Kinh Tế Vĩ Mô

[nextpage title=”1 – Giới thiệu và lịch sử” ]

1 – Kinh Tế Vĩ Mô – Giới thiệu và lịch sử

Nói chung, kinh tế học là một ngành học về những cách các đại lý (con người, doanh nghiệp, quốc gia) sử dụng những tài nguyên khan hiếm để đáp ứng những nhu cầu không giới hạn. Kinh Tế Vĩ Mô là một nhánh trong kinh tế học liên quan đến những hệ thống kinh tế hoạt động trên quy mô lớn.

Khác với kinh tế vi mô, một nhánh tập trung vào những sự lựa chọn được thực hiện bởi những cá nhân trong nền kinh tế (những người tiêu dùng cá nhân, doanh nghiệp độc lập), Kinh Tế Vĩ Mô tập trung đến hiệu suất, cấu trúc và hành vi của nền kinh tế nói chung. Khi các nhà đầu tư nói về kinh tế vĩ mô, những cuộc đàm thoại về chính sách như tăng hay giảm lãi suất hoặc thay đổi mức thuế thường được nhắc đến.

Vài câu hỏi được đề cập bởi kinh tế vĩ mô bao gồm: điều gì tạo ra thất nghiệp? Điều gì tạo ra lạm phát? Điều gì tạo nên hoặc kích thích sự phát triển? Kinh Tế Vĩ Mô tìm cách để đo một nền kinh tế đang hoạt động thế nào, hiểu nó hoạt động ra sao, và nó có thể được cải thiện như thế nào.

Trong khi thuật ngữ ” Kinh Tế Vĩ Mô” thật ra không quá cũ (bắt đầu với Ragnar Frisch vào năm 1933), rất nhiều khái niệm chính trong Kinh Tế Vĩ Mô đã được tập trung nhiều hơn. Những đề tài như thất nghiệp, giá cả, tăng trưởng và giao thương đã được các nhà kinh tế học quan tâm đến từ ban đầu, mặc dù những nghiên cứu của họ đã trở nên tập trung hơn vào những đề tài đó vào thập niên 1990 và 2000.

Rất khó để có thể nêu tên của một nhà sáng lập ra Kinh Tế Vĩ Mô. John Maynard Keynes là một người thường được cho rằng đã phát triển những thuyết kinh tế đầu tiên mà mô tả hoặc mô hình những hành vi của nền kinh tế, những yếu tố từ những người trước đó như Adam Smith và John Stuart Mill cũng đã đề cập những vấn đề mà ngày nay chúng ta biết đến là Kinh Tế Vĩ Mô.

Mặc dù những ý tưởng của Kinh Tế Vi Mô giống như một thuyết trò chơi là điều khá quan trọng trong ngày hôm nay và những quá trình đưa ra quyết định của những cá nhân như doanh nghiệp vẫn còn là một lĩnh vực nghiên cứu quan trọng, những Kinh Tế Vĩ Mô đã trở thành tâm điểm trong kinh tế học – ít ra là nó được áp dụng vào trong quá tình đầu tư và các thị trường tài chính.

[/nextpage]

[nextpage title=”2 – Các Trường Phái Tư Tưởng” ]

2 – Kinh Tế Vĩ Mô – Các Trường Phái Tư Tưởng

Lĩnh vực Kinh Tế Vĩ Mô được tổ chức theo nhiều trường phái tư tưởng khác nhau, với những quan điểm khác biệt về cách thị trường hoạt động và cách những người tham gia hoạt động. Sau đây là vài trường phái chính.

Trường phái kinh tế cổ điển (Classical)

Các kinh tế gia cổ điển cho rằng giá cả, lương và lãi suất đều linh hoạt và thị trường luôn luôn đúng. Vì không có cái gọi là thất nghiệp, nên sự tăng trưởng dựa vào nguồn cung của các yếu tố sản xuất. Các kinh tế gia khác xây dựng nền tảng của mình dựa theo thuyết kinh tế cổ điển của Adam Smith.

Trường phái kinh tế Keynesian

Kinh tế Keynesian chủ yếu được thành lập trên những tác phẩm của John Maynard Keynes. Các nhà kinh tế Keynesian tập trung vào tổng cầu như là yếu tố chính trong những vấn đề như thất nghiệp và chu kỳ kinh doanh. Các nhà kinh tế Keynesian tin rằng chu kỳ kinh doanh có thể được quản lý bằng sự can thiệp của chính phủ qua chính sách tài chính (tiêu nhiều hơn trong giai đoạn suy trầm để tăng lương cầu) và chính sách tiền tệ (kích thích lượng cầu với lãi suất thấp). Các nhà kinh tế Keynesian cũng tin rằng có những điều cố định trong hệ thống, nhất là mức lương “dính/bất động” và giá cả, nhưng thứ ngăn chặn sự phối hợp tối ưu giữa cung và cầu.

Trường phái kinh tế tiền tệ (Monetarist)

Trường phái kinh tế tiền tệ chủ yếu dựa vào những tác phẩm của Milton Friedman. Các nhà kinh tế tiền tệ tin rằng vai trò của chính phủ là điều khiển lạm phát bằng cách điều khiển lượng cung của tiền. Họ tin rằng thị trường đa phần là hiệu quả và những người tham gia trong nền kinh tế có những kỳ vọng hợp lý. Các nhà tiền tệ bác bỏ quan niệm của Keynesian rằng chính phủ có thể quản lý lượng cầu và nỗ lực để quản lý nó thường phản tác dụng và dẫn đến lạm phát.

Trường phái kinh tế tân Keynesian

Trường Phái Tân Keynesian đưa thêm những nền tảng của kinh tế vi mô vào những lý thuyết kinh tế Keynesian cổ điển. Trong khi nhừng nhà kinh tế Tân Keynesian đồng ý rằng các hộ gia đình và doanh nghiệp hoạt động trên những kỳ vọng hợp lý, họ vẫn duy trì quan niệm rằng thị trường vẫn có thể thất bại, như việc lương và giá cả chậm biến động. Bởi vì sự chậm biến động này, chính phủ có thể cải thiện điều điện kinh tế vĩ mô qua chính sách tài chính và tiền tệ.

Trường phái kinh tế Tân Cổ Điển

Kinh tế Tân Cổ Điển cho rằng con người có những kỳ vọng hợp lý và phấn đấu để tối đa hóa tiện ích của họ. Trường phái này đưa ra giả định rằng con người hành động độc lập dựa tất cả những thông tin họ có thể gom lại được. Cái ý tưởng Học Thuyết Cận Biên (Marginalism) và tối đa hóa hữu dụng biên được cho là đến từ trường phái tân cổ điển, cũng như quan niệm rằng các đại lý kinh tế hành động dựa trên những kỳ vọng hợp lý. Vì các kinh tế gia tân cổ điển tin rằng thị trường luôn trong trạng thái cân bằng, kinh tế vĩ mô thường tập trung vào sự tăng trưởng của những yếu tố cung và sự ảnh hưởng của nguồn cung của tiền tệ trên mức giá cả.

Trường Phái Kinh Tế Cổ Điển Mới

Trường Phái Kinh Tế Cổ Điển mới được thành lập chủ yếu theo trường  phái Tân Cổ Điển. Trường phái kinh tế cổ điển mới nhấn mạnh sự quan tọng của kinh tế vi mô và những mô hình dựa theo những hành vi đó. Trường phái kinh tế mