Giới Thiệu Kinh Tế Học Của Trường Phái Áo – Chương 3

[nextpage title=”1″ ]

Chương Ba – Tính Toán Kinh Tế

 

Vai trò của hệ thống giá cả

Bản chất thật sự của sự hợp tác xã hội là sự chuyên môn hóa, phân công lao động và kiến thức. Thực tế này có hai hàm ý quan trọng cho kinh tế học. Đầu tiên là sự hợp tác xã hội dẫn đến sự sản xuất của quá nhiều loại hàng hóa trung gian và tiêu dùng đến mức những tính toán bằng hiện vật sẽ không đủ để phân phối tài nguyên khan hiếm một cách hiệu quả. Một phương tiện chung là một điều không thể thiếu. Điều thứ hai là sự phát sinh của những quyết định bất tập trung và hợp tác xã hội yêu cầu một phương tiện để phối hợp các kế hoạch cá nhân, những thứ dựa trên những kiến thức và thông tin không hoàn hảo. Hai yêu cầu này được đáp ứng cùng lúc với nhau qua hệ thống giá cả của nền kinh tế thị trường. Sự phân tích chi tiết về cách hoạt động của hệ thống giá cả sẽ được đề cập đến sau. Hiện tại thì bài này sẽ đề cập đến hệ thống giá cả một cách tổng quát để chứng minh chức năng của nó, đó là một phương tiện tính toán kinh tế và là một phương tiện để phối hợp thông tin. Thậm chí, như sẽ được đề cập đến sau, hai chức năng này thực tế là một. Nghĩa là, họ liên quan đến vấn đề phân phối tài nguyên dưới sự thỏa thuận của hợp tác xã hội và một hệ thống giá cả thị trường.

 

Tính toán kinh tế so với tính toán công nghệ

Sự tính toán kinh tế không phải là một vấn đề công nghệ. Công nghệ có thể thành lập một mối quan hệ số lượng giữa một chuỗi thứ có thể được sử dụng để tạo ra một kết quả nhất định nào đó. Bản chất của sự tính toán công nghệ là 6a + 4b + 3c + …xn sẽ tạo nên một kết quả là 8p (ví dụ). Nhưng công nghệ không thể nói rằng kết quả 8p đó là việc sử dụng tối ưu nhất trong các lượng tài nguyên như bài toán a,b,c, so với những tiềm năng thay thế được sử dụng để sản xuất những thứ khác. Cũng tương tự, công nghệ không thể nói rằng một công thức sản xuất riêng nào là sự lựa chọn tốt nhất khi một sản phẩm cũng có thể được sản xuất bằng các công thức và tài nguyên khác. Ludwig von Mises đã giải thích vấn đề như sau:

”Ngành kỹ thuật có thể cho rằng một cây cầu phải được xây dựng như thế nào để bắt qua sông và đủ mạnh để chịu đựng lượng người qua lại. Nhưng nó không thể trả lời câu hỏi rằng việc xây dựng cái cầu có thể sẽ lấy đi những vật liệu sản xuất và lao động từ một việc có thể có nhu cầu cao hơn hay không. Nó không thể nói rằng cái cầu có nên được xây hay không, chi phí cho cây cầu nên là bao nhiêu, và phương pháp xây dựng và huy động vốn của nó nên là gì.”

Max Weber cũng đã nói điều tương tự trong câu sau đây:

”Câu hỏi nên chọn cái gì, nói để so sánh, là chi phí để sử dụng những phương tiện để thực hiện một cái gì đó dựa trên sự phân tích về mức hữu dụng của nó so với cái khác.”

