Chủ nghĩa tư bản có nhân đạo? – Milton Friedman (1978)

Chủ nghĩa tư bản có nhân đạo?

Tôi muốn nói về một khía cạnh liên quan rất nhiều đến toàn bộ vấn đề về tự do của con người. Nó lien quan đến câu hỏi liệu chủ nghĩa tư bản có nhân đạo và điều đó có ý nghĩa như thế nào.

Những lý lẽ trong cuộc tranh luận vốn diễn ra quá lâu giữa những người ủng hộ của chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội đã thay đổi. Tranh luận này thường rất gay gắt về hình thức tổ chức kinh tế: Chúng ta có nên để chính phủ kiểm soát sản xuất và phân phối của cải, hoặc chúng ta nên cho tư nhân kiểm soát thị trường? Lập luận của những người ủng hộ việc chính phủ kiểm soát thường là điều khiển tập trung thì sẽ hiệu quả hơn.

Không ai sử dụng lập luận đó nữa. Hầu như không một ai trên thế giới ngày nay dám tuyên bố rằng quốc hữu hóa nền công nghiệp, hay chủ nghĩa xã hội là một cách thức để tổ chức kinh tế, là một biện pháp hiệu quả để tổ chức mọi thứ. Ví dụ của Vương quốc Anh, ví dụ của Nga, các ví dụ của một số quốc gia khác trên thế giới đã áp dụng các biện pháp này, cộng với các ví dụ về sự phát triển trong nước của bưu điện và những công ty nội địa tương tự đã đặt dấu chấm hết cho lập luận này.

Điều thú vị là, dù sao, cũng có sự lây lan đối lập với chủ nghĩa tư bản như một hệ thống tổ chức. Có sự hỗ trợ rộng rãi cho một số hệ thống mơ hồ được dán nhãn là xã hội chủ nghĩa. Tôi tin rằng có một lời giải thích đơn giản cho hiện tượng này. Lời giải thích này là một sự nhấn mạnh về giá trị đạo đức kết hợp với sự thiếu hiểu biết và hiểu lầm về mối quan hệ giữa các giá trị đạo đức và các hệ thống kinh tế.

Vấn đề với hướng tiếp cận này là các giá trị đạo đức thuộc phạm trù cá nhân; chúng không phải là tập thể. Các giá trị đạo đức là những gì mỗi người chúng ta tin tưởng và nghĩ là đúng một cách riêng biệt những điều mà các giá trị cá nhân của chúng ta có.

Chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa xã hội, kế hoạch hóa tập trung là những phương tiện chứ không phải kết quả. Bên trong và của chính họ, họ không phải là đạo đức hay vô đạo đức, nhân đạo hay vô nhân đạo. Chúng phải nghi vấn là các kết quả của chúng là gì. Chúng ta phải tìm hiểu những hậu quả của việc áp dụng một hệ thống tổ chức này hoặc một hệ thống tổ chức khác là gì. Từ quan điểm đó, điều quan trọng là nhìn vào bên dưới của bề mặt. Đừng nhìn vào những gì những người ủng hộ của một hệ thống này hay hệ thống khác nói đó là ý định của họ, mà hãy nhìn vào các kết quả thực tế ra sao.

Chủ nghĩa xã hội, có nghĩa là nhà nước sở hữu và vận hành tư liệu sản xuất, đã lôi cuốn những người có đầu óc cao thượng, những người tốt, những người có quan điểm duy tâm, vì các mục tiêu giả định của chủ nghĩa xã hội, đặc biệt là vì các mục tiêu giả định về sự bình đẳng và công bằng xã hội. Đây là những mục tiêu tốt, và nó là một thứ cao quý để những người có thiện chí bị hấp dẫn bởi những mục tiêu đó.

Nhưng bạn phải đặt câu hỏi: Liệu hệ thống đó – bất chấp những người ủng hộ của nó nói ra sao –tạo ra những kết quả gì? Khi bạn nhìn vào kết quả, nó là bằng chứng rõ ràng rằng hệ thống này không làm được điều như nó nói. Đâu là những bất công xã hội lớn nhất? Những bất công xã hội là rõ ràng nhất ở nơi mà bạn bị kiểm soát tập trung. Mức độ về bất công xã hội, tra tấn và giam giữ trong một nơi như ở Nga là khác một trời một vực so với ở các nước phương Tây, trong đó hầu hết chúng ta đã trưởng thành và trong đó chúng ta đã quen với việc nhìn nhận tự do như là di sản tự nhiên của chúng ta.

