Nước Mỹ Của Hillary Clinton 3.3 – Tội lỗi của những Nhà Lập Quốc?

3.3 Tội lỗi của những Nhà Lập Quốc?

Cho nên hãy kiểm tra liệu các nhà cấp tiến có nói đúng không. Liệu các Nhà Lập Quốc là một nhóm người ủng hộ chế độ nô lệ, những người ghi nhận nô lệ vào nền cộng hòa mới và vào bản hiến pháp mới? Có phải câu nói trong Bản Tuyên Ngôn Độc Lập “tất cả con người đều bình đẳng” là một sự giả dối hay không? Nếu những lời cáo buộc đó là sự thật, thì nước Mỹ thực tế đã có lỗi ngay từ ban đầu.

Nhưng những điều đó không phải là sự thật. Ở đây không bác bỏ rằng những Nhà Lập Quốc là những người không hoàn thiện và đề cao lợi ích cá nhân, hoặc vài người trong số họ đã sở hữu nô lệ. Jefferson, để ví dụ, đã sở hữu hơn 200 nô lệ và chưa bao giờ trả tự do cho họ. Washington cũng đã sở hữu nô lệ và đã trả tự do cho họ khi ông ta chết.

Mặc dù vậy, trường hợp của Jefferson đã phơi bày một chuyện: khác xa với suy nghĩ rằng cuộc sống trong nông trại có đầy những người nô lệ hạnh phúc, một lập luận sau này được sử dụng rất phổ biến trong giới Dân Chủ miền nam, Jefferson (người Virginian) đã liên tục lên án chế độ nô lệ là bất công và vô đạo đức. “Thượng đế không có đặc tính nào để đứng về phía chúng ta,” ông ta đã viết. ”Tôi lo sợ cho đất nước tôi khi tôi nói rằng Thượng Đế là công bằng, rằng công lý của ngài không thể ngủ yên mãi được.”

Hơn nữa, Jefferson đã khẳng định rằng chế độ nô lệ rất tồi tệ cho người nô lệ và cho cả người chủ nô lệ. Nó tồi tệ cho người nô lệ bởi vì, họ không được gìn giữ thành quả lao động của họ, họ trở thành những người kém sáng tạo và lười biếng. Jefferson đã chỉ ra, rằng chế độ nô lệ đã có tác động tương tự đến những người chủ nô lệ. Vì không cần phải làm việc, những người chủ nô lệ cũng đã trở nên kém sáng tạo và lười biếng. Hơn nữa, nhiều người chủ nô lệ đã thực hành một chế độ cai trị tàn bạo trên những nô lệ của mình, điều này biến họ thành những nhà độc tài nhỏ trong chính vương quốc nhỏ của họ.

Những lập luận đó, rất ngạc nhiên, đều đến từ một người chủ nô lệ. Điều đáng chú ý không phải là việc Jefferson – người chủ nông trại – đã sở hữu nô lệ, nhưng mà chính người chủ nô lệ này đã tuyên bố rằng “tất cả con người đều được tạo ra một cách bình đẳng.”

Ở đây chúng ta có thể so sánh Jefferson với người sáng lập ra Đảng Dân Chủ, Andrew Jackson. Khác với Jefferson, Jackson chưa bao giờ có một sự hoài nghi nào về sự bất công của chế độ nô lệ. Điều đã dẫn đến sự phẫn nộ của Jackson về chủ đề nô lệ chính là sự kích động của những nhà đấu tranh để dẹp bỏ nó. Trong bài diễn văn hàng năm đến quốc hội năm 1835, Jackson đã kêu gọi cho những bộ luật để “cấm, dưới hình thức phạt rất nặng, ở những tiểu bang miền nam, thông qua đường dây bưu điện, việc lưu hành của những bài viết có mục đích kích động người nô lệ nổi dậy.”

Jefferson thì khác, ông ta là một ví dụ điển hình của những nhà Lập Quốc trong việc ông ta nhìn nhận rằng nô lệ là một điều sai trái và người da đen cũng có quyền lợi. Vì phải đối mặt với những người biện minh cho chế độ nô lệ với những lập luận rằng người da đen thua kém người da trắng về mặt trí tuệ, Jefferson đã đáp lại, “cho dù năng khiếu của họ là gì, đó cũng không phải là thước đó quyền lợi của họ.”

Nếu Jefferson và những nhà Lập Quốc đã biết rằng tất cả con người đều được tạo ra bình đẳng, và rằng người da đen có quyền lợi, tại sao không cấm nô lệ và thành lập sự công bằng trong quyền lợi dưới pháp luật ngay từ ban đầu? Câu trả lời đơn giản là nếu họ đã làm điều đó, thì sẽ không bao giờ có một liên minh. Các nhà Lập Quốc ở Philadelphia lúc đó không chọn liệu nên có một liên minh với chế độ nô lệ hoặc một liên minh không có chế độ nô lệ. Họ đang lựa chọn việc nên có một liên minh với chế độ nô lệ hoặc không có một liên minh nào. Nếu những Nhà Lập Quốc đã quyết định sẽ không có một liên minh, thì chế độ nô lệ sẽ vẫn tiếp tục ở các tiểu bang. Trong trường hợp đó, chế độ nô lệ có thể đã tồn tại lâu hơn ở Mỹ so với thực tế.