Sự tính toán kỹ thuật chỉ có thể là những sự tính toán bằng hiện vật. Nó không đủ để áp dụng với các quyết định và hành động của con người bởi vì nó không có bất cứ sự ưu đãi về chất lượng. Các nhà thuyết gia hàn lâm có thể đúng khi cho rằng một đường hầm tốt có thể được xây dựng bằng bạch kim. Nhưng các sự tính toán tài chính khiến nó trở thành một vấn đề kinh tế, một nhà kỹ sư thực tế sẽ bị chán nản từ việc thực hiện một đường hầm như vậy vì bạch kim có những chức năng để sử dụng hữu ích hơn việc xâydựng một đường hầm. Công nghệ thì trung lập đối với sự đánh giá của con người; nó không có gì để nói về việc sử dụng một cách chủ quan cũng như giá trị của những mục đích mang tính chất chủ quan. Như Mises đã nói, “Nó (tính toán công nghệ) bác bỏ vấn đề kinh tế này: để sử dụng những phương tiện có sẵn trong một cách mà không một nhu cầu nào khác có thể coi là quan trọng hơn nhu cầu (việc) hiện tại.”

[/nextpage]

[nextpage title=”2″ ]

Tính chủ quan của giá trị

Việc phân phối tài nguyên là để thỏa mãn những nhu cầu khẩn trương của con người, và vì vậy các tài nguyên phải được dành cho những việc quan trọng nhất. Tuy nhiên câu hỏi phải được đặt ra là các nhu cầu hay việc sử dụng quan trọng này nên được quyết định bằng cách nào. Cần phải có một phương tiện để đo lượng giá trị của những hàng hóa để có thể đưa ra những quyết định tối ưu, nhưng hoàn toàn không phải vậy. Gần như không có một đơn vị đo lường nào của giá trị, và điều này có nghĩa là việc đo lường giá trị của một thứ nào đó là một điều bất khả thi. Giá trị là một hiện tượng chủ quan không có một định lượng hay định nghĩa chính xác. Giá trị của một món hàng nằm trong tâm trí của một người đang định giá nó, và cái quá trình đánh giá này không phải là một vấn đề đo lường. Bởi vì đánh giá luôn luôn là một vấn đề của sự ưu đãi cá nhân, những con số thứ tự là một cách định giá bằng số duy nhất phù hợp với vấn đề định giá. Đây là thuyết chủ quan của giá trị, một thứ không có trong môn khoa học kinh tế cho đến khi Menger, Jevons và Walras đã giới thiệu nó trong bài phân tích của họ vào năm 1871. Cho đến thời điểm đó, các nhà kinh tế học đã tìm kiếm một nguồn giá trị cho tất cả hàng hóa như giá trị là một thứ gì đó nằm trong chính hàng hóa.

Vấn đề đo lường giá trị được biểu thị bằng thực tế là không chỉ những con người khác biệt thường định giá một thứ một cách khác nhau, mà một người cũng có thể định giá một thứ gì đó khác biệt ở các thời điểm khác nhau. Và dưới sự hoạt động của quy luật Tiện Ích Cận Biên Giảm Dần, một người sẽ luôn luôn định giá một đơn vị bổ sung của một hàng hóa thấp hơn giá trị của đơn vị trước đây. Nếu giá trị được số lượng hóa và có thể được đo lường, thì sẽ không cần sự tồn tại của một đơn vị đo lường chuẩn không thay đổi. Rất rõ ràng rằng không có một đơn vị đo lường nào bất biến để định giá một sản phẩm khi nhiều người khác nhau cùng thời điểm và một người ở các thời điểm khác thường có sự thay đổi trong sự định giá của một món hàng.

Định giá phải được đến từ một hành động lựa chọn hoặc ưa thích. Một người có thể nói rằng anh ta định giá A hơn B hoặc C, nhưng anh ta không thể nói theo số lượng anh ta thích A thay vì B hoặc C là bao nhiêu. Anh ta có thể thể hiện theo chất lượng rằng sự ưa thích của A thay vì B là nhiều hơn sự ưa thích của A thay cho C. Trong trường hợp đó, anh ta sẽ xếp hạng sự lựa chọn của anh ta từ đầu đến cuối của A, B và C. Nhưng sự xếp hạng này rất theo thứ tự, chứ không phải là theo mức quan trọng. Sự phân phối của tài nguyên khan hiếm không thể được dựa trên bất cứ phương pháp định giá nào, sự sử dụng của bất cứ tài nguyên nào có thể được quyết định bằng cách xếp hạng từng sự lựa chọn trên các sự lựa chọn khác. Các tài nguyên, bởi vì họ là những phương tiện để tạo ra hàng hóa, có giá trị xếp hạng của họ từ mức độ quan trọng của các sản phẩm họ có thể tạo ra. Một cái nhìn chi tiết hơn về thuyết chủ quan của giá trị sẽ được đề cập đến trong Chương Ba.

