Cuộc suy thoái mà bạn chưa từng nghe đến: 1920-1921

Cuộc suy thoái mà bạn chưa từng nghe đến: 1920-1921

Khi nói đến việc chẩn đoán nguyên nhân của cuộc Đại Suy Thoái và đề ra cách chữa trị cho căn bệnh suy thoái kinh tế hiện nay của chúng ta, các học giả và nhà kinh tế từ những trường đại học lớn nhất thường tranh luận về hai loại can thiệp khác nhau. Đại-chính phủ của các nhà kinh tế học Keynes, như Paul Krugman, nghiêng về lập luận kích thích tài chính khổng lồ – đó là, thâm hụt ngân sách khổng lồ – để lắp đầy khoảng trống trong tổng nhu cầu. Mặt khác, những người theo thuyết trọng tiền của Tiểu-chính phủ, những người đi theo trong truyền thống Học thuyết kinh tế tự vận hành của Milton Friedman, tin rằng FED cần phải bơm thêm tiền để ngăn chặn nền kinh tế rơi vào suy thoái sâu. Tuy nhiên, cả hai phe trong cuộc tranh luận này đều đồng ý rằng sẽ là thảm họa hoàn toàn nếu chính phủ và Fed quay lưng lại và cho phép các tác nhân thị trường thực hiện quá trình tự nhiên của chúng sau khi một thị trường chứng khoán hoặc thị trường nhà đất chính phá sản.

Ngược lại, nhiều nhà kinh tế học trường phái Áo từ chối cả hai hình thức can thiệp này. Họ cho rằng thị trường tự do sẽ phản ứng theo cách hiệu quả nhất có thể sau một đổ vỡ lớn (chẳng hạn như sự sụp đổ của thị trường chứng khoán năm 1929 hoặc bong bóng nhà đất trong thời đại chúng ta). Như chúng ta thấy, những kinh nghiệm của Hoa Kỳ trong thời kỳ suy thoái 1920-1921 – điều mà người đọc có lẽ chưa bao giờ nghe nói đến -gần như là một thí nghiệm trong phòng thí nghiệm thể hiện các sai sót của cả hai trường phái Keynes và phái trọng tiền.

 

Cuộc Đại Suy Trầm năm 1929-1933

Mặc dù những điều mà nhiều người đọc chắc chắn “đã học được” trong các lớp học lịch sử của mình khi còn nhỏ, Herbert Hoover đã cư xử giống như một cuốn sách giáo khoa mà các nhà Keynes theo đuổi sau sự sụp đổ của thị trường chứng khoán năm 1929. Cùng với Bộ Trưởng Tài Chính Andrew Mellon, Hoover đã đạt được sự tán đồng tuyệt đối về điểm giảm thuế thu nhập một tỷ lệ phần trăm đối với năm tính thuế 1929.

Hoover không dừng lại với việc cắt giảm thuế để thúc đẩy “tổng cầu” – mặc dù các nhà phân tích tại thời điểm đó đã không sử dụng thuật ngữ này. Ông cũng đã ký thành luật tăng ngân sách liên bang ồ ạt, với năm tài chính 1932 chi tiêu tăng 42% so với năm 1930. Hoover đã chỉ đạo thâm hụt trong thời bình chưa từng thấy, trái ngược hoàn toàn với người tiền nhiệm của ông Calvin Coolidge, người đã chỉ đạo thặng dư ngân sách hàng năm trong nhiệm kỳ của mình. Trong thực tế, trong chiến dịch bầu cử tổng thống năm 1932 Franklin Delano Roosevelt (FDR) đã vận động cho một ngân sách cân bằng và chỉ trích kỷ lục chi tiêu thiếu thận trọng của tổng thống đương nhiệm của đảng Cộng Hòa.

Nó không chỉ đơn thuần là Hoover đã tiêu một xấp tiền. Ông ta đã tiêu nó trên những thứ mà chúng ta gắn với Chính Sách Kinh Tế Mới của Roosevelt ngày nay. Ví dụ, ông ta đã ký vào rất nhiều dự án công, bao gồm đập Hoover. Ngày nay, đặc biệt đó là Tổng Công Ty Tài Chính Tái Cấu Trúc (RFC) được thành lập theo lệnh của Hoover, nhanh chóng bơm vào hơn 1 tỉ USD để vực dậy các ngân hàng gặp khó khăn tạo ra các khoản nợ xấu trong những năm bùng nổ của những năm cuối thập niên 1920 -và điều này là do 1 tỷ USD lúc đó thực sự có giá trị.