Một lần nữa, nhìn vào câu hỏi về sự bình đẳng. Ở đâu có sự bất bình đẳng lớn nhất? Trong các nước xã hội chủ nghĩa trên thế giới. Tôi nhớ khoảng mười lăm năm trước đây vợ tôi và tôi đã ở Nga khoảng một vài tuần. Chúng tôi đã ở Moscow với hướng dẫn viên du lịch của mình và tôi tình cờ nhìn thấy một số trong những chiếc xelimousine khác thường của Nga, Zivs, nó được xếp vào một loại phiên bản khác của xe Packard 1938. Tôi hào hứng hỏi hướng dẫn viên du lịch của mình là nó được bán với giá bao nhiêu. “Ồ,” bà nói, ““chúng không phải để bán. Chúng chỉ dành cho các thành viên của Bộ Chính trị (Politburo). ”

Trong một đất nước như Liên Xô có một sự bất bình đẳng rất lớn theo nghĩa đen mà một nhóm đặc quyền nhỏ được hưởng tất cả các dịch vụ và tiện nghi của cuộc sống, và phần đông còn lại có một mức sống rất thấp. Thật vậy, cụ thể hơn, mức lương của quản đốc ở Liên Xô cao hơn nhiều so với mức lương của công nhân lao động bình thường và mức chênh lệch đó lớn hơn tại Hoa Kỳ.

Chủ nghĩa tư bản, mặt khác, là một hệ thống tổ chức dựa trên sở hữu tư nhân và trao đổi tự nguyện. Nó đã đẩy lùi người dân, nó đã đẩy họ đến chỗ không hỗ trợ cho nó, bởi vì họ nghĩ rằng nó nhấn mạnh việc tư lợi một cách hạn hẹp. Họ đã bị đẩy lui bởi ý tưởng của những người theo đuổi lợi ích riêng của mình chứ không phải vì số lợi ích chung lớn hơn.

Tuy nhiên, rõ ràng là kết quả lại đi theo hướng khác. Chỉ có những quốc gia mà chủ nghĩa tư bản đã thắng thế trong thời gian dài mới có kinh nghiệm cả về tự do và thịnh vượng. Tất nhiên, đó không phải là tự do hoàn hảo – tất cả chúng ta đều có những khiếm khuyết riêng của mình. Tuy nhiên, ở hầu hết các nước phương Tây đã có chủ nghĩa tư bản thì đã có tự do hơn nhiều, xã hội công bằng hơn và bất bình đẳng thấp hơn so với các nước điều khiển tập trung.

Một câu hỏi mà bạn phải đặt ra là, có phải chủ nghĩa xã hội đã thất bại vì các tính chất tốt đẹp của nó đã bị xuyên tạc bởi những người xấu xa, những người phải chịu trách nhiệm? Là nó chỉ đơn giản bởi vì Stalin đã tiếp quản quyền lực từ Lenin và chủ nghĩa cộng sản đã đi theo hướng của nó? Có phải chủ nghĩa tư bản đã thành công mặc cho các giá trị đạo đức lan tỏa trong nó? Tôi tin rằng câu trả lời cho cả hai câu hỏi trên là không. Kết quả đã xảy ra bởi vì mỗi hệ thống đã trung thành với các giá trị mà nó khuyến khích, hỗ trợ và phát triển lên người sống dưới hệ thống đó.

Trong thảo luận về các giá trị đạo đức ở đây, chúng tôi quan tâm tới những điều phải làm trong mối quan hệ giữa người với người. Khi đánh giá mối quan hệ giữa con người với nhau, tôi không tin rằng giá trị cơ bản là phải làm điều tốt cho người khác cho dù họ muốn bạn hay không. Giá trị cơ bản không phải là làm điều tốt cho người khác vì bạn thấy tốt cho họ. Cũng không phải là buộc họ phải làm điều tốt.

Tôi tin rằng các giá trị cơ bản trong quan hệ giữa con người với nhau là tôn trọng phẩm giá và cá tính của nhau, cư xử với họ không phải như là các đối tượng để lôi kéo vì các mục đích của chúng ta hoặc phù hợp với các giá trị của chúng ta mà như là những con người có quyền lợi riêng của họ và giá trị riêng của họ – như những con người được thuyết phục, không bị ép buộc, không bị cưỡng bức, đe dọa, hay tẩy não. Điều đó với tôi chính là các giá trị cơ bản trong quan hệ xã hội.

Khái niệm cơ bản của xã hội tư bản (tôi sẽ nói trở lại ở sau) là hợp tác tự nguyện, trao đổi tự nguyện. Khái niệm cơ bản của xã hội xã hội chủ nghĩa là cưỡng ép. Nếu chính phủ là chủ, nếu xã hội được vận hành theo kiểu tập trung, cuối cùng người dân sẽ bị ra lệnh là phải làm này làm nọ.

