Nước Mỹ Của Obama 2.0 – Chương 02 Người đàn ông vô hình

Nước Mỹ Của Obama – Vì sao Obama lại muốn làm suy yếu nước Mỹ?

Phần 2 – Người đàn ông vô hình

 

“Tôi phục vụ như một màn hình trắng – một thứ để mọi người từ nhiều lập trường chính trị khác nhau có thể đưa ra nhận định riêng của họ.” – Barack Obama, The Audacity of Hope

 

Trong hai năm vừa qua, kể từ khi cuốn “Nguồn gốc của cơn thịnh nộ của Obama” được xuất bản, tôi đã học càng nhiều càng tốt về Barack Obama. Tôi không phải là người đơn độc trong việc này. Nhiều người khác cũng đã nghiên cứu về lĩnh vực này. Một người muốn bác bỏ tờ giấy khai sinh của Obama, một người khác tìm cách chứng minh rằng người khác đã viết cuốn sách của Obama, người thứ ba tìm cách cho thấy rằng người cha thật sự của Obama là nhà cộng sản Frank Marshall Davis, và vân vân. Kỳ lạ một điều mà, đã có rất ít cuộc điều ra về Obama và lý lịch của ông ta trên truyền thông đại chúng. Về vấn đề này, tôi đã đi đến Hawaii và Indonesia và Kenya, đi theo bước chân của Obama và thấu hiểu cuộc hành trình của ông ta, tôi cảm thấy rằng chính tôi cũng đã trải qua giai đoạn đó. Khi tôi khám phá ra nhiều thứ, tôi cảm giác như mình đang khám phá ra một thế giới riêng tư giữa Obama và tôi. Không phải vì tôi là một người tài giỏi, mà vì gần như không có ai khác đang làm điều tương tự. Hơn nữa, tôi có thể thấy thế giới như Obama, không phải qua đôi mắt của một người Mỹ mà qua đôi mắt của một công dân toàn cầu. Như Obama, tôi biết cách chuyển mình giữa quan niệm Mỹ và quan niệm toàn cầu. Obama có cái nhìn khác lạ bởi vì đó chính là cách mà ông ta đã lớn lên, và ông ta đã làm như vậy trong suốt cuộc đời của mình. Với tư cách là một người nhập cư nhìn Hoa Kỳ từ bên ngoài và từ bên trong, tôi cũng có thể làm điều tương tự. Tất cả những điều này đã giúp tôi thấu hiểu Obama và cho tôi thấy phía cạnh của Obama mà chưa bao giờ được phơi bày. Và chủ đề là một trong những chủ đề vô cùng quan trọng, bởi vì ở một thời điểm quan trọng cho Hoa Kỳ, Obama muốn có một nhiệm kỳ thứ hai. Nếu chúng ta không biết và hiểu ông ta trước đây, thì bây giờ chúng ta cần phải hiểu ông ta.

Barack Obama là một trong những cá nhân ít được biết đến nhất để đi vào Nhà Trắng. Nhà bình luận Charles Krauthammer đã nhìn nhận sự việc vào năm 2008, “Một điều đang thiếu ở đại hội đảng Dân Chủ trong năm này là những người quan trọng thực sự đã hiện diện ở một lúc nào đó trong cuộc đời của Obama. Họ có thể đã nói những câu như: tôi biết Barack Obama. Tôi đã tham gia hoạt động với Barack Obama.” Hãy nghĩ về cuộc đàm thoại giữa phóng viên Charlie Rose và Tom Brokaw gần ngày bầu cử năm 2008:

 

Rose: Chúng ta biết cái gì về những người hùng của Barack Obama?

Brokaw: Có rất nhiều điều về ông ta mà chúng ta không biết.

Rose: Tôi không biết ông ta thực sự nhìn Trung Quốc như thế nào.

Brokaw: Chúng ta không biết rất nhiều về Barack Obama và thế giới tư duy của ông ta về chính sách ngoại giao.

Rose: Tôi không biết quan niệm toàn cầu của Barack Obama là gì?

Brokaw: Tôi cũng vậy.

 

Bất ngờ hơn nữa là thậm chí khi Obama đã ở trong Nhà Trắng, những điều bí ẩn kia vẫn chưa được giải tòa. Obama vẫn là, như nhà bình luận James Fallow viết, “người đàn ông chúng ta đã trở nên quen thuôc, mà thực sự không biết gì.” Hai năm vào nhiệm kỳ tổng thống của ông ta, vào năm 2010, người viết tiểu sử của Obama, Jonathan Alter, có thể viết là, “Chưa bao giờ mà chúng ta biết quá ít về một người được quan sát chặt chẽ đến vậy.” Cùng vào thời điểm đó, nhà bình luận Richard Cohen đã viết, “Chưa bao giờ có câu hỏi hoài nghi về việc Reagan là ai và lập trường ông ta là gì. Còn Obama thì khác.” Một năm sau, năm 2011, Bill Keller đã viết trong tờ New York Times, “Ông ta đã thất bại trong việc định nghĩa chính mình. Ông ta là một trong những số tổng thống khó hiểu của chúng ta, ông ta không có gốc rễ ở bất cứ nơi nào hoặc bất cứ phong trào nào.” Bài viết của Heller mang tên “Điền vào chỗ trống” (Fill in the Blanks). Và thậm chí đến bây giờ, những chỗ trống đó đã không được điền vào. Nhà viết tiểu sử của Obama, David Maraniss, viết, “Khi Obama gần đến năm thứ tư của nhiệm kỳ, nhiều người cho rằng ông ta bí ẩn hơn khi ông ta được bầu chọn. Điều này trông rất đúng đối với những người đã ủng hộ ông ta và muốn ông ta thành công.”

Một phần sự bí ẩn của Obama là cá nhân. Có rất nhiều khoảng trống trong câu chuyện cá nhân của ông ta. Tôi không nói về những thuyết âm mưu về nơi sinh của ông, rằng liệu Obama đã thật sự sinh ra ở Hoa Kỳ không. Vấn đề đó làm phân tâm những vấn đề khác trong cuộc đời của Obama, mà cho đến bây giờ vẫn chưa có câu trả lời. Để ví dụ, chưa có ai đã phơi bày điểm tú tài SAT của Obama khi ông ta nộp đơn vào đại học, hoặc điểm số của ông ta ở Đại Học Columbia, hoặc điểm thi LSAT vào trường luật. Chúng ta thậm chí không biết ai là bạn và đồng nghiệp của Obama trong thời ông ta học Đại Học Columbia. “Tôi đã dành nhiều thời gian trong thư viện.” Obama đã nói với một phóng viên sinh viên trong năm 2005. “Thậm chí tôi đã không giao tiếp nhiều. Tôi giống như một thầy tu vậy.” Đến những ông thầy tu còn sống trong những cộng đồng, và thầy tu này còn phải đi đến lớp nữa. Một người bình thường sẽ kỳ vọng rằng, với một cái tên lạ như Barack Obama, vài người trong lớp của ông ta sẽ nhớ đến Obama. Khi Obama được bầu chọn làm Tổng Thống, tờ New York Times đã muốn tìm và phỏng vấn những người đã biết và nhớ Obama trong thời gian tại Columbia. Tờ New York Times đã không tìm được một người nào, và khi phóng viên liên lạc với Obama, “ông ta đã từ chối những yêu cầu để nói về những năm tháng của ông ta tại New York, từ chối phát hành bảng điểm, hoặc xác nhận một sinh viên, một đồng nghiệp, một bạn cùng phòng hoặc một người bạn từ những năm tháng đó.”

