Nước Mỹ Của Hillary Clinton 3.5 – Chế độ nô lệ như “một hình thức tích cực”

3.5 Chế độ nô lệ như “một hình thức tích cực”

Lời biện hộ “hình thức tích cực” của Calhoun trong việc biện minh cho chế độ nô lệ được thực hiện trong một lượt bài diễn văn của ông ta trước Thượng Viện Mỹ. Trong một bài diễn văn năm 1837, Calhoun đã nói rằng, “Chưa bao giờ có một xã hội văn minh giàu có nào mà một phần trong cộng đồng đó đã không sống nhờ vào công lao động của người khác.” Ở đây Calhoun cho rằng chế độ nô lệ đơn giản chỉ là một sự trả đáp, như một người có thể nói, là một sự cần thiết theo lời của Aristotle.

Nhưng Calhoun đã đi xa hơn thế, ông ta tấn công Bản Tuyên Ngôn Độc Lập và tách biệt ông ta từ Thomas Jefferson. Calhoun cho rằng sự chống đối chế độ nô lệ xuất phát từ “những sai lầm lớn và nguy hiểm bắt nguồn từ cái ý tưởng rằng mọi người đều tự do và bình đẳng. Không có gì có thể vô căn cứ và sai sự thật hơn điều đó.” Con người không bình đẳng, Calhoun nhấn mạnh, và vì vậy vài người có số mệnh tự do và vài người khác có số mệnh phục vụ.

Calhoun, như Hammond, cho rằng những người nô lệ được nâng cao tiêu chuẩn sống bởi chế độ nô lệ, khiến họ không chỉ tốt hơn trước đây, mà còn hạnh phúc hơn. “Chưa bao giờ mà chủng tộc da đen của Trung Phi, từ thuở ban đầu của lịch sử cho đến ngày nay, có một điều kiện sống văn minh và được cải thiện đến vậy, không chỉ về vật chất mà còn về đạo đức và trí thức. Nó đến với chúng ta trong một tình trạng thấp, man rợ và thấp hèn, và trong vài thế hệ nó đã phát triển dưới những cơ chế của chúng ta, cho đến tình hình hiện tại của nó. Điều này, với sự gia tăng của số lượng, là bằng chứng cho thấy sự hạnh phúc của chủng tộc đó, bất chấp những câu chuyện được thổi phòng quá mức.”

Calhoun viết rằng “tất cả những trang trại đều là những cộng đồng thu nhỏ, với người chủ nô lệ là người đứng đầu, người đảm nhận lợi ích chung của vốn và sức lao động, tất cả đều được anh ta đại diện.” Trong môi trường thân thiện này, ông ta khẳng định, những người nô lệ thực sự có thể phát triển được. Đối với Calhoun, chế độ nô lệ là một hình thức của “trường phái văn minh,” mặc dù không phải là một trường phái mà những người nô lệ có quyền thoát khỏi.

Những lập luận đó của những nhà Dân Chủ miền nam trông như đã biến mất khỏi những trang lịch sử. Những điều này hiếm khi nào được dạy, hiếm khi nào được đọc và hiếm khi nào được tưởng nhớ đến. Những nhà cấp tiến không muốn chúng ta nhớ đến. Mặc dù vậy, những sự thật này đáng để nhớ vì 3 lý do riêng biệt sau đây.

Thứ nhất, đó là những điều đặc biệt. Nhà sử học Eugene Genovese nói rằng không ở nơi đâu trong thế giới tự do, ngoài miền nam của Đảng Dân Chủ, mà con người lại cho rằng chế độ nô lệ là điều tốt cho những người nô lệ. Ở Brazil, để ví dụ, chế độ nô lệ được áp dụng ở khắp nơi, dựa theo lời Genovese, ”chế độ nô lệ được bảo vệ là một điều cần thiết về mặt kinh tế và được truyền thông biện minh, nhưng không có ai lại cho rằng với bất cứ lập luận nào rằng nó là một điều tốt hay đó là một điều kiện đúng đắn cho những tầng lớp lao động.”

Thứ hai, triết lý ủng hộ chế độ nô lệ của những nhà Dân Chủ miền nam đã hình thành những sự kiện quan trọng trong lịch sử nước Mỹ. “Quyền lợi sở hữu của người nô lệ được ủng hộ và khẳng định trong Hiến Pháp.” Đây là câu nói từ quyết định phán xét Dred Scott được ban hành bởi một Tòa Án Tối Cao được thống trị bởi những thẩm phán thân Đảng Dân Chủ thời Andrew Jackson. Lời tuyên bố đó là một sự giả dối. Trong Hiến Pháp hoàn toàn không nói đến hoặc ủng hộ chế độ nô lệ. Sự thật này có thể được chứng minh một cách dễ dàng bằng việc đọc Hiến Pháp.

Mặc dù vậy, lời tuyên bố đó phản ánh sự giải thích của phe Dân Chủ về Hiến Pháp bởi thành phần ủng hộ chế độ nô lệ trong Đảng Dân Chủ. Những người muốn gìn giữ những người nô lệ của họ, và lấy lại những nô lệ mà đã trốn sang những tiểu bang cấm nô lệ, và vì vậy họ đã bẻ cong Hiến Pháp để đạt được mục đích cá nhân của mình.

Chẳng có bất ngờ gì khi Tổng Thống James Buchanan, một nhà Dân Chủ, đã hoan hô quyết định của Tòa Án Tối Cao. “Quyền lợi đã được công nhận rằng mỗi công dân đều có quyền đem của cải của mình, bất cứ loại của cải gì, bao gồm cả người nô lệ, vào những lãnh thổ và để được bảo vệ ở nơi đó. Quốc Hội hay những cơ quan lập pháp địa phương hay bất cứ quyền lực con người nào đều không có quyền để lấy đi quyền lợi đã được khẳng định này.”

Cuối cùng những nhà Dân Chủ miền nam đã quá tin vào thuyết “hình thức tích cực” của mình đến mức họ đã muốn cách ly ngay lập tức khi Abraham Lincoln thắng cuộc tranh cử tổng thống.  Một nhóm người ít ngoan cố hơn có thể đã ở trong liên minh, trong trường hợp này chế độ nô lệ có thể sẽ tồn tại lâu hơn. Cho nên thuyết “hình thức tích cực” là một sự biện minh quan trọng trong việc dẫn đến cuộc Nội Chiến và chống lại những người phản đối nó, và dẫn đến sự chấm dứt của chế độ nô lệ nhanh chóng hơn.

Lý do thứ ba và cuối cùng, những lập luận của những nhà Dân Chủ miền nam rất đáng để nhớ lại bởi vì chúng ta sẽ thấy những nhà Dân Chủ đều đưa ra những lập luận tương tự – thực tế là những lập luận y chang – một lần nữa là thời Chính Sách Mới (New Deal) của FDR. Nhưng lần này người chủ nô lệ có một cái tên mới: chính phủ liên bang, được quản lý bởi những nhà cấp tiến dựa trên những nguyên tắc cấp tiến. Thật ngạc nhiên là những lập luận “hình thức tích cực” sẽ được lập lại trong thập niên 1930 và sau đó không dành cho những người da trắng mà cho những người da đen.

Hết 3.5

Facebook Comments