Milton Friedman – Những ngộ nhận kinh tế và phản ứng của dư luận (1976)

Trong bài giảng này, Milton Friedman đã đề cập đến 5 ngộ nhận rất phổ biến thời bấy giờ – cho đến bây giờ vẫn vậy – về nền kinh tế thị trường và chủ nghĩa tư bản. Đó là:

 

Sáng nay tôi sẽ giới thiệu với các bạn một bài giảng. Chủ đề mà tôi lấy cảm hứng là từ Josh Billings, nghệ sĩ hài nổi tiếng của Mỹ thế kỷ XIX, là tác giả của câu nói: “Vấn đề với con người không phải là sự thiếu hiểu biết, mà đó là điều họ biết là điều không đúng.” Tôi đề nghị thảo luận về năm ngộ nhận về xã hội tư bản Mỹ mà đã được chấp nhận rộng rãi, có ảnh hưởng lớn đến thái độ công chúng và dư luận xã hội, nhưng theo ý kiến ​​của riêng tôi thì chúng sai hoàn toàn.

 

Ngộ nhận về Trùm Tư Bản bóc lột của thế kỷ 19

Ngộ nhận đầu tiên có thể được kể đến đó là ngộ nhận về các trùm tư bản bóc lột. Trong các khóa học về lịch sử – lịch sử chính trị thông thường cho đến mức độ thấp hơn là lịch sử kinh tế, bạn sẽ học được rằng thế kỷ 19 tại Hoa Kỳ là một thời kỳ giao thoa, chủ nghĩa cá nhân không giới hạn trong đó các nhà tư bản độc quyền không có trái tim khai thác người nghèo không thương xót, giày xéo, và hưởng lợi trên mồ hôi xương máu của phần đông còn lại. Những người giàu thì giàu hơn và người nghèo thì càng nghèo đi; Wall Street đã được thiết lập để chống lại người lao động. Bạn sẽ học được từ cuốn sách lịch sử mẫu mực rằng những người nông dân ở Trung Bắc đã được nghiền giữa những cối xay bởi các sản phẩm mà họ bán ra bị giảm giá và các sản phẩm mà họ mua vào lại tăng giá. Bạn sẽ học được rằng đó là lý do cho sự quan tâm trong phong trào chính trị Tiền Giấy (greenback), nguyên nhân cho sự phát triển của tình cảm dân túy ở Middle West và miền Nam, lý do cho bài phát biểu tuyệt vời của William Jennings Bryan vào năm 1896, khi ông nghi vấn là có phải nhân loại sẽ bị đóng đinh trên cây thập tự giá bằng vàng hay không.

Đó là một ngộ nhận, và hầu như không có bất kỳ ngộ nhận nào hằn sâu trong thái độ của người dân hơn nó. Ngộ nhận này được lan rộng bởi các nhà cải cách, các nhà báo điều tra của những năm đầu thế kỷ 20, bởi các nhà trí thức những người đã đóng góp cho sự thay đổi quyết liệt trong thái độ của chúng ta đối với một mặt là thị trường và mặt kia là chính phủ, và đến lượt tạo ra một sự thay đổi mạnh mẽ trong tính cách của xã hội chúng ta trong bốn mươi hay năm mươi năm qua.

Chỉ có một yếu tố trong ngộ nhận đó là chính xác. Đó là một thời kỳ giao thoa, chủ nghĩa cá nhân không giới hạn. Đó là một thời đại tiệm cận gần nhất với học thuyết về nền kinh tế tự vận hành trong lịch sử nước Mỹ. Đó là một thời đại trong đó, ngoại trừ cuộc Nội Chiến, chi tiêu của chính phủ liên bang không bao giờ vượt quá khoảng 3 phần trăm của thu nhập quốc gia, số tiền đó chẳng thấm vào đâu so với tiêu chuẩn hiện nay khi chi tiêu của chính phủ liên bang đang tiến đến gần 30 phần trăm thu nhập quốc dân. Đó là một thời kỳ mà ở đó, đối với hầu hết, không ICC (cơ quan liên bang đặt hạn định cho tốc độ chuyên chở hàng hóa, đã chấm dứt hoạt động vào năm 1995), không FCC(cơ quan liên ban phụ trách về việc truyền thông giữa các bang với nhau và với quốc tế bằng các phương tiện không dây, có dây, và vệ tinh), không SEC (cơ quan liên bang độc lập giám sát sở giao dịch chứng khoán để bảo vệ nhà đầu tư), và nếu bạn chọn ra bất kỳ một từ có ba chữ cái nào trong bảng chữ cái thì nó cũng không có vào thời kỳ đó.