Chuyện tình của Obama, trước khi ông ta gặp người vợ Michelle của mình, cũng đã thoát khỏi sự chú ý của truyền thông trong vài năm nay. Obama diễn tả một mối quan hệ nghiêm túc mà ông ta đã có với một người phụ nữ da trắng, và ông ta đã thậm chí đến ngôi nhà của cô ta ở quê trong một dịp cuối tuần. Mối quan hệ này không phải là mối quan hệ thông thường: “Chúng tôi đã hẹn hò với nhau gần một năm trời.” Cuối cùng thì nhà báo David Maraniss đã xác nhận được người phụ nữ đã hẹn hò với Obama ở New York và gợi ý rằng cô ta có thể là người bạn gái bị lãng quên. Tuy nhiên lời kể của cô ta về mối quan hệ đó không có giống như những gì Obama đã đưa, và Maraniss đã dẫn lời Obama rằng câu chuyện của ông ta được dựa trên sự tổng hợp của vài người bạn gái. Điều này chỉ làm cho sự khó hiểu trở nên khó hiểu hơn: những người bạn gái đó giờ ở đâu? Tại sao một trong số họ không lộ diện? Tại sao chưa có một nhà báo nào đã theo dõi họ và phỏng vấn họ?

Tất cả những điều trông rất lạ, không chỉ bởi vì có quá nhiều điều không ai biết về vị tổng thống sau nhiệm kỳ đầu tiên của ông ta, mà vì các phóng viên cũng không quan tâm đến việc theo đuổi những sự thật. Thậm chí những người chỉ trích Obama, như truyền thông cánh hữu hoặc Ủy Ban Đảng Cộng Hòa, cũng đã không bỏ thời gian hoặc công sức để theo đuổi những thông tin mờ ám này. Do đó, sự bí ẩn về Obama không chỉ riêng về ông ta, nó cũng là một nét đặc thù trong văn hóa chính trị của chúng ta. Vì sao chúng ta lại hài lòng khi biết quá ít về vị tổng thống này, Obama – còn những vị tổng thống khác thì không?

Sau đây là một đặc thù cá nhân về con người của Obama: vài trong những người thân gần gũi nhất của ông ta đang sống trong nghèo đói, nhưng ông ta đã từ chối giúp đỡ họ bằng bất cứ cách nào. Người cô của ông ta là Hawa Auma. Cô ta miêu tả bản thân mình như sau: “Tôi là một người con gái của Hussein Onyango Obama và người em gái của Barack Obama (cha) và người cô của tổng thống.” Hawa Auma là một góa phụ trong độ tuổi bảy mươi, và bạn có thể gặp cô ta ở trên đường phố của một thị trấn nhỏ ở Kenya tên Oyugis. Ở đó cô ta bán than bên lề đường, công việc đem lại thu nhập chỉ đủ ăn. Cô ta nói rằng cô ta muốn đi khám răng, nhưng cô ta không có tiền.

Và sau đó là George Obama, người em cùng cha khác mẹ của tổng thống Obama. George là người con thứ tám và người con nhỏ nhất của Barack Obama (cha), người con mà ông ta có với người vợ thứ tư của mình, Jael Otieno. Tôi gặp George lần đầu trong chiến dịch tổng thống 2008 khi tôi lướt qua một bài báo của một tờ báo London nói rằng “George Obama, người em thất lạc của Barack Obama, đã được tìm thấy là đang sống ở ngoại ô Nairobi.” Trong bài báo đó, George đã được trích dẫn nói rằng ông ta đang sống bằng vài dollar mỗi ngày. Ông ta rất ngại sử dụng cái tên Obama. “Nếu có ai nói cái gì đó về họ của tôi, tôi nói chúng tôi không liên quan gì đến nhau. Tôi rất xấu hổ.” Một báo cáo tiếp theo trên CNN cho thấy cái lều rộng 2m x 3m ở khu ổ chuột Huruma ở Nairobi. Một người láng giềng của George, Emelda Negei, đã nói với CNN như sau, “Tôi rất muốn Obama đến thăm em trai ông ta để coi ông ấy đang sống thế nào, để giúp đỡ ông ấy.” Nhưng Obama chưa bao giờ đến cũng như chưa bao giờ giúp em trai George một đồng nào. Chúng ta sẽ gặp George, và tìm hiểu thêm về ông ta trong những bài sắp tới.

Cuối cùng, có trường hợp này của Trường Barack Obama ở làng Kogelo ở Kenya, nơi cha của Obama đã lớn lên. Obama đã đến thăm Kogelo khi ông ta là một thượng nghị sĩ vào năm 2006, và ông ta đã được chào đón như một anh hùng. Có hai trường học ở Kogelo, và cả hai đều được đổi tên theo ông ta: Trường Tiểu Học Thượng Nghị Sĩ Obama và Trường Trung Học Thượng Nghị Sĩ Obama. Một phần ba học sinh ở đó là trẻ mồ côi. Obama đã đến thăm ngôi trường và chứng kiến lớp học thiếu cơ sở vật chất như điện, toilet và nước. Ông ta đã nói với những người có mặt ở đó, bao gồm cả tổng thống Kenya, những chính trị gia địa phương và truyền thông rằng, “Hy vọng rằng tôi có thể hỗ trợ chút ít trong việc xây dựng tương lai của ngôi trường này.” Sau đó ông ta cam kết với hiệu trưởng Yuanita Obiero, “Tôi đã nói rằng tôi sẽ hỗ trợ ngôi trường và tôi sẽ làm như vậy.” Hai năm sau, vào tháng 7 2008, Obiero đã nói với tờ London Evening Standard, “Obama đã không cam kết với những lời hứa của ông ta. Ông ta đã không đưa chúng tôi một đồng xu nào. Nhưng chúng tôi vẫn còn hy vọng.” Gần đây tôi đã đến thăm trường và được nghe rằng Obama vẫn chưa đóng góp bất cứ thứ gì để hỗ trợ. Một người dân địa phương đã nói với tôi, “Chúng tôi đã hoàn toàn từ bỏ hy vọng rằng ông ta sẽ giúp đỡ chúng tôi.”

