Nước Mỹ Của Hillary Clinton 3.2 – Tẩy trắng lịch sử

3.2 Tẩy trắng lịch sử

“Ôi trời!” Bạn có thể nói. “Chúng tôi chưa bao giờ được nghe về câu chuyện của những nhà Dân Chủ. Ông có phịa ra chuyện này không?” Thực tế, không. Chẳng có gì trong những thứ tôi viết trong chương này có thể gây tranh cãi trong việc nó có thật hay không. Tôi dựa vào những nhà sử học về chế độ nô lệ chính thống: David Brion Davis, Kenneth Stampp, Eugene Genovese, Orlando Patterson. Bằng cách nào, những lập luận của tôi có thể nghe vô lý được? Nguyên nhân là những nhà Dân Chủ cấp tiến đã tẩy trắng lịch sử của Đảng Dân Chủ. Họ đã xóa sạch dữ liệu.

Bằng cách nào? Họ đã làm việc đó bằng 2 cách. Cách thứ nhất là lấy những tội ác của Đảng Dân Chủ và đổ lỗi cho nước Mỹ. Các nhà cấp tiến ngày nay rất nhanh chóng để đổ lỗi lên nước Mỹ cho chế độ nô lệ và những tội ác khác. Nước Mỹ đã làm những điều đó, nước Mỹ đã làm những điều này. Như chúng ta sẽ thấy trong cuốn sách này, nước Mỹ đã không làm những điều đó, những nhà Dân Chủ mới là những thủ phạm. Nên các nhà Dân Chủ đã thông minh và đổ lỗi cho những tội ác của họ lên nước Mỹ, và trình bày bản thân mình như những vị cứu tinh để chuộc lại những lỗi lầm đó. Điều đó nghe rất điên rồ, nhưng cũng rất khéo léo. Chúng ta phải công nhận sự kéo léo đó của họ.

Cách thứ hai họ dùng để tẩy trắng sự thật về Cuộc Nội Chiến và miêu tả nó như là một cuộc chiến giữa miền Bắc và miền Nam. Miền Bắc được cho là chống nô lệ còn miền Nam được cho là bên ủng hộ nô lệ. Một ví dụ gần đây là bài viết của Ta-Nehisi Coates về lá cờ chiến đấu của Phe Liên Minh trong tạp chí The Atlantic. Có một chút sự thật trong việc này, cuộc Nội Chiến được chiến đấu giữa những tiểu bang miền bắc và những tiểu bang miền nam. Nhưng sự chia rẽ này làm lơ đi vài chi tiết quan trọng.

Thứ nhất, những người bảo vệ những mục tiêu của Phe Liên Minh là, gần như không có ngoại lệ, những nhà Dân Chủ. Coates đã trích nhiều người ủng hộ từ Thượng Nghị Sĩ Jefferson Davis đến Thượng Nghị Sĩ James Henry Hammond đến Thống Đốc Bang Georgia Joseph Brown. Mặc dù xác định những người đó là những người miền nam và Liên Minh, Coates đã che giấu sự thật rằng họ là những nhà Dân Chủ.

Thứ hai, Coates và những nhà cấp tiến khác đã bỏ qua sự thật rằng những nhà Dân Chủ miền bắc cũng là những người bảo vệ chế độ nô lệ. Chúng ta sẽ thấy trong chương này cách Stephen Douglas và những nhà Dân Chủ miền bắc khác chiến đấu để bảo vệ chế độ nô lệ ở miền nam và những vùng lãnh thổ mới. Hơn nữa, những người miền nam mà đã chiến đấu cho phe Liên Minh không thể nói rằng họ đã chiến đấu chỉ để bảo vệ nô lệ trên những trang trại của họ. Thậm chí, ít hơn một phần ba những gia đình da trắng ở miền nam trước Cuộc Nội Chiến có nô lệ.

Vì vậy, sự giải thích Bắc-Nam của cuộc nội chiến đã che giấu – và thực tế là cố tình che giấu – hành động chủ động của phe Dân Chủ ở khắp đất nước để cứu, bảo vệ và thậm chí nới rộng chế độ nô lệ. Như tờ báo Charleston Mercury đã xuất bản trong cuộc tranh luận về việc ly khai, nhiệm vụ của miền nam là để “tập hợp dưới lá cờ của Đảng Dân Chủ, một đảng thừa nhận và ủng hộ những quyền lợi của miền nam.”