 

 

Sự tính toán kinh tế thông qua giá tiền tệ

Thông qua quá trình định giá của thị trường, những mức độ quan trọng của những tài nguyên và hàng hóa tiêu dùng khác nhau được biến thành những thuật ngữ phổ biến bằng hình thức giá cả tiền tệ. Tiền cho phép con người thực hiện những tính toán kinh tế bởi vì nó là phương tiện trao đổi phổ biến. Tất cả hàng hóa và dịch vụ được mua và bán trên thị trường được trao đổi để lấy một số tiền. Những giá cả tiền tệ này không phải là sự đo lường của giá trị. Giá cả tiền tệ là những tỷ lệ trao đổi biểu hiện mức xếp hạng của sự định giá của các hàng hóa lúc con người tham gia trao đổi trên thị trường. Giá cả tiền tệ sẽ luôn thay đổi bởi vì tính thay đổi của sự định giá của con người và bởi vì những sự thay đổi trong nguồn cung và cầu của các hàng hóa và dịch vụ. Xu hướng nhận thức sự thay đổi của con người về những thứ họ cho rằng cần sự tiến bộ trong việc làm hài lòng họ ngăn chặn sự ổn định hóa của giá cả trong nền kinh tế thị trường.

Sự tính toán kinh tế hay tài chính thực chất là một việc cung cấp sự so sánh giữa đầu vào và đầu ra, giữa sự cân nhắc và kết quả, và giữa việc sử dụng tài nguyên trong quá khứ và hiện tại. Sự tính toán bằng hiện vật, cũng như sự tính toán bằng công nghệ, sẽ không đủ để đáp ứng công việc phân phối kinh tế. Giá cả tiền tệ, liên quan đến những số lượng và hàng hóa nhất định, cho phép sự định giá của chi phí tiền tệ và doanh thu, nó làm rõ mức độ mong muốn cho việc sử dụng tài nguyên vào những việc cụ thể.

Sự tính toán kinh tế bao gồm cả sự tính toán tiền tệ quá khứ và tiềm năng. Sự tính toán tiền tệ quá khứ là sự xác định của mức lời hoặc lỗ trong quá khứ, như thu nhập, đến từ những hành động đã làm và đóng hai mục đích: 1) vì quá khứ được cho rằng là dấu hiệu dự đoán tương lai, nên nó có giá trị giảng dạy, và 2) sự xác định của thu nhập tiền tệ cho thấy mức độ sản xuất có thể được duy trì sau khi thu nhập hiện tại đã được sử dụng. Chức năng thứ hai đến từ khái niệm của Vốn và Thu Nhập, dụng cụ tất yếu của sự tính toán kinh tế, một thứ sẽ được đề cập đến sau. Sự tính toán tiềm năng, có thể được ảnh hưởng bởi sự tính toán quá khứ của vốn và thu nhập, là một vấn đề về dự đoán mức lời hoặc lỗ được kỳ vọng từ những hành động nhất định nào đó. Chú ý rằng tất cả các sự tính toán kinh tế đều liên quan đến tương lai, tất cả các hành động đều tập trung vào tương lai, cho dù được tính bằng giờ, ngày, năm hoặc lâu hơn. Mỗi bước đi trên con đường sử dụng tài nguyên có một định hướng quá khứ.