Phần đông của giới truyền thông Mỹ từ chối báo cáo về những thông tin như thế này về Tổng Thống Obama. Đây là một điều quá lạ. Những hành vi của Obama trong những tình huống này rất kỳ lạ, không chỉ vì Obama là một nhà triệu phú và một người quyền lực nhất thế giới – việc ông ta đóng góp sẽ chẳng mất gì – mà còn bởi vì chủ trương chính trị của ông ta được dựa trên việc kêu gọi những người khá giả hơn chi trả để hỗ trợ những người kém may mắn hơn họ. Obama muốn ép người giàu đóng thuế nhiều hơn để có lợi cho người nghèo và tầng lớp trung lưu. Tuy nhiên trong tình huống mà Obama đang ở trong vị trí trực tiếp để đóng góp mà bất cứ ai cũng nghĩ rằng có mọi lý do để đóng góp, khi một ít đóng góp có ý nghĩa rất lớn, vậy mà ông ta không hề đóng góp bất cứ điều gì.

Tôi nghĩ tôi có thể làm sáng tỏ, mặc dù không phải là tất cả, những điều bí ẩn cá nhân này của Obama. Sự tập trung của tôi trong cuốn sách này là sự bí ẩn về mặt lý tưởng của Barack Obama. Trong quá trình giải mãi bí ẩn này, tôi tin chúng ta sẽ hiểu vì sao Obama không thú vị gì đối với ngôi trường đặt tên theo ông ta, vì sao ông ta không màn giúp đỡ người thân ruột thịt của mình, và tại sao ông ta lại cố gắng che giấu những thông tin cá nhân quan trọng về bản thân ông ta.

Chúng ta có thể thấy sự bí ẩn về mặt tư tưởng của Obama trong những thứ trái nghịch mà người ta nói về ông ta. Từ bên phía cánh tả: ông ta là Tổng Thống người Mỹ gốc Phi đầu tiên. Đây có thể là cách phổ biến nhất về Obama mà công chúng biết đến. Đó cũng chính là cách mà người viết tiểu sử về Obama nhìn về ông ta trong cuốn sách, “Sự Kết Nối” (The Bridge). Mặc dù vậy vẫn có nhiều người nhất quyết cho rằng Obama không phải là người da đen. Đó là bởi vì ông ta chưa bao giờ ngồi ở bàn ăn trưa tách biệt khỏi người da trắng, tổ tiên ông ta cũng không phải là người nô lệ như những người Mỹ da đen khác. Đây là điều trái ngược với Michelle Obama, một người có gốc gác từ nông trại nô lệ ở bang Carolina. Chồng của bà ta, đã lớn lên ở Hawaii và Indonesia với nhiều chuyến viếng thăm Kenya, Indonesia và Pakistan. Qua lời thừa nhận của chính ông, Obama đã không sống một cuộc sống với những trải nghiệm tương tự như những người Mỹ da đen khác.

Thú vị là khi Tổng Thống Obama đã cho thấy rằng ông ta không quan tâm đến những vấn đề da đen, từ chính xách ưu tiên đến tội phạm kích động và sự nghèo đói trong các khu phố. Ông ta làm lơ trước những vấn đề đó, khiến cho những nhà hoạt động da đen như tavis Smiley, Ishmael Reed, Michael Eric Dyson và Cornel West nói rằng, “thực tế là cho đến bây giờ Barack Obama đối xử với người Mỹ da đen như một người đối xử với một người chú bị điên, một người được đem ra khỏi phòng để bị chế nhạo và la mắng trước mọi người lần này qua lần khác.” West cho rằng Obama “không quan tâm đến sự nghèo khổ của người da đen…Những chính sách của ông ta đang tạo nên một sự bất mãn trong giới người nghèo, nhất là người da đen và da nâu.” West đã gọi những chính sách của Obama là “bộ luật kỳ thị Jim Crow mới.”

Không quá khó để thấy vì sao những sự phàn nàn này đang ngày càng nhiều. Người Mỹ gốc Phi đã chịu đựng những tổn thất kinh tế lớn lao trong thời kỳ 4 năm của Obama. Tỷ lệ thất nghiệp của người Mỹ da đen gần 15 phần trăm, gần gấp đôi tỷ lệ của người da trắng. Từ 2008, người da đen đã chứng kiến tài sản của họ suy giảm, đa phần vì sự suy sụp trong giá nhà. Của cải người da đen trước đây ở mức $10,000, 1 phần 10 so với người da trắng. Bây giờ giá trị của cải trung bình của người da đen chỉ là $4,900, 1 phần 20 so với người da trắng. Viết trong tạp chí The New Republic, ông Isabel Wilkerson đã báo cáo rằng “gần một trong bốn gia đình da đen không có tài sản gì trừ chiếc xe.” Nhiều thành viên của Ủy Ban Da Đen Quốc Hội rất giận dữ và thất vọng với Obama. Trong một cuộc họp Ủy Ban Da Đen ở Detroit, Dân Biểu Maxine Waters đã thừa nhận. “Người dân chúng ta đang bị tổn thương,” cô ta nói. “Tỷ lệ thất nghiệp bây giờ đang ở mức không thể chấp nhận được.” Mặc dù vậy, cô ta nói rằng Obama chẳng bao giờ thấy xuất hiện. “Ông ta không xuất hiện ở trong bất cứ một cộng đồng da đen nào.” Waters thừa nhận rằng cô và những nhà lãnh đạo Mỹ gốc Phi khác rất sợ để chỉ trích Obama. “Nếu chúng tôi chỉ trích Tổng Thống quá nặng,” cô ta nói, các cử tri da đen sẽ “tiêu diệt chúng tôi.” Obama trông rất tự tin rằng ông ta có sự ủng hộ tuyệt đối của người da đen. Xuất hiện trước Ủy Ban Da Đen vào năm 2011, ông ta đã trấn an những nỗi lo ngại của họ và đưa họ sự hướng dẫn của mình. “Hãy ngừng phàn nàn đi, ngừng càu nhàu đi, ngừng khóc đi….cởi dép ngủ của bạn và mang vào đôi giày đi làm của bạn đi.”