Các Nhà Lập Quốc đã lựa chọn tốt hơn. Họ đã lập ra một ngày để chấm dứt nạn buôn nô lệ sớm hơn – việc cấm nhập khẩu nô lệ. Họ đã cấm chế độ nô lệ ở Lãnh Thổ Bắc (nhất là những vùng trung bắc, bao gồm Wisconsin, Michigan, Illinois, Indiana và Ohio).

Quan trọng hơn, họ đã thành lập một liên minh dựa trên những nguyên tắc chống chế độ nô lệ, tuy nhiên vẫn tạm thời cho phép sự tồn tại của chế độ nô lệ. Trong Hiến Pháp hoàn toàn không có sử dụng từ “nô lệ.” Những người nô lệ luôn được miêu tả là “con người,” gợi ý rằng họ cũng có những quyền lợi tự nhiên. Điều khoản 3-5, một điều mà vài nhà cấp tiến đã cho rằng nó chứng minh sự định giá thấp của các Nhà Lập Quốc về giá trị của người da đen, thực tế là một biện pháp để hạn chế quyền lực của những tiểu bang cho phép chế độ nô lệ – cuối cùng nó cũng đã giúp đem lại quyền lực cho những tiểu bang tự do.

Các Nhà Lập Quốc đã tin rằng những biện pháp đó sẽ qua thời gian làm suy yếu chế độ nô lệ và khiến nó chết dần. Điều này thì họ đã sai lầm, bởi vì sự sáng chế của chiếc máy tỉa bông gòn của Eli Whitney vào năm 1793 – một điều mà các Nhà Lập Quốc không thể nào lường trước được – đã làm hồi sinh lại nhu cầu cho nô lệ ở miền nam.

Tuy nhiên, những nỗ lực của các Nhà Lập Quốc đã làm suy yếu chế độ nô lệ. Trước năm 1776, chế độ nô lệ được coi là hợp pháp trong tất cả các tiểu bang. Mặc dù vậy, đến năm 1804 tất cả các tiểu bang trên phía bắc của Maryland đã xóa bỏ chế độ nô lệ toàn bộ hoặc dần đần. Chế độ nô lệ không còn là một chế độ toàn quốc nữa mà là một phần của đất nước, và là một thứ gây tranh cãi về mặt chính trị và đạo đức.

Nhà chống chế độ nô lệ của Đảng Cộng hòa ông Frederick Douglass, một người trước đây đã lên án  thành lập liên minh là một sự thỏa thuận kinh tởm đối với chế độ nô lệ, cuối cùng cũng hiểu được thành tựu của các nhà Lập Quốc. “Hãy loại bỏ chế độ nô lệ vào ngày mai,” ông ta nói, “và chúng ta không cần phải thay đổi một chữ hay một câu nào trong Hiến Pháp cả.” Chế độ nô lệ, như ông ta kết luận, đơn thuần chủ là “giai đoạn đầu của một cấu trúc vĩ đại, nó sẽ được loại bỏ một khi tòa nhà đã được hoàn thành.” Douglas biết rằng điều đó cần sự nỗ lực của các nhà Cộng Hòa để chiến đấu và cuối cùng chấm dứt chế độ nô lệ.

Những hoạt động chống chủ nghĩa nô lệ, đã có trước sự thành lập của Đảng Cộng Hòa, tuy nhiên cuối cùng nó đã tìm được tiếng nói hiệu quả nhất trong đảng phái đó. Những đối thủ ban đầu chống lại chế độ nô lệ ở Mỹ là những nhà Thiên Chúa Giáo, đa phần là Quaker và phe Tin Lành. Họ đã tin một cách nghiêm vào cái ý tưởng trong kinh pháp rằng tất cả con người đều bình đẳng trong mắt của Chúa, và định nghĩa rằng không một người nào có quyền để cai trị người khác nếu không có sự cho phép của họ.

Điều đáng chú ý là những nhà Thiên Chúa Giáo đã khám phá ra sự bình đẳng trong chính trị thông qua một sự giải thích thần học của Kinh Thánh. Đối với họ, bình đẳng nhân loại không được dựa trên một sự bình đẳng của những thành tích hay danh tính của con người, mà dựa trên mức độ chúng ta được yêu mến bởi Chúa như thế nào. Hơn nữa, những lập luận chống lại chế độ nô lệ và dân chủ đều dựa trên một cơ sở tương tự, một cơ sở dựa trên sự bình đẳng nhân loại và sự đồng ý của từng cá nhân.

Hội Chống Chế Độ Nô Lệ Ở Mỹ được thành lập vào năm 1833. Vài năm sau đó, Đảng Tự Do (Liberal Party) được thành lập để theo đuổi mục đích đó. Vào năm 1848, Đảng Tự Do, phe Whigs chống chế độ nô lệ và các nhà Dân Chủ mà phản đối sự mở rộng của chế độ nô lệ đã gom sức để thành lập Đảng Đất Nước Tư Do (Free Soil Party). Chủ nghĩa xoá bỏ nô lệ, một thứ với mục đích loại bỏ chế độ nô lệ ngay lập tức, đã có mặt từ thời lập quốc nhưng đã phát triển mạnh trong giới chính trị vào giửa thế kỷ 19.

Với việc thông qua của Bộ Luật Kansas Nebraska – việc huy bỏ Thỏa Hiệp Missouri, một điều làm hạn chế sự lan rộng của chế độ nô lệ ngoài vĩ tuyến 36-30 – Những Nhà Free Soilers, trước đây là Whigs, và các nhà chống chế độ nô lệ đã gom sức lại với nhau và thành lập Đảng Cộng Hòa.

Hết 3.3

Facebook Comments