Đúng là Hoover cuối cùng đã lẫn tránh lời hứa và tăng thuế trong năm 1932, trong một nỗ lực để giảm thâm hụt ngân sách liên bang. Ngày nay các nhà kinh tế học Keynes dùng tới động thái này như là bằng chứng cho thấy việc giảm thâm hụt ngân sách là một ý tưởng tồi trong một cuộc suy thoái. Tuy nhiên, một giải thích giá trị tương đương đó là tăng thuế suất ở giữa một thảm họa kinh tế thì thật là khủng khiếp. Sau đợt cắt giảm thuế lớn được thúc đẩy bởi Andrew Mellon vào thập niên 1920, đỉnh tỷ lệ thuế thu nhập cận biên vào năm 1932 đứng ở mức 25%. Năm tiếp theo, vì mong muốn của Hoover là lấp cái hố ngân sách lại, mức thuế suất thuế thu nhập cao nhất là 63%. Với mức tăng lãi suất trong một năm bất thường như thế này, không nghi ngờ gì năm 1933 là năm tồi tệ nhất trong lịch sử kinh tế của Hoa Kỳ. (Điều giá trị của nó là, thâm hụt ngân sách năm tài chính 1933 là vẫn còn rất lớn, lên đến 4,5% GDP. Mặc dù tăng lãi suất rất lớn, thu thuế liên bang chỉ tăng 3,8% từ năm tài chính 1932 đến năm tài chính 1933.)

Vì vậy, chúng ta thấy rằng câu chuyện kinh điển của trường phái Keynes, mà vẽ nên Herbert Hoover như một người không làm gì, là hoàn toàn sai. Tuy nhiên, lời giải thích của Milton Friedman cho cuộc Đại Suy Thoái gần như là rất mơ hồ. Theo sau sự sụp đổ của thị trường chứng khoán, Ngân Hàng Dự Trữ New York ngay lập tức cắt giảm suất chiết khấu –số tiền mà các khoản vay phải trả – trong một nỗ lực nhằm giải cứu hệ thống tài chính đang bị bao vây. Ngân Hàng Dự Trữ New York tiếp tục cắt giảm suất chiết khấu của nó trong hai năm tiếp theo, đẩy xuống đến mức 1,5% vào tháng 5/1931. Tại thời điểm đó, đây là suất chiết khấu thấp nhất của Ngân Hàng Dự Trữ New Yor kể từ khi thành lập Hệ thống Dự Trữ Liên bang vào năm 1913.

Nó không chỉ đơn thuần là Fed (cùng với các ngân hàng trung ương khác trên thế giới) đã tính lãi suất thấp bất thường lên các khoản vay mà nó đề xuất từ bảng tính chiết khấu của mình. Tâm lý của các thống đốc ngân hàng trung ương hầu như là khác nhau trong những năm đầu của cuộc Đại Suy Thoái. Viết vào năm 1934, Lionel Robbins đã nhận thấy đầu tiên rằng trong các cuộc khủng hoảng trước đó, giải pháp cho các giám đốc ngân hàng trung ương là tính suất chiết khấu cao để phân biệt những khoản tốt xấu. Những công ty mà thực sự có khả năng thanh toán nhưng tính thanh khoản thấp sẽ sẵn sàng trả lãi suất vay cao của ngân hàng trung ương để giúp họ vượt qua được thời kỳ khó khăn của mình. Mặt khác, các công ty mất khả năng trả nợ sẽ bị sàng lọc bởi vì họ không có khả năng để trả lãi suất cao. Tuy nhiên, biện pháp thuốc đắng giã tật này đã không được sử dụng sau vụ sụp đổ năm 1929, như Robbins giải thích: “Trong cuộc suy thoái hiện nay, chúng ta đã thay đổi tất cả. Chúng ta tránh phải thực hiện cuộc phẫu thuật đau đớn để cắt đứt cơn bệnh đó. Chúng ta thích kéo dài căn bệnh hơn. Ở khắp mọi nơi, trong thị trường tiền tệ, trong thị trường hàng hóa và trong khu vực rộng lớn của công ty tài chính và nợ công, những nỗ lực chỉ đạo của các Ngân hàng Trung ương và Chính phủ để vực dậy các vị trí kinh doanh xấu. “