Sự chia rẽ thực sự là giữa Đảng Dân Chủ – những người ủng hộ nô lệ – và Đảng Cộng hòa – những người phản đối chủ nghĩa nô lệ. Tất cả những nhân vật và đã đứng lên bảo vệ chế độ nô lệ ở Mỹ – Thượng Nghị Sĩ John C. Calhoun và Stephen Douglas, Tống Thống James Buchanan, Tổng Thẩm Phán Toàn Án Tối Cao Roger Taney, người đưa ra quyết định trong vụ kiện Dred Scott, và những nhà lãnh đạo chính của Phe Liên Minh – đều là những người của Đảng Dân Chủ.

Tất cả những người ủng của sự giải phóng người da đen – từ nhà chống chế độ nô lệ Sojourner Truth và Frederick Douglass, cho đến người phụ nữ đã thành lập tổ chức Underground Railroad, Hariet Tubman, cho đến nhà lãnh đạo đưa ra những quyết định để cuối cùng tiêu diệt chế độ nô lệ ở Mỹ, Abraham Lincoln – đều là những người Cộng Hòa. Đây là một trong những sự thật quan trọng nhất để các nhà tuyên truyền cánh tả che giấu hoặc ít ra là làm lơ sự thật lịch sử này.

Hãy bắt đầu với sự cáo buộc của phe cấp tiến về những nhà sáng lập của nước Mỹ. “Jefferson đã không thật lòng khi ông ta viết rằng tất cả con người đều được tạo ra bình đẳng,” nhà sử học John Hope Franklin đã viết. “Sự thật chúng ta là một dân tộc mù quáng và đã luôn như vậy.” Franklin đưa ra lập luận rằng bằng cách đi ngược lại với những nguyên tắc của tự do và chi phép chế độ nô lệ tiếp tục, “những nhà sáng lập nước đã xây dựng cơ chế cho tất cả những thế hệ người Mỹ sau này để xin lỗi, thỏa hiệp và trì hoản những nguyên tắc đó.”

Trong bối cảnh đó, Thượng Nghị Sĩ Bradley đã nói rõ về quan điểm cánh tả rằng “chế độ nô lệ là tội ác ban đầu của chúng ta.” Và Thẩm Phán Toàn Án Tối Cao Thurgood Marhsall đã từ chối và “nhận ra rằng sự khôn ngoan, tầm nhìn và nhận thức công lý được trưng bày bởi những nhà lập nước thật sự sâu sắc. Cái chính phủ mà họ đã dựng lên đã bị lỗi ngay từ ban đầu.” Thay vì ăn mừng, Marshall đã viết, người Mỹ nên tìm một “sự hiểu biết của những khuyết điểm của Hiến Pháp.”

Hãy chú ý đến lời hùng biện ở đây. ”Chúng ta là một dân tộc mù quáng.” Đây là lời nói của một người Mỹ gốc Phi. Liệu ông ta có ý rằng chính ông ta cũng mù quáng? Đương nhiên là không. “Chúng ta” ở đây nghĩ là “người Mỹ.” Ý của Bradley cũng tương tự. “Tội lỗi ban đầu của chúng ta” đương nhiên không đề cập đến chính ông ta, một người chưa bao giờ sở hữu nô lệ. Thay vào đó, đó là một giả định của một trách nhiệm chung, hoặc chính xác hơn, một sự phân bổ của trách nhiệm đến người Mỹ nói chung.

Trong quan niệm phe cánh tả, nước Mỹ đến bị đổ lỗi, và những người phạm lỗi đầu tiên là những Nhà Lập Quốc. Sự kết luận của phe cấp tiến là sự sáng lập là một lỗi lầm, và thành lập một chủ trương cấp tiến để thay thế và cách xa những nguyên tắc từ thời lập quốc, một điều mà Obama gọi là “sự tái xây dựng lại” của nước Mỹ.
Hết 3.1-2

Facebook Comments