Đó là một thời kỳ khi gần như chỉ có một thứ duy nhất can thiệp tới cuộc sống của người dân, ngoài các loại thuế đã được áp đặt để tài trợ cho một lực lượng vũ trang nhỏ, tòa án, cơ quan lập pháp, và các cơ quan tương tự, bao gồm thuế bảo hộ nhập khẩu. Các nhà kinh tế theo học thuyết Nền Kinh Tế Tự Vận Hành (Laissez-faire) phản đối lúc đó cũng như bây giờ các loại thuế như vậy, nhưng mức độ thuế quan như vậy là nhẹ so với các mức thuế được áp đặt sau này.

Tình trạng này đã không phát triển, đủ thú vị đến nỗi, nằm ra ngoài bất kỳ niềm tin triết học nào của phái Nền Kinh Tế Tự Vận Hành. Nó phát triển đơn giản hơn nhiều. Trong những thập niên 30 của thế kỷ thứ 19, chính quyền các bang trong cả nước tiếp tục tham gia vào cái mà chúng ta gọi là các doanh nghiệp xã hội chủ nghĩa. Họ xây dựng kênh mương, họ thiết lập các ngân hàng thương mại và các hệ thống ngân hàng rộng lớn, họ tài trợ đường sắt, họ xây dựng nên các ngành công nghiệp. Đó là một kỷ nguyên vĩ đại của các doanh nghiệp quốc doanh. Nhưng khi lâm vào suy thoái, hoặc khủng hoảng, trong năm 1837, nhiều doanh nghiệp nhà nước này bị phá sản. Chúng trở nên bất lực theo nghĩa đúng nghĩa của nó, trong đó tất cả các doanh nghiệp nhà nước đã hoạt động thiếu hiệu quả từ ngày đó đến nay. Tuy nhiên, ngược lại với tình hình hiện nay, chúng được phép thất bại. Đó là kinh nghiệm mà đã đưa nền kinh tế Hoa Kỳ đến một nền kinh tế tự do – tự vận hành.

Trong khi thế kỷ 19 là thời kỳ của chủ nghĩa cá nhân không giới hạn, hầu hết các điểm khác của của ngộ nhận này là sai. Thời kỳ này hoàn toàn không phải là thời kỳ mà người nghèo bị giày xéo bởi những người giàu và bị bóc lột không thương xót, có lẽ không có thời kỳ nào khác trong lịch sử, ở nước Mỹ này hoặc bất kỳ quốc gia nào khác, mà người dân bình thường có sự gia tăng mức sống nhiều như trong thời kỳ giữa cuộc Nội Chiến và Chiến Tranh Thế giới Thứ Nhất, khi chủ nghĩa cá nhân không giới hạn vững chắc nhất. Bằng chứng của điều này được tìm thấy trong các số liệu thống kê kinh tế về thu nhập quốc dân đã thay đổi như thế nào, nhưng nó đã được chứng minh theo một cách ấn tượng hơn bởi số lượng người nhập cư đến Hoa Kỳ trong thời gian đó. Đó là một thời gian khi chúng ta có nhập cư hoàn toàn không hạn chế, khi ai cũng có thể đến các bờ biển và khẩu hiệu trên tượng Nữ thần Tự do đã có ý nghĩa thực sự nào đó. Đây là một đất nước của hy vọng và hứa hẹn cho những người nhập cư và con cái của họ, và nhiều như một triệu người nhập cư trong một năm đã đến trong các năm 1906 và 1907 và 1908. Đến năm 1914, gần một phần ba dân số là những người con của những người nhập cư hoặc là hậu duệ trực tiếp của người nhập cư.