Do đó chúng tôi nhìn thấy một mô hình kỳ lạ. Khi nó đến cả với chính sách tài khóa lẫn tiền tệ trong suốt thập niên 1930, các chính phủ và ngân hàng trung ương đã thực hiện các chiến lược tương tự như cách mà các chuyên gia rắc rối khuyến cáo ngày nay cho cuộc khủng hoảng hiện tại của chúng ta. Tất nhiên, các nhà Keynes và những người theo thuyết trọng tiền ngày nay sẵn sàng đáp trả lại: Họ sẽ nói với chúng ta rằng các loại thuốc theo phác đồ điều trị của họ (tương ứng với thâm hụt và bơm tiền) không được dùng đủ liều lượng lớn. Đó là sự rụt rè khi áp dụng thâm hụt ngân sách của Hoover (đối với các nhà Keynes) hoặc bơm tiền của FED để áp dụng tính thanh khoản (đối với những người theo thuyết trọng tiền) đã gây ra cuộc Đại Suy Thoái.

 

Cuộc suy thoái 1920-1921

Bối cảnh này nhấn mạnh tầm quan trọng của cuộc khủng hoảng 1920-1921. Ở đây chính phủ và FED đã làm trái ngược với những gì các chuyên gia ngày nay khuyến cáo. Ý chúng tôi muốn nói về những điều giống nhau nhất với một thí nghiệm có kiểm soát trong kinh tế vĩ mô mà người ta có thể mong muốn. Nói cách khác, nó không phải là chính phủ tăng ngân sách với một tốc độ chậm hơn, hoặc cho rằng Fed cung cấp một chút thanh khoản kém. Ngược lại, chính phủ cắt giảm ngân sách của mình rất nhiều, và FED tăng lãi suất tới mức kỷ lục. Do đó chúng ta có một thí nghiệm khá rõ ràng để kiểm tra hiệu quả các biện pháp của phái Keynes và phái trọng tiền.

Vào lúc kết thúc Chiến Tranh Thế Giới Thứ I, các quan chức Hoa Kỳ cảm thấy chính họ đang trong một tình thế rất ảm đạm. Các khoản nợ liên bang bùng nổ vì chi phí chiến tranh, và tỷ lệ lạm phát giá tiêu dùng hàng năm đã tăng cao hơn 20% vào cuối cuộc chiến.

Để khôi phục lại sự lành mạnh cho tài chính và giá cả, các cơ quan chức năng đã thực hiện những chính sách “tàn nhẫn” đến ngày nay chúng ta khó có thể tin nổi. Từ năm tài chính 1919 sang năm tài chính 1920, chi tiêu liên bang đã giảm từ 18,5 tỷ USD xuống còn 6,4 tỷ USD -giảm 65% trong một năm. Ngân sách cũng đã bị đẩy xuống trong hai năm kế tiếp, đến mức 3,3 tỷ USD trong năm tài chính 1922.

Về mặt tiền tệ, FED New York đã tăng suất chiết khấu đến mức cao kỷ lục 7% vào tháng 6/1920. Bây giờ người đọc có thể nghĩ rằng lãi suất danh nghĩa này đã thực sự được “nới lỏng” hơn so với suất chiết khấu 1,5% tính vào năm 1931 bởi vì những thay đổi trong tỷ lệ lạm phát. Nhưng ngược lại, sự giảm phát giá cả trong cuộc suy thoái 1920-1921 lại là nghiêm trọng hơn. Từ đỉnh trong tháng 6/1920, Chỉ Số Giá Tiêu Dùng giảm 15,8% trong 12 tháng tiếp theo. Ngược lại, giảm phát giá cả từ năm này qua năm khác chưa bao giờ đạt được thậm chí 11% tại bất kỳ điểm nào trong thời kỳ Đại Suy Thoái. Cho dù chúng ta có nhìn vào lãi suất danh nghĩa và lãi suất “thực” (điều chỉnh lạm phát) hay không, FED đã rất “chặt chẽ” trong suốt cuộc suy thoái 1920-1921 và rất “lỏng lẻo” trong thời điểm bắt đầu cuộc Đại Suy Thoái.

Bây giờ, một số nhà kinh tế học hiện đại sẽ chỉ ra rằng câu chuyện của chúng ta đã bỏ sót một yếu tố quan trọng. Mặc dù FED đã cắt giảm suất chiết khấu đến mức thấp kỷ lục tại thời điểm bắt đầu cuộc Đại Suy Thoái, tổng lượng tiền tồn trữ được nắm giữ bởi công chúng bị xì hơi gần một phần ba từ năm 1929 đến năm 1933. Đây là lý do tại sao Milton Friedman đổ lỗi cho FED đã không làm hết khả năng của mình để ngăn chặn cuộc Đại Suy Thoái. Bằng cách làm ngập hệ thống ngân hàng với dự trữ mới được tạo ra (một phần của “lượng tiền tệ”), FED có thể bù đắp các khoản rút tiền mặt khổng lồ của công chúng đang hoảng loạn và giữ cho tổng lượng tiền tồn trữ không thay đổi.