Nhiều nhà cánh tả xem Obama là một người lý tưởng của họ, người thách thức can đảm chống đối lại giới tài chính Phố Wall và những tập toàn khổng lồ và lạm quyền. Mặc dù vậy những nhà cánh tả đó cũng bày tỏ sự khó hiểu rằng Obama rất lớn tiếng đối với những người Mỹ ở trên top của xã hội, nhưng ông ta không bày tỏ nhiều nỗi lo ngại hoặc cảm thông với những người Mỹ ở tầng lớp dưới của xã hội. Chắc chắn rằng, như vài người đã nói, vì Obama là một nhà tri thức. Ông ta quá thông minh và quá bận rộn với những ý tưởng hàn lâm. Maureen Dowd so sánh Obama với Ông Spock (một nhân vật trong phim Star Trek) và chú ý đến “logic và sự tách biệt tương tự như Vulcan – máy móc – của ông ta.” Jacob Weisberg nhận xét, “Mối quan hệ của ông ta với thế giới chủ yếu là dựa trên lý trí và phân tích thay vì trực giác và cảm tính.” Một nhà sử học Harvard có nguyên một cuốn sách, Đọc Về Obama (Reading Obama), để tập chung về những ý tưởng của Obama. Cuốn sách cho rằng Obama là một thành viên của một giống nòi quý hiếm của những nhà triết học trong vị trí tổng thống và cuốn sách cho rằng nó tập trung vào những tác phẩm của chuyên sâu của Obama. Nhưng hóa ra là cuốn sách đó đã vô tình trở nên một cuốn châm biếm ngoài ý muốn bởi vì nó dẫn đến một sự tiết lộ rằng Obama hoàn toàn không có bất cứ tác phẩm nào. Obama đã từng là một biên tập viên của tờ Luật Harvard (Harvard Law Review), nhưng chưa bao giờ viết hay xuất bản một bài nào. Không những vậy, ông ta chưa bao giờ xuất bản bất cứ một bài hàn lâm nào về bất cứ chủ đề nào trong bất cứ tạp chí nào. Nỗ lực chính của Obama trong giới hàn lâm có thể tìm thấy ở trong hai cuốn sách, cả hai đều là hai cuốn tự truyện của ông ta. Do đó, những tác phẩm trí tuệ của ông ta chủ yếu bao gồm hai tác phẩm về chính bản thân ông ta. Tôi không bác bỏ rằng Obama rất thông minh, nhưng ông ta không phải là một nhà triết học như bao người đã lầm tưởng. Nếu ông ta trông giống như ông ta không quan tâm đến những người Mỹ nghèo và bình thường, thì đó chính là bởi vì ông ta thật sự không quan tâm đến những người Mỹ nghèo và bình thường.

Nhiều nhà bên phe cấp tiến đã nhận thấy điều này, và họ đã mạnh miệng chỉ trích Obama. Ông ta không phải là một người cấp tiến, họ khẳng định, mà ông ta là một người bán đứng bản thân cho giới Phố Wall. Viết trong tạp chí New York Times Magazine, Fran Rick đã phê bình Obama với “sự thất bại trong việc yêu cầu một mức bồi thường hoặc mức phạt từ những lợi ích nhóm tài chính.” Nhà bình luận Robert Kuttner than thở, “Tôi không thể nhớ một vị tổng thống nào mà đã tạo ra nhiều sự phấn khích khi còn là ứng cử viên nhưng lại là một chính trị gia tồi tệ khi là tổng thống.” Vài nhà lãnh đạo công đoàn đã chỉ trích Obama vì đã hạ thấp vấn đề việc làm và tập trung và những vấn đề khác. “Obama đã tranh cử rất quy mô, nhưng ông ta làm việc rất nhó,” Larry Hanley, chủ tịch của Công Đoàn Vận Tải Amalgamated, đã nói. Chủ tịch của AFL-CIO, ông Richard Trumka nói rằng những công đoàn cần một chiến thuật mới để có một tiếng nói độc lập tách biệt khỏi Obama và những nhà viện trợ cho Đảng Dân Chủ. Những nhà cấp tiến khác, điển hình là Ron Suskind trong cuốn sách của ông “Những Người Đàn ông Tự Tin” (Confidence Men), nói rằng Obama là một người có ý tốt nhưng là một người kém hiệu quả – một người đã bị thao túng bởi những cán bộ đã bán đứng mình cho giới Phố Wall.

Từ góc nhìn của phe cánh hữu, chúng ta thường được nghe rằng Obama là một nhà chủ nghĩa xã hội muốn chính phủ thay thế doanh nghiệp tư nhân. Jonah Goldberg phản ánh quan niệm của ông ta trong bài báo, “Obama là một nhà CNXH gì?” (What Kind of a Socialist is Barack Obama?). Đây là một câu hỏi chính đáng. Đúng là trong nhiệm kỳ của Obama, quyền lực của chính phủ đã được nới rộng đến ngân hàng, các công ty đầu tư, các công ty bảo hiểm và các công ty xe hơi. Tuy nhiên Obama vẫn chưa đề xuất một sự thay thế trong phương tiện sản xuất bởi các công ty tư nhân bằng những công ty chính phủ, một điều đích thực của chủ nghĩa xã hội. Hơn nữa, cho dù nếu chủ nghĩa xã hội có thể giải thích chính sách kinh tế của Obama, nó không thể giải thích chính sách ngoại giao của ông ta.

Trong những báo xuất bản cánh hữu như tờ National Review và Weekly Standard, quan niệm phổ biến về Obama là ông ta là một nhà cánh tả của Dân Chủ, không khác gì Bill Clinton hoặc cựu ứng cử viên đảng Dân Chủ Jọn Kerry, Al Gore hay Michael Dukakis. Mitt Romney gọi Obama là một “người cánh tả tiêu tiền nhiều,” một người lấy cảm hứng chính trị của mình từ những chính khách dân chủ xã hội ở Châu Âu. Tuy nhiên các nhà dân chủ xã hội Châu Âu đã thực hiện những chính sách cắt giảm ngân sách, trong khi Obama đang tìm cách ngăn cản họ làm việc đó. Hơn nữa, Obama bác bỏ bất cứ sự liên kết nào giữa ông ta và Châu Âu. Trong cuốn “Ước Mơ Từ Cha Tôi,” ông ta viết rằng, sau chuyến đi đến Châu Âu, “không phải là Châu Âu không đẹp….mà là nó không phải là của tôi.” Chuyến đi Châu Âu của Obama chỉ chiếm vài đoạn trong cuốn sách của ông ta, trong khi chuyến đi đến Keyna sau đó của ông ta chiếm đến 130 trang. Có thể Mitt Romney không biết nhiều hơn, nhưng có thể là ông ta chỉ đang nói về Obama một cách lịch sự. Romney không thích dùng thuật ngữ “chủ nghĩa xã hội” nên ông ta dùng thuật ngữa “dân chủ xã hội.” Và ông ta không thích dùng từ “Châu Phi,” nên ông ta dùng từ “Châu Âu” khi nói về lý tưởng chính trị của Obama. Còn đối với những nhà cánh hữu khác, họ đưa ra những lập luận mà bác bỏ ý tưởng rằng Obama chỉ là một người cấp tiến Dân Chủ. “Nếu Obama  được tái bầu chọn,” tờ Weekly Standard đã bình luận, “rất có thể là người Mỹ sẽ không bao giờ tận hưởng sự tự do, khả năng thanh toán ngân sách hoặc sự thịnh vượng kinh tế được tận hưởng bởi những người Mỹ trước đây.” Trong quan niệm này, Obama đang đe dọa ước mơ Mỹ một cách cơ bản. Nhưng điều này không thể áp dụng đối với những người như Clinton, Kerry, Gore hoặc Dukakis. Một người như Obama không thể là một người cánh tả Dân Chủ như chúng ta thường được biết đến.