Mọi người đến đất nước này để bị giày xéo dưới gót chân của các nhà tư bản tàn nhẫn sao? Họ đến để làm cho tình trạng của mình tồi tệ hơn chăng? Không có gì chính xác hơn là việc để mọi người tự đánh giá dựa trên cảm nhận của riêng mình. Thực tế là Đông Đức đã xây dựng một bức tường để giữ không cho người dân của họ không sang đến được Tây Đức là bằng chứng rõ ràng chứng minh nước nào có điều kiện sống tốt hơn. Cũng như thế, thực tế là từ năm này sang năm khác hàng trăm ngàn người đã rời bỏ các nước châu Âu để đến với đất nước này là bằng chứng thuyết phục rằng họ đến để cải thiện số phận của mình, không phải để khiến nó tồi tệ hơn. Với bằng chứng thuyết phục hơn nhiều, tôi tin rằng, hơn bất kỳ thống kê nào khác về thu nhập thực tế bình quân đầu người, trong đó cho thấy rằng thu nhập thực tế tăng lên từ thập kỷ này sang thập kỷ khác với tốc độ khoảng 2, 2.5, 3 phần trăm mỗi năm. Họ đến đây với hai bàn tay trắng. Họ đến từ các nhóm túng quẫn nhất ở thế giới cũ, từ Tiệp Khắc, Đức, Ý. Những người nghèo và túng thiếu đổ xô tới đây, và họ đã tìm thấy một ngôi nhà và một cơ hội để cải thiện số phận của mình. Và họ đã tìm thấy nó, không phải vì chủ nghĩa cá nhân mà bởi vì chủ nghĩa cá nhân chưa hoàn chỉnh. Đó là vì chủ nghĩa cá nhân không giới hạn đã tạo ra những phát triển trong ngành công nghiệp, thương mại, cung cấp cơ hội cho người dân.

Tất nhiên, điều kiện của chúng ta tốt hơn họ rất nhiều. Theo nghĩa tuyệt đối, mức sống của họ là thấp. Nhưng chúng ta phải so sánh mức sống của họ, không phải là với chúng ta mà là với mức sống khi họ rời châu Âu. Chúng ta phải xem xét dựa trên tình thế của họ. Chúng ta có thể sống cũng như làm bởi vì những thành tựu của họ, vì những gì đã xảy ra trong thế kỷ 19. Tôi phải nói rằng, tôi cảm thấy nhục nhã cho rất nhiều người đã bôi nhọ quá khứ đó của cha mẹ họ, trong khi các trải nghiệm đó đã giúp họ có thể sống được trong một xã hội tự do ở mức cao như hiện hiện nay.

Quá nhiều để phát triển kinh tế. Thế còn cáo buộc rằng những người làm nông đã bị nghiền nát, giày xéo, là bị bóc lột bởi các ngân hàng phố Wall? Rằng chúng ta cần phải có một phong trào Greenback (phong trào Tiền giấy) và một phong trào dân túy và một William Jennings Bryan?