Bất cứ khi nào chúng ta tách rời khỏi tinh thần hợp tác tự nguyện và cố gắng làm những việc tốt bằng cách sử dụng bạo lực, giá trị đạo đức xấu của việc cưỡng ép sẽ đè bẹp những ý định tốt.

Trong vài thập kỷ qua đã có một sự suy giảm lớn trong xu hướng đạo đức. Chúng ta nhìn thấy nó trong các thống kê tội phạm gia tăng, trong sự thiếu tôn trọng tài sản, trong các loại bạo loạn nổ ra ở New York sau khi bị mất điện, trong vấn đề duy trì kỷ luật trong các trường tiểu học.

Tại sao? Tại sao chúng ta lại thấy một sự suy giảm trong xu hướng đạo đức như vậy? Tôi đề xuất với các bạn rằng một yếu tố quan trọng đã thay đổi trong triết lý của chúng ta đã bị chi phối, một sự thay đổi từ niềm tin vào trách nhiệm cá nhân sang niềm tin vào trách nhiệm xã hội. Nếu bạn chấp nhận quan điểm cho rằng một người không phải chịu trách nhiệm cho hành vi của anh ta, mà bằng cách này hay cách khác xã hội phải chịu trách nhiệm cho hành vi đó, thì tại sao anh ta phải tìm cách làm cho hành vi của mình tốt lên chứ?

Đừng hiểu lầm tôi. Trên một mức độ khoa học nào đó, sự thật là chúng ta sẽ bị ảnh hưởng rất nhiều bởi xã hội mà chúng ta sinh sống và lớn lên. Tất nhiên tất cả chúng ta sẽ khác với chính mình nếu chúng ta lớn lên trong một xã hội khác. Vì vậy, tôi không thể phủ nhận một chút nào về tác động của những thể chế xã hội mà chúng ta sinh hoạt trong đó lên cả về giá trị và cơ hội của chúng ta.

Tôi chỉ nói rằng một thiết lập của các tổ chức xã hội mà nhấn mạnh đến trách nhiệm cá nhân, đối xử với các cá nhân – tạo ra cho anh ta là loại người như thế nào, loại xã hội mà anh ta sinh hoạt trong đó – như là trách nhiệm vì và đối với chính mình, sẽ dẫn đến một xu hướng đạo đức cao hơn và đáng ao ước hơn là một thiết lập các tổ chức xã hội nhấn mạnh việc thiếu trách nhiệm cá nhân đối với những gì xảy ra với anh ta và giảm bớt sự đỗ lỗi lên anh ta hoặc cho những gì anh ta làm là do lỗi đồng loại của hắn.

Quay trở lại bản chất của chủ nghĩa tư bản và sự thích hợp của nó với vấn đề trên của nhân loại. Bản chất của một hệ thống tư bản ở dạng thuần khiết của nó là nó là một hệ thống hợp tác không bị ép buộc, trao đổi tự nguyện, tự do kinh doanh.

Tôi nói thêm rằng không có hệ thống thực tế nào phù hợp hoàn toàn với quan điểm đó. Trong thế giới thực, chúng ta luôn phải đối đầu với sự xấp xỉ, nhiều hơn hoặc ít hơn. Trong thế giới thực, chúng ta luôn luôn có những trở ngại trong trao đổi tự nguyện.

Nhưng đặc tính cơ bản của một hệ thống tư bản là nó dựa trên trao đổi tự nguyện, trên sự đồng ý với tôi rằng bạn sẽ bán một cái gì đó cho tôi nếu tôi sẽ trả cho bạn một số tiền nhất định cho nó. Khái niệm cơ bản này là cả hai bên trao đổi cho nhau phải được hưởng lợi. Đó là tầm nhìn tuyệt vời của Adam Smith trong tác phẩm “Sự Thịnh Vượng Của Các Quốc Gia”: mỗi cá nhân theo đuổi lợi ích riêng cho bản thân mình có thể thúc đẩy các lợi ích xã hội thông qua trao đổi giữa người với người trên cơ sở đôi bên cùng có lợi.

Khái niệm này vượt xa các vấn đề kinh tế khi xem xét tỉ mỉ. Đó thực sự là điểm chính tôi muốn đi vào, và tôi muốn cung cấp cho bạn hai loại ví dụ  rất khác nhau.

Hãy xem xét sự phát triển của ngôn ngữ tiếng Anh. Không bao giờ có bất kỳ chính phủ trung ương nào áp đặt được vào tiếng Anh và thiết lập một số quy tắc cho nó. Không có phòng kế hoạch nào xác định những từ gì nên là danh từ và những từ gì nên là tính từ cả. Ngôn ngữ phát triển thông qua các thị trường tự do, thông qua hợp tác tự nguyện. Tôi sử dụng một từ, bạn sử dụng một từ; nếu nó thuận lợi cho cả hai để tiếp tục sử dụng từ đó, thì chúng ta sẽ tiếp tục sử dụng nó. Ngôn ngữ phát triển lên, nó mở rộng, giao ước thông qua thị trường tự do.