Một điệp khúc đang được giới cánh hữu sử dụng là Obama không được thông minh cho lắm. “Được đánh giá quá mức,” là một tiêu đề của một bài báo. “Đường Cong Học Tập Của Obama,” là một tiêu đề khác. Một cuốn sách gần đây gọi Obama là một “Kẻ Vụng Về Trưởng” (Bungler in chief). Những cụm từ chỉ trích như vậy thường được sử dụng bởi Brett Stephens của tờ Wall Street Journal. “Tổng thống Obama không thông minh  cho lắm,” Stephens viết, nói thêm rằng Obama “đưa ra những dự đoán hoàn toàn sai lầm….Ông ta đã từ bỏ những vị trí mình đã giữ trước công chúng…..Mỗi lần ông ta mở miệng, ông ta làm suy giảm giá trị tài chính.” Stephens giả định rằng Obama làm những gì ông ta làm bởi vì ông ta ngu ngốc. “Nói ngu ngốc cũng như làm ngu ngốc….nhiệm kỳ tổng thống của Barack Obama  là một trường hợp của sự ngu ngốc.” Tuy nhiên nếu Obama thật sự ngu ngốc, thì làm sao ông ta có thể đạt được nhiều thứ hơn bất cứ một vị tổng thống Đảng Dân Chủ nào đã làm được từ thời Lyndon Johnson, hoặc có thể làm từ thời Franklin Roosevelt? Ông ta đã thay đổi mối quan hệ của người dân với chính quyền một cách cơ bản, và ông ta đã làm thay đổi vị thế của Mỹ trong chính trường thế giới, tất cả chỉ trong một nhiệm kỳ. Obama có thể đã không thành công trong việc đạt được những chủ trường cánh hữu theo góc nhìn của Brett Stephens, nhưng ông ta đã rất thành công trong việc thực hiện chủ trương chính trị của mình.

Từ những cuộc tranh luận, chúng ta nghe những lời vu khống nặng nề hơn: Obama ghét Hoa Kỳ, hoặc ông ta là một người Hồi Giáo – sự cam kết của ông ta có thể được thấy trong việc ông ta ủng hộ những thánh chiến Hồi Giáo và những tên khủng bố cực đoan, hoặc ông ta là một người hèn hạ hoặc một người yêu hòa bình dị ứng với việc sử dụng quân lực. Hành động quả quyết của Obama trong việc ra lệnh giết chết Osama Bin Laden đã làm suy yếu những lập luận đó, những sự vu khống mà không có căn cứ ngay từ ban đầu. Obama không căm ghét Hoa Kỳ – ông ta làm những gì ông ta đang làm bởi vì ông ta tin rằng đó là những điều tốt cho Hoa Kỳ, và cho cả thế giới. Obama không dị ứng với việc sử dụng quân lực, một điều ông ta đã chứng minh trong chiến dịch tiêu diệt Ben Laden mà còn ở Libya. Hoàn toàn không có bằng chứng rằng Obama là một người Hồi Giáo. Cha của ông ta và cha dượng của ông ta Lolo Soetoro được sinh ra và lớn lên là người Hồi Giáo, nhưng cả hai đều trở thành người vô thần, cũng như mẹ của Obama, Ann. Obama được nuôi mà không có một tính ngưỡng nào. Tôi đã từng hỏi một người Hồi Giáo cánh hữu rằng ông ta có thấy bất cứ điều gì trong Obama cho thấy ông ta là một người Hồi Giáo không. “Hoàn toàn không,” ông ta trả lời. Rồi ông ta nói thêm, “Obama sẽ trở thành một người tốt hơn nếu ông ta là một người Hồi Giáo.”

Có một cuốn sách tên Vị Tổng Thống Mãn Châu, cho rằng Obama là một người cực đoan hành động thay mặt cho lực lượng chống Mỹ. Cuốn sách cho thấy rằng Obama hành động trong những cách quái lạ và khác thường, nhưng nó không phơi bày ai đang thao túng và điều khiển ông ta. Tôi đã bị cuốn hút để đọc một bài báo bởi nhà kinh tế Kevin Hassett tên “Ủng Cử Viên Mãn Châu Tuyên Chiến Với Doanh Nghiệp.” Hassett là một đồng nghiệp cũ của tôi tại Học Viện American Enterprise và là một người trái ngược với những nhà thuyết âm mưu kia. Hassett đã viết, “Tưởng tượng rằng một kẻ thù nào đó đã tốn hàng năm trời trong việc chuẩn bị một ứng cử viên Mãn Châu để tiêu diệt nền kinh tế Hoa Kỳ một khi ông ta được bầu chọn. Nhà lãnh đạo đó sẽ theo đuổi những chính sách gì?” Hassetts sau đó cho rằng một nhà lãnh đạo như vậy sẽ theo đuổi những chính sách mà Obama đang thực hiện. Nhưng sau đó ông lại kết luận, “rất rõ ràng rằng Tổng Thống Obama muốn điều tốt đẹp nhất cho đất nước chúng ta. Đó là điều khó hiểu nhất vì sao ông ta lại cai trị như một ứng cử viên Mãn Châu.”

Đây là câu đố mà cuốn sách này muốn trả lời. Hassett đề cập đến vấn đề một cách rõ ràng. Nếu Obama là một tổng thống Hoa Kỳ muốn những điều tốt đẹp nhất cho Hoa Kỳ, thì tại sao ông ta lại đang làm những thứ làm tổn thương Hoa Kỳ? Nếu chúng ta có thể trả lời câu hỏi đó, chúng ta không chỉ hiểu được Obama, chúng ta thậm chí hiểu được vì sao nhiều nhà phê bình lại nói những điều điên rồ và khó tin về ông ta.