Một lần nữa, bằng chứng chống lại là rất đơn giản và rất rõ ràng. Đầu tiên, nếu nông nghiệp đã bị khai thác cạn kiệt, bạn hẳn phải mong chờ lượng người ở các trang trại giảm xuống, nhưng sao lại tăng nhảy vọt trong thời kỳ này. Nếu nông nghiệp đang trong tình trạng xấu và bị vắt kiệt, bạn hẳn phải cho rằng giá đất nông nghiệp phải đi xuống, nhưng sao lại đi lên nhanh chóng. Giá các sản phẩm nông nghiệp đi xuống. Nhưng chúng giảm giá bởi vì các khu vực màu mỡ rộng lớn của miền Middle West được khai hoang và đưa vào canh tác. Sản lượng đã đã tăng lên nhanh chóng, chi phí sản xuất đã được giảm xuống nhờ đổi mới công nghệ lớn trong khâu gặt hái và các máy móc nông nghiệp khác và chi phí vận chuyển đã được giảm. Kết quả là tạo ra sản lượng lớn, kéo theo giảm giá các sản phẩm nông nghiệp đồng thời nhanh chóng thu nhập của nông dân cũng gia tăng và thu hút được nhiều người tham gia vào nông nghiệp.

Ở một khía cạnh khác của ngộ nhận này, đó có phải là một giai đoạn của chủ nghĩa tư bản độc quyền tàn nhẫn? Hoàn toàn ngược lại, nó là thời kỳ của các hoạt động từ thiện tư nhân lớn nhất trong lịch sử Hoa Kỳ. Thời kỳ của chủ nghĩa cá nhân lớn mạnh, không giới hạn là thời kỳ mà kiểu bệnh viện cộng đồng phi lợi nhuận hiện đại được thành lập và phát triển. Đó là thời kỳ của các Thư Viện Carnegie và sự lan rộng của chúng thông qua các hoạt động từ thiện của Andrew Carnegie. Đó là thời kỳ có nhiều trường đại học đã được thành lập trong cả nước. Đó là thời kỳ thành lập của Hiệp Hội Phòng Chống Ngược Đãi Thú Vật, và sự mở rộng của các sứ quán ngoại quốc. Không có thuế thu nhập, không khấu trừ các khoản đóng góp, vì vậy mọi người đóng góp từ thiện bằng tiền túi của họ và không như bây giờ, phần lớn các thứ thuế họ phải trả khác. Tuy nhiên, trong mọi khía cạnh của hoạt động từ thiện tư nhân, đó là thời kỳ bùng nổ.

Vì vậy, các bức tranh lịch sử được chấp nhận chung của thế kỷ XIX là một ngộ nhận bất thường. Nhiều năm trước, tôi đã viết một cuốn sách với một cộng tác viên về lịch sử tiền tệ của Hoa Kỳ, và trong quá trình viết đó, tôi đã đọc các sách sử nói chung của thế kỷ XIX. Là một nhà kinh tế, tôi đã hoảng sợ bởi mức độ thiếu hiểu biết về các vấn đề kinh tế đã nêu ra trong những cuốn sách lịch sử này, bởi mức độ mà các nhà sử học cố tình lấy những lời than vãn và tuyên bố của các nhà cải lương và những hoạt náo viên chính trị thay cho thực tế.

Tất cả mọi người, tất nhiên, luôn luôn muốn giành được lợi thế cho mình. Mọi người đều muốn nhìn thấy giá của những thứ mình bán tăng lên, và giá của những thứ anh mua đi xuống. Nhưng do thứ mà người này bán thì người khác mua, nên đó là một tình huống khả thi. Chúng ta tìm thấy sự không thống nhất tương tự khi người ta nói về lạm phát. Những gì mọi người nghĩ về lạm phát không phải là việc tăng lương của riêng họ, mà là việc tăng giá người khác đối với họ. Và đó là trường hợp của thế kỷ 19. Những người tham gia Greenback và các phong trào Dân túy đã nói, “Chúng tôi muốn làm vẫn còn tốt hơn”. Nhưng các nhà sử học có xu hướng để có phóng đại sự than vãn của họ hơn thực tế.

Đó là Ngộ nhận Số Một, một ngộ nhận mà đã làm tổn hại rất lớn, theo ý kiến ​​của tôi, nó làm cho mọi người không nhận ra được những nguồn sức mạnh thực sự của đất nước này và nguồn gốc thực sự của sự vĩ đại của chúng ta.

Facebook Comments