Kiến ​​thức và sự hiểu biết khoa học phát sinh như thế nào? Làm thế nào để chúng ta có được sự phát triển của khoa học? Có cách nào đó để một cơ quan chính phủ quyết định xem các vấn đề nào là quan trọng nhất để được nghiên cứu, mà ngăn cản việc hợp tác hay không? Thật không may, các cơ quan này đang phát triển, nhưng trong lịch sử khoa học đó không phải là cách mà khoa học phát triển. Khoa học phát triển ra ngoài trao đổi thị trường tự do.

Chủ nghĩa tư bản thường bị quy kết là chạy theo vật chất. Nó thường bị quy kết là lấy đồng tiền làm động lực chủ yếu. Tiền không phải là một động lực cao quý, nhưng nó sạch hơn so với hầu hết các động lực còn lại. Hãy nhìn vào sự thật đi.

Trong bất kỳ xã hội nào, thứ có thể tạo nên tổ chức của những người không quan tâm đến giá trị vật chất là một thiểu số nhỏ. Không có xã hội nào trong thế giới ngày nay mà nặng về vật chất hơn là các tổ chức tập thể. Xã hội Nga, xã hội Trung Quốc, Nam Tư – đây là những xã hội mà đặt tất cả các căng thẳng của họ lên vật chất, đến việc đạt được các mục tiêu kinh tế và các kế hoạch năm năm, mà có thể hủy hoại những thành tựu phi vật chất của nhân loại. Tại sao? Bởi vì họ đang ở trong một vị trí đàn áp dân tộc các dân tộc thiểu số.

Để cho một xã hội đồng thời vừa nhân đạo và cung cấp cơ hội để đạt được các thành tựu to lớn của nhân loại, điều cần thiết là những người thiểu số, những người không có những mục tiêu vật chất có mức độ tự do lớn nhất. Và xã hội duy nhất mà bất cứ người nào đã từng nghĩ tới, mà bất cứ ai đã từng được phát hiện ra được, đến gần tới mục tiêu ấy ắt phải là xã hội tư bản.

Khi bạn nghe những người phản đối thị trường hoặc chủ nghĩa tư bản và bạn xem xét các phản đối của ấy, bạn sẽ thấy rằng hầu hết những phản đối đó đều là tự phản đối lại tự do. Điều mà hầu hết những người đều phản đối là thị trường sẽ cung cấp cho mọi người những thứ mà họ muốn thay vì những thứ mà người đó nghĩ là mọi người nên và phải muốn. Đó là sự thật cho dù bạn đang nói về sự phản đối của một Galbraith đối vối thị trường, cho dù bạn đang nói về sự phản đối của một Nader đối với thị trường, cho dù bạn đang nói về sự phản đối của một Marx hay Engels hay Lenin đối với thị trường đi chăng nữa.

Trong một xã hội thị trường, trong một xã hội trong đó mọi người được tự do làm những việc cho riêng họ, trong đó mọi người thực hiện các giao dịch tự nguyện, thật khó để làm điều tốt. Bạn đã đi thuyết phục mọi người, và không có gì trên thế giới này lại khó khăn hơn điều đó. Nhưng điều quan trọng là trong kiểu xã hội này cũng rất khó để làm điều xấu.

Sự thật là nếu bạn đã tập trung quyền lực vào tay của một thiên thần, anh có thể có thể làm nhiều điều tốt đẹp, theo như quan điểm của anh ta, nhưng điều tốt đối với người ngáy lại là điều xấu đối với người khác thì sao. Công dụng tuyệt vời của xã hội thị trường tư bản là, bằng cách ngăn chặn sự tập trung quyền lực, nó ngăn cản mọi người làm mọi điều xấu do việc tập trung quyền lực gây nên.

Vì vậy, tôi kết luận rằng chủ nghĩa tư bản vốn nó không là nhân đạo hay vô nhân đạo; chủ nghĩa xã hội vốn nó không phải là nhân đạo hay vô nhân đạo. Nhưng chủ nghĩa tư bản có xu hướng cung cấp nhiều sự kiềm chế tự do hơn để có nhiều giá trị nhân đạo hơn cho loài người. Nó có xu hướng phát triển một bầu không khí thuận lợi hơn cho sự phát triển trên một xu hướng đạo đức cao hơn về trách nhiệm và những thành tựu lớn lao hơn khác trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người.

 

Vampire @ CAFEKUBUA.COM

Theo Milton Friedman, Is Capitalism Human (1978)?

Facebook Comments