Obama đưa chúng ta một thử thách cá biệt. Chúng ta phải thừa nhận rằng chưa bao giờ chúng ta có một tổng thống tạo ra những phản ứng trái nghịch nhau, không chỉ giữa những hệ tư tưởng chính trị, mà còn trong những hệ chính trị. Với  Bush hoặc Clinton hoặc Reagan hoặc Carter, chúng ta có thể yêu mến họ hoặc ghét họ, nhưng nói chung chúng ta biết họ là ai. Bush là một anh chàng cao bồi từ Texas và là một người cánh hữu theo loại tiêu tiền nhiều. Reagan là một người lạc quan từ miền trung-tây và California đã đưa ông ta một cái nhìn thành thị. Clinton là một người đạo đức miền nam mà từng làm Thống Đốc, ít ra ông ta đã là một người trung lập sau cuộc bầu cử quốc hội năm 1994. Carter là một người đạo đức miền nam – một người kém hiệu quả trong việc giải quyết những vấn đề trong nhiệm kỳ của mình. Đối với những người ngưỡng mộ và chỉ trích, những người đàn ông đó đều là những người Mỹ thông thường như bao người khác.

Obama thì không. Viết trong tờ Wall Street Journal, Dorothy Rabinowitz gọi Obama “người ngoài hành tinh trong Nhà Trắng.” Rabinowitz đã cách xa bản thân từ những người cho rằng  Obama không sinh ra ở Mỹ. Và tuy nhiên, cô ta nói, Obama “đang muốn những giá trị mà người dân đã coi là hiển nhiên trong tổng thống của họ.” Rabinowits nói thêm, “một phần lớn của Hoa Kỳ bây giờ hiểu rằng nhận thức về danh tính của vị tổng thống này đang nằm ở nơi khác, và ít nhiều không giống họ. Để ví dụ, người Mỹ kỳ vọng rằng lãnh đạo của họ sẽ bênh vực họ, và bảo vệ lợi ích của họ. Nhưng Obama đã tập trung vào những lợi ích của cộng đồng quốc tế….một điều mà ông ta cho rằng mình đang đại diện dù ít hay nhiều.” Thậm chí những tổng thống Đảng Dân Chủ, cô ta viết, đã liên tục coi bản thân họ là những người hỗ trợ và thúc đẩy lợi ích của Hoa Kỳ. Rabinowitz thừa nhận rằng những thái độ ủng hộ những lợi ích toàn cầu trên lợi ích quốc gia thường không phải là hiếm, nó đang được phổ biến ở nước ngoài và thậm chí ở trong nước Mỹ. “Họ là những thái độ có thể tìm thấy ở bất cứ mọi nơi, nhưng chưa bao giờ tìm thấy được ở một vị tổng thống  Mỹ.” Obama, trong quan niệm của Rabinowitz, không phải là một người Dân Chủ truyền thông, ông ta có một cái nhìn của một người nước ngoài. Cô ta nói rất đúng.

Đã liệt kê một trong những điều bất bình thường của Obama mà tách biệt Obama khỏi những tiêu chuẩn chính trị của Mỹ. Obama bắt đầu nhiệm kỳ của mình với lời hứa thống nhất Hoa Kỳ và cai trị như một người đứng giữa. Hãy đọc lại bài diễn văn của Obama tại đại hội đảng Dân Chủ 2004, một bài diễn văn có thể được thực hiện bởi Ronald Reagan. Hoặc, trước đây, Obama đã viết trong “Sự Liều Lỉnh Của Hy Vọng,” “cốt lõi trong trải nghiệm Hoa Kỳ là một sự tổng hợp của những lý tưởng tiếp tục làm náo động lương tâm của chúng ta, một tập hợp của những giá trị mà ràng buộc chúng ta lại với nhau…Chúng ta cần một loại chính trị mới, một loại chính trị có thể đào và xây dựng dựa trên những sự thấu hiểu chung mà lôi kéo chúng ta lại với nhau thành người Mỹ.” Tuy nhiên Obama đã cai trị như một vị tổng thống gây chia rẽ nhiều nhất trong các vị tổng thống trong lịch sử Hoa Kỳ. Ông ta đã nhanh chóng thúc đẩy quốc hội thông qua bộ luật cải cách y tế mà không có sự ủng hộ của một thành viên đảng Cộng Hòa. Ông ta bác bỏ phe đối lập và cho rằng họ là người tham lam, ích kỷ và vô đạo đức. Nhiều lúc Obama đã gọi những đối thủ Đảng Cộng Hòa của ông ta là “kẻ thù” và “những kẻ bắt cóc con tin” và so sánh họ với với những tên khủng bố. “Họ có quả bomb trong người và có ngón tay để lên nút cò kích hoạt.” Thậm chí những người ủng hộ Obama cũng phải công nhận những lời lẽ của ông ta rất là kích động. Nhà sử học Sean Wilentz viết rằng nhiệm kỳ tổng thống Obama đã “khẳng định và nới rộng sự chia rẽ trong đảng phái như chưa bao giờ hết.” Mặc dù đã bị cử tri phản đối ở cuộc bầu cử quốc hội 2010 – một kết quả đã khiến Bill Clinton trở thành một người trung lập – Obama đã bác bỏ và không chịu trở thành một người trung lập và không chịu thay đổi chủ trương. Một người trung lập như Obama trông như thích chấp nhận sự thất bại và thua cuộc trong bầu cử để có thể tiếp tục thúc đẩy chủ trương chính trị của mình.

Obama đã công thêm vào số nợ công quốc gia đến mức Hoa Kỳ đang có nguy cơ rủi ro phá sản và thậm chí một cuộc sụp đổ kinh tế trong vòng bốn năm tới, nhưng Obama dường như chẳng quan tâm. Nếu ông ta có cơ hội, chắc chắn rằng ông ta sẽ tiêu nhiều hơn nữa. Đúng, mức nợ công đã gia tăng từ thập niên 1980, nhưng như một nhà kinh tế học đã diễn tả, mức nợ hàng năm của thời Reagan bây giờ là mức nợ hàng tháng dưới Obama. Chi tiêu của chính phủ liên bang Hoa Kỳ đã tăng từ $2.9 nghìn tỷ vào 2008 đến $3.7 nghìn tỷ vào năm nay. Hiện tại chính phủ đang vay mượn 40 phần trăm của chi tiêu. Rất nhiều số nợ đó được sở hữu bởi người nước ngoài và các chính phủ nước ngoài, và dựa theo nhà kinh tế Stephen Cohen và Bradford DeLong, “số tiền đó sẽ không trở lại Mỹ trong thời gian sớm nhất.” Trong cuốn sách của họ “Sự Chấm Dứt Của Ảnh Hưởng” (The End Of Influence), họ cảnh cáo rằng số nợ công đó sẽ không chỉ thay đổi vị thế kinh tế của Mỹ trong thế giới mà còn vị thế chính trị, quân sự, văn hóa và lãnh đạo nữa. Tác giả đã dự đoán, “tiêu chuẩn sống của người Mỹ sẽ giảm, tương đương với những nước công nghiệp và phát triển” và “Hoa Kỳ sẽ mất đi quyền lực và ảnh hưởng của cô ấy.” Họ kết thúc như sau: “Hoa Kỳ sẽ tiếp tục là người lãnh đạo của thế giới, nhưng họ sẽ không còn là lãnh tụ nữa. Những quốc gia khác, suy cho cùng, sẽ có số tiền đó.” Obama trông có vẻ hài lòng với điều này. Thậm chí, gần đây ông ta đã nói rằng người Mỹ ước mơ nên được thu hẹp lại đến mức khiêm tốn hơn như: “nuôi gia đình,” “không phá sản,” “có bảo hiểm y tế có thể giúp bạn đối phó với những thời kỳ khó khăn,” “có tiền tích lũy cho hưu trí.” Obama kết luận rằng, “Đó chính là điều đa số người muốn. Những người không có những tham vọng phi thực tế. Họ tin rằng nếu họ làm việc siêng năng họ sẽ đạt được một phần nhỏ của giấc mơ Mỹ.”