[/nextpage]

Những khái niệm về Vốn và Thu Nhập

Bản chất của các hoạt động kinh tế hiện đại là sự thúc đẩy của tài nguyên đến quá trình sản xuất để đưa đến những hàng hóa tiêu dùng và dịch vụ. Nhà doanh nhân và sản xuất đầu tư vốn của họ để có được những phương tiên sản xuất mà anh ta kỳ vọng sẽ làm tăng mức thịnh vượng của mình. Qua giá cả tiền tệ nhà sản xuất có thể xác định được những yếu tố kinh tế để sử dụng cho việc sản xuất trong tương lai. Số lượng tiền xác định được dành cho những hoạt động sản xuất được gọi là Vốn, và mục đích để gìn giữ mức tối thiểu này gọi là Bảo Trì Vốn. Mises đã định nghĩa vốn như sau:

”Vốn và tổng số tiền tương đương với tất cả tài sản trừ tổng số nợ được tập trung cho sự hoạt động của một đơn vị kinh doanh. Nó không quan trọng những tài sản này bao gồm cái gì, dù nó là đất, tòa nhà, dụng cụ, thiết bị, đơn nhận hàng, đơn thanh toán , tiền mặt hay bất cứ cái gì khác.”

Khi những nỗ lực sản xuất dẫn đến số tài sản mà giá trị tiền tệ đã vượt hơn số vốn đã bỏ ra cho nỗ lực đó, đơn vị kinh doanh đó được cho rằng đã kiếm được doanh thu tương đương với số thặng dư đang có. Khái niệm thu nhập là sự tương ứng của khái niệm vốn. Thu nhập là số tiền có thể tiêu thụ mà không cần phải làm giảm số lương vốn đến dưới mức đã được dồn cho việc hoạt động kinh doanh đó ở điểm bắt đầu và bất cứ khoản đầu tư nào đã được trả trong giai đoạn đó. Nếu sự tiêu thụ được giới hạn đối với số lượng thu nhập, số vốn sẽ được duy trì. Nếu, ngược lại, lượng tiêu thụ vượt quá thu nhập, vốn sẽ không được duy trì, sự khác biệt này được đề cập đến là Mức Tiêu Thụ Vốn. Sự tích lũy vốn được thực hiện khi lượng tiêu thụ thấp hơn lượng thu nhập có sẵn, nghĩa là, khi một phần hoặc tất cả thu nhập được tiết kiệm. Nếu doanh nghiệp thất bại trong việc kiếm thu nhập và thay vào đó gánh chịu một khoản lỗ, đó là sự tiêu thụ vốn, và vốn nó không được gìn giữ trừ khi nhà sản xuát rót thêm vào. Những khoản đầu tư bổ sung, cộng với tác động của  thu nhập và tiêu thụ, được thực hiện để duy trì vốn, tích lũy vốn hoặc giảm lượng tiêu thụ vốn. Như Mises đã nói, ”Chung với nhiệm vụ tính toán kinh tế là những thứ quan trọng như thu nhập, tiết kiệm và tích lũy vốn.”

Mặc dù vốn có thể được bao gồm trong những yếu tố sản xuất (thường được gọi là tư liệu sản xuất), cái ý tưởng của vốn đề cập đến một khái niệm tồn tại chỉ trong tâm trí của những cá nhân. Con người luôn nhận thức về mức quan trọng tài chính của những phương tiện mà anh ta sẽ dùng cho những mục đích sản xuất. Khái niệm này là một yếu tố trong sự tính toán kinh tế và cung cấp một cở sở để đánh giá những kết quả của tiêu thụ và sản xuất thông qua việc duy trì vốn. Những vật liệu sản xuất trước sau gì cũng được phân tán, chỉ có giá trị của vốn sản xuất mới có thể luôn được duy trì hoặc gìn giữ thông qua sự quản lý của tiêu thụ.

Kết quả của những hành động trong quá khứ liên quan đến sự tính toán của vốn trước và sau các hành động đã được thực hiện. Những so sánh giữa hai sự tính toán mang lại sự định giá của lợi nhuận (thu nhập) hoặc lỗ. Hình thức quá khứ của tính toán kinh tế cung cấp một điểm xuất phát trong việc lên kế hoạch cho những hành động trong tương lai đến mức các thành viên tham gia cho rằng quá khứ là một tín hiệu cho những gì sẽ xảy ra trong tương lai. Điều này đã phần nào giải thích vấn đề với kiến thức trong phần trước.

