nhận chế độ nô lệ hay không. Các nhà sử học nhìn nhận rằng cách duy nhất để ngăn chặn cuộc Nội Chiến xảy ra trong giai đoạn cuối là nếu Lincoln đã chấp nhận cuộc Thỏa Hiệp Crittenden hoặc một sự thỏa thuận tương tự.

Tuy nhiên Lincoln đã không chịu làm vậy và ông ta đã không chịu chấp nhận hành động duy nhất có thể ngăn chặn cuộc Nội Chiến xảy ra. Lincoln sẽ không thỏa thuận lập trường của mình – ông ta không chịu từ bỏ một phần nhỏ nào trong lập trường của mình trước chính sách chủ quyền phổ biến của phe Dân Chủ. Lincoln đã cho rằng nếu ông ta làm vậy thì điều đó sẽ phủ định kết quả của cuộc tranh cử 1860.

Xét thực tế, nếu làm vậy Lincoln sẽ cho phép những người mà đã thua trong cuộc tranh cử đó chiến thắng bằng cách biến những yêu cầu của họ thành hiện thực để họ chấp nhận ở lại trong liên minh. Lincoln sẽ bán đứng những người Mỹ mà ủng hộ ông để đàm phán với những nhà Dân Chủ kia. Đây là điều mà ông ta nhất quyết không làm.

Vào năm 1863, Lincoln đã ký Tuyên Ngôn Giải Phóng và giải cứu tất cả những người nô lệ từ Phe Liên Minh (phe ủng hộ nô lệ). Số đông của phe Cộng hòa ở cả Hạ Viện và Thượng Viện đều ủng hộ lời tuyên bố này. Nhóm Copperhead hoặc nhóm Dân Chủ hòa bình đã chống lại nó, họ đã nói rõ rằng họ ủng hộ việc ở lại trong liên minh nhưng không trả tự do cho những người nô lệ. Khẩu hiệu của những nhà Dân Chủ Copperhead chính là “Liên Minh như cũ, Hiến Pháp như cũ.” Nói cách khác, hãy duy trì liên minh nhưng cũng duy trì chế độ nô lệ.

Các nhà cấp tiến ngày nay đã chỉ trích Lincoln và phe Cộng Hòa vì sự giới hạn của bản Tuyên ngôn Giải Phóng, nói rằng nó chỉ giải phóng nô lệ không nằm trong sự kiểm soát của liên minh, trong khi đó vẫn giữ trạng thái hiện tại cho những người nô lệ nằm trong liên minh. Một lần nữa, những hành động của Lincoln có thể được hiểu là để duy trì sức mạnh của liên minh. Nếu Lincoln đã giải phóng những nô lệ ở những tiểu bang biên giới, điều đó sẽ có nguy cơ khiến họ ly khai hoặc ít nhất là tạo ra sự chia rẽ chính trị. Sự thách thức của Lincoln là gìn giữ các lực lượng liên minh lại với nhau để cuộc chiến có thể kết thúc thành công. Chiến thắng cuộc nội chiến là tương đương với việc xóa bỏ vĩnh viễn chế độ nô lệ.

Trong suốt cuộc nội chiến, những đối thủ phe Dân Chủ của Lincoln ở miền bắc – phe Copperheds hoặc Dân Chủ Hòa Bình – đã tìm cách hạ thấp ông ta và phe Cộng Hòa. Phe Copperhead tìm cách làm suy yếu Lincoln để ông ta không thể được tái đắc cử. Họ đã gọi ông ta là “một thằng da đen” và kêu gọi người Mỹ hãy đánh bại chủ nghĩa thân da đen của ông ta. Đây chính là cách mà Đảng Dân Chủ đã thực hiện chiến dịch tranh cử của mình vào năm 1864.

Hết 3.8

Facebook Comments