Trong khi Obama đã ngăn chặn việc khoan dầu ở Hoa Kỳ, ông ta đã quảng bá và thậm chí trợ cấp những dự án khoan dầu ở những nước khác. Obama đã trì hoãn đề xuất dự án đường dẫn ống dầu Keystone mặc dù dự đoán nó sẽ, cho dù trong thời kỳ kinh tế khó khăn, sẽ tạo ra hàng ngàn việc làm mới cho người Mỹ. Nhiều người giải thích hành động của Obama như là một sự nhượng bộ cho các tổ chức môi trường, và điều này phù hợp với quan niệm của phe cánh hữu về Obama – một người cánh tả thông thường, một người tương tự như Al Gore. Tuy nhiên, Al Gore không giống như Obama. Gore tin rằng trái đất đang bị nhiễm bệnh, và ông ta muốn mọi người vòng quanh thế giới nên giảm lại mức sử dụng năng lượng của họ và khí thải carbon của họ để ngăn chặn sự nóng lên của trái đất. Một ví dụ: vào 9/5/2011, chính quyền Obama đã tuyên bố rằng họ sẽ hỗ trợ $2.84 tỷ tiền của người Mỹ để trợ cấp cho những dự án khoan dầu và lọc đầu ở quốc gia Nam Mỹ Colombia. Số tiền đó được đến tay công ty Reficar, một công ty con của chính phủ Colombia. Giờ thì có lý lẽ nào để Hoa Kỳ đưa tiền cho chính phủ Colombia để họ khoan và lọc dầu không? Một người có thể kỳ vọng rằng lượng dầu khí đó sẽ đi đến Hoa Kỳ, nhưng ngân hàng Xuất-Nhập Khẩu Hoa Kỳ, tổ chức thành khoản giao dịch, xác nhận rằng đó không phải là sự thật. Lượng dầu đó sẽ được sử dụng bởi Colombia, và người Colombia sẽ bán lượng thặng dư trên thị trường xuất khẩu. Điều này dẫn đến một câu hỏi lớn hơn: tại sao Obama lại chặn việc khoan đầu ở Mỹ nhưng lại quảng bá nó ở nơi khác?

Obama thường xuyên thúc đẩy lợi ích của những công ty nước ngoài trước những công ty Mỹ. Hiện tại chính quyền Obama đang quảng bá một hiệp ước thương mại trên Trans-Pacific Partnership (TPP). Được biên soạn bởi đội ngũ của Obama, hiệp ước TPP sẽ ngăn chặn bất cứ một nhà sản xuất nào của Mỹ từ việc quảng bá “Mua Hàng  Mỹ” (Buy America) từ việc đấu thầu để lấy những hợp đồng của chính phủ Mỹ nằm trong hiệp ước đó. Một điều khoản khác sẽ cho phép các công ty nước ngoài làm việc ở Mỹ có thể kháng cáo những quyết định về những vấn đề lao động và môi trường đến một tòa án quốc tế. Tòa án quốc tế này sẽ có thẩm quyền để bác bỏ những bộ luật của Mỹ và thực hiện những mức án trừng phạt thương mại ở Mỹ nếu những doanh nghiệp không tuân theo quyết định của họ. Khi 60 dân biểu đảng Dân Chủ phản đối vì tác động của bộ luật này đến với chủ quyền và việc làm của Mỹ, các quan chức của Obama đã từ chối chia sẻ với họ những điều khoản của hiệp ước và nói rằng họ chỉ muốn thực hiện quá trình một cách không phân biệt đối xử.

Vào năm 2011, chính quyền Obama đã đối mặt với gói đấu thầu của hai công ty cho một hợp đồng quân sự trị giá $1 tỷ USD. Hợp đồng được đấu thầu giữa Hawker Beechcraft, một công ty có trụ sở ở Wichita, bang Kansas và công ty Embraer của Brazil, được sở hữu bởi chính phủ Brazil. Công ty Hawker đã hoạt động gần gũi với Quân Lực Mỹ hơn 2 năm và đã đầu tư hơn $100 triệu để chuẩn bị đáp ứng những yêu cầu của hợp đồng. Nhưng vào phút cuối, công ty đã được thông báo trong một lá thư rằng họ sẽ không được sử dụng cho hợp đồng nói trên. Không có một lời giải thích nào cho sự quyết định đó. Hợp đồng này sau đó được đưa cho công ty cạnh tranh của Brazil. Các nhà phân tích đã vô cùng ngạc nhiên. Thường thì chính phủ Mỹ tìm cách giao những hợp đồng, nhất là những hợp đồng quân sự, cho những công ty Mỹ. Sự thất bại của Hawker Beechcraft trong việc có được hợp đồng đó, như công ty đã xác nhận, sẽ dẫn đến việc sa thải, và đương nhiên họ sẽ làm vài bộ phận của quốc phòng lệ thuộc vào công ty Brazil đó. Trong một trường hợp khác, chính quyền Obama, một lần nữa hoạt động xuyên qua ngân hàng Xuất Nhập Khẩu, đã cung cấp $3.4 tỷ tiền vay bảo đảm cho hãng máy bay Ấn Độ Air India, hãng máy bay quốc gia được sở hữu bởi chính phủ Ấn Độ. Ấn Độ sử dụng công ty con đó để mua những chiếc máy bay mới và thực hiện chuyến bay không ngừng giữa thành phố Mumbai và New York, giảm giá thấp hơn hãng Delta, vốn trước đây là thống trị đường bay không ngừng này giữa hai thành phố chỉ hai năm trước đây. Kết quả là Delta phải bỏ đường bay đó, và công ty đã phàn nàn với chính quyền Obama, cho rằng họ đã viện trợ những hãng bay nước ngoài bằng cách làm thiệt hại công ty và việc làm Mỹ. Obama, tuy nhiên, gần đây đã gia tăng kinh phí trợ cấp cho ngân hàng Xuất Nhập Khẩu, và ông ta đã ca ngợi nỗ lực của họ trong việc trợ cấp gói vay cho hãng may Lion Air của  Indonesia để mua thêm những chiếc máy bay Boeing.