Ngoài việc cung cấp những mục đích giáo huấn, sự định lượng của lời hoặc lỗ đến từ những hành động trong quá khứ cung cấp phương tiện duy nhất mà những người tham gia có thể xác định được rằng khả năng sản xuất của các đơn vị kinh doanh có thể suy giảm hay không. Như bất cứ ai khác, các nhà sản xuất quan tâm đến việc đạt được sự thỏa mãn của nhu cầu cá nhân của họ, và sự tính toán lời hoặc lỗ cho thấy mức độ mà họ có thể tận hưởng mức tiêu thụ mà không cần làm giảm số lượng vốn cần thiết để duy trì sản xuất trong tương lai ở mức tương đương với trong quá khứ.

Sự tính toán này có thể cho thấy những khoản đầu tư bổ sung là điều cần thiết để bù đắp sự tiêu thụ của số vốn đến từ những hoạt động không lợi nhuận hoặc để đạt được mức tích lũy vốn kỳ vọng. Và sự định lượng vốn gần nhất dành một sự so sánh của lời hoặc lỗ đến từ những hành động được thực hiện trong khoảng thời gian sau. Vì vậy, sự tính toán kinh tế trong quá khứ là quan trọng chỉ bởi vì nó lên kế hoạch cho những hành động trong tương lai, nếu không dành cho việc này thì những hành động trong quá khứ đều không hữu dụng.

Tất cả những hoạt động sản xuất đều được dẫn dắt bởi sự tính toán của những chi phí dự đoán trong tương lai và những doanh thu kỳ vọng đến từ những hoạt động sản xuất đó. Sự định lượng của doanh thu và chi phí trong quá khứ hỗ trợ rất lớn trong việc dự đoán những kết quả trong tương lai. Đối với đa số doanh nhân sản xuất, những hành động đó chỉ có thể được theo đuổi khi lượng doanh thu đầu ra nhiều hơn lượng chi phí đầu vào, kể cả số vốn đã sử dụng. Tài nguyên sau đó được dùng vào những việc có lợi nhuận cao nhất bằng những phương tiện dự đoán, xây dựng trên những giá cả kỳ vọng cho những hàng hóa và dịch vụ. Mises đã nói rõ ràng về mức độ quan trọng của sự tính toán tiền tệ:

”Sự tính toán tiền tệ được dẫn dắt bởi một ngôi sao hành động dưới hệ thống phân công lao động của thị trường. Nó là cái la bàn mà con người khi tham gia sản xuất. Anh ta tính toán để phân biệt những mục sản xuất lợi nhuận với những sản xuất không lợi nhuận, những việc mà người tiêud ùng sẽ đồng ý chấp nhận từ những việc họ sẽ không chấp nhận. Tất cả bước đi của các hoạt động kinh doanh đều được giám sát bởi sự tính toán tiền tệ. Việc suy đón trước của những hành động trở thành sự tính toán kinh doanh của chi phí và doanh thu kỳ vọng. Kết quả của những hành động trong quá khứ trở thành mức lời và lỗ trong sổ sách kế toán.

Có một điều chắc chắn rằng sự tính toán kinh tế hoặc tiền tệ không phải là một quá trình đo lường. Các con số tiền tệ không cung cấp một đơn vị giá trị nào chuẩn. Sự vô hạn của việc sử dụng các tài nguyên sản xuất cho rằng những sự lựa chọn hoặc ưu đãi, chứ không phải sự đo lường của giá trị, là những đặc tính quan trọng của bản chất vấn đề kinh tế. Sự tính toán tiền tệ, qua giá cả trong quá khứ và tương lai, cho thấy sự lựa chọn hoặc mức độ quan trọng của những công việc khác.

[nextpage title=”3″ ]

 

[/nextpage]

Facebook Comments