Nhưng lập luận sắc bén này cũng thất bại trong việc chứng minh tại sao cuộc suy thoái 1929-1933 lại nghiêm trọng hơn cuộc suy thoái năm 1920-1921. Sự sụp đổ trong cơ số tiền tệ (được kiểm soát trực tiếp bởi FED) trong thời gian 1920-1921 là lớn nhất trong lịch sử Hoa Kỳ, và nó lấn át sự sụp đổ trong suốt những năm đầu mà Hoover nắm quyền. Vì vậy, chúng tôi nhấn cùng một vấn đề: Những người theo trường phái tiền tệ giải thích rằng cuộc Đại Suy Thoái 1929 áp dụng tất cả các luận điểm này để giải thích cho cuộc suy thoái 1920-1921.

 

Kết quả

Nếu các nhà Keynes nói đúng về cuộc Đại Suy Thoái, thì cuộc suy thoái 1920-1921 có lẽ phải còn tồi tệ hơn nữa. Điều tương tự cũng đúng đối với các nhà theo trường phái trọng tiền; những điều trong cuộc suy thoái của thập niên 1920 có lẽ khủng khiếp hơn nữa nếu lý thuyết của họ về cuộc suy thoái của thập niên 1930 là đúng.

Chắc chắn, cuộc suy thoái 1920-1921 rất đau đớn. Tỷ lệ thất nghiệp lên đến đỉnh điểm 11,7% trong năm 1921. Tuy nhiên, nó đã giảm xuống còn 6,7% vào năm sau, và giảm xuống còn 2,4 % trong năm 1923. Sau cuộc suy thoái, Mỹ bước vào tận hưởng ”Những năm 20 bùng nổ” được cho là thập niên thịnh vượng nhất trong lịch sử của đất nước này. Một số sự thịnh vượng này là ảo tưởng – tự thân nó là kết quả của lạm phát do FED gây nên – nhưng dù sao cuộc suy thoái 1920-1921 đã “thanh lọc sự mục nát ra khỏi hệ thống” và đem tới một khung sườn vững chắc cho sự phát triển bền vững.

Như chúng ta đã biết, những thứ trở nên rõ ràng khác biệt trong thập niên 1930. Mặc dù các chính sách tài khóa và tiền tệ dễ dãi của chính quyền Hoover và Cục Dự Trữ Liên Bang-mà các chuyên gia ngày nay nói là cần thiết để tránh những “sai lầm của cuộc Đại Suy Thoái” – tỷ lệ thất nghiệp vẫn sẽ giữ ở mức càng ngày càng cao, ở mức đáng kinh ngạc trung bình 25% vào năm 1933. Và tất nhiên, sau khi cuộc “đại suy giảm” Mỹ tiếp tục trì trệ trong cuộc Đại Suy Thoái trong những năm 1930, đó là thập niên ít thịnh vượng nhất trong lịch sử của nước Mỹ.

Kết luận này có vẻ là hiển nhiên cho bất cứ ai mà trí óc họ không bị khóa chặt vào cái khung Keynes hoặc phái trọng tiền: Thị trường tự do hữu hiệu. Ngay cả khi đối mặt với những cú sốc lớn đòi hỏi phải điều chỉnh cơ cấu lớn, điều tốt nhất mà chính phủ có thể làm là cắt giảm ngân sách của chính mình và trả lại nhiều nguồn lực hơn cho khu vực tư nhân.

Về phần mình, Cục Dự Trữ Liên Bang đã không giúp được gì trong vấn đề này bằng cách làm tràn ngập thị trường với những tờ tiền. Giá cả có thể điều chỉnh để làm sạch thị trường lao động và các thị trường khác. Trong quá trình này, các chính trị gia và thống đốc ngân hàng trung ương nên đừng cản trở động cơ của thị trường và để nó tự điều chỉnh.

 

Vampire @ Café Ku Búa

Theo Robert P. Murphy, The depression you’ve never heard of 2910-2921

Robert P. Murphy là giáo sư phụ tá nghiên cứu với Viện Thị Trường Tự Do tại Đại học Kỹ thuật Texas

Facebook Comments