Trong hai năm qua, chúng ta đã chứng kiến sự nổi dậy ở vài quốc gia Hồi Giáo, từ Tunisia đến Libya, đến Bahrain cho đến Ai Cập và Syria. Tổng Thống Obama đã phản ứng một cách kỳ lạ và không đồng đều. Trước ông ta bác bỏ việc sử dụng quân đội ở Libya. Sau đó, ông ta thúc đẩy Pháp và Anh (cùng với khối Arab, Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc và NATO), ông ta đã sử dụng quân đội ở Libya, và cuối cùng đã tiêu diệt nhà độc tài Muammar Gaddafi. Tuy nhiên, Obama đã không chịu cung cấp bất cứ sự hỗ trợ nào cho phe chống đối ở Syria, phe đang tìm cách loại bỏ nhà độc tài Bashar Assad. Điều khiến sự phản ứng của Obama khác thường là sự quyết định của Mỹ để sử dụng không kích và những phương pháp quân sự khác ở Libya sau khi nhà độc tài Gaddafi đã giết chết tầm 250 người, Obama đã nhanh chống lên tiếng về sự thảm sát ma quỷ ở Libya. Người Syria đã giết hàng ngàn người, chính quyền Obama hầu hết chủ yếu phản ứng trước những áp lực từ cộng đồng quốc tế, đã đồng ý cung cấp sự hỗ trợ khiêm tốn cho phe nổi dậy nhưng lại hoàn toàn bác bỏ bất cứ sự tham gia quân sự nào của Mỹ trong cuộc chiến. Làm sao để có thể giải thích được hành vi của Obama? Tại sao lại can thiệp ở một nơi nhưng không phải là nơi khác? Một sự mâu thuẫn tương tự là phản ứng của Obama với tình hình Ai Cập và Iran. Ở Ai Cập, Obama đã sử dụng áp lực ngoại giao để loại bỏ một đồng minh lâu năm của Mỹ – Hosni Mubarak, dọn đường cho phe Hồi Giáo cực đoan, dẫn dắt bởi Hội Huynh Đệ Hồi giáo, để thắng trong các cuộc bầu cử quốc hội và tổng thống sau đó. Sử dụng những lời lẽ của dân chủ, Obama đã đứng cùng phía với người biểu tình ở quảng trường Tahrir. Tuy nhiên khi có sự nổi dậy tương tự cho dân chủ ở Iran một năm trước đó, nhắm đến việc loại bỏ chế độ Hồi Giáo toàn trị của giáo sĩ Hồi Giáo, Obama đã kêu gọi sự trấn an và thận trọng. Ông ta không chịu đứng về phía người biểu tình. Quan trọng nhất là ông ta đã không làm gì. Kết cuộc là cảnh sát Iran đã triệt hạ người biểu tình và sự nổi dậy của người dân Iran đã bị dập tắt. Vì vậy nên chúng ta đã có 2 mâu thuẫn ở đây. Chúng ta cần một sự xem xét về hành vi phân biệt của Obama, việc sử dụng quân lực ở nơi này nhưng không phải ở nơi kia, loại bỏ một nhà độc tài nhưng giữ nhà độc tài khác. Đối với những cuộc nổi dậy được gọi là mùa xuân Arab, điều gì có thể giải thích tiêu chuẩn kép của Obama về vấn đề này?

Nhiều hơn bất cứ một vị tổng thống nào khác, Obama đã xin lỗi và chỉ trích chính quốc gia của mình và đôi lúc đứng với bên địch của những đồng minh của Hoa Kỳ. Một ví dụ thú vị của hành vi này được phơi này trong một phần trao đổi ngoại giao đã được xuất bản bởi tổ chức WikiLeaks. Phần trao đổi vào tháng 9 năm 2009 từ Đại Sứ Mỹ ở Nhật John Roo. Trong lời trao đổi đó, ông ta đã báo cho Obama biết rằng Nhật Bản đã nghĩ rằng việc Tổng Thống Obama viếng thăm thành phố Hiroshima hoặc xin lỗi cho việc Mỹ đã sử dụng hai quả bomb hạt nhân lên những thành phố của Nhật Bản trong Thế Chiến Thứ Hai không là một ý tưởng tốt. Bỏ qua những thực tế của những nhà phân tích quân sự rằng hai quả bomb đó đã nhanh chóng chấm dứt chiến tranh, cứu vớt hàng trăm ngàn mạng sống Mỹ và thậm chí người Nhật (bằng cách ngăn chặn một cuộc xâm lược lên đất liền Nhật Bản). Có phải là quái lại không –  khi một tổng thống Mỹ muốn xin lỗi Nhật Bản vì hành động Mỹ trong chiến tranh – trong khi chính người  Nhật lại không muốn ông ta làm điều đó.

Quan niệm mờ ám của Obama về nước Mỹ dường như cũng được áp dụng đối với những đồng mình của Mỹ, như Anh Quốc. Còn nhớ Chiến Tranh Falklands không? Cuộc chiến xảy ra vào năm 1982 giữa Anh Quốc, dưới chính quyền Margaret Thatcher, và Argentina, dưới chính quyền độc tài Leopoldo Galtieri, về tranh chấp các hòn đảo Falkland. Anh Quốc đã chiến thắng và giữ lại phần lãnh thổ gây tranh cãi. Nhưng Argentina vẫn muốn lấy phần của hòn đảo họ gọi là “Malvinas.” Trong khi các chính quyền trước đây, Cộng Hòa và Dân Chủ, đã đứng về phía Anh Quốc trong vấn đề này, chính quyền Obama đã làm ngược lại. Họ bây giờ đã đứng về phía Argentina, kêu gọi Anh Quốc nên đàm phán về chủ quyền của những hòn đảo đó. Đây là một vị trí được ủng hộ bởi tổ chức Organization of American States, và nó là một điều chính phủ Anh Quốc cho rằng là hoàn toàn không thể chấp nhận được.

Những ví dụ đó cũng đủ để cho thấy rằng, với Obama, chúng ta đang đối phó với một vị tổng thống cá biệt. Vậy thì ở đâu, chúng ta mới có thể bắt đầu việc thấu hiểu ông ta? Chúng ta có thể bắt đầu với những giấc mơ mà ông ta có được từ cha của ông ta.

Hết Phần 2

Ku Búa @ CAFEKUBUA.COM

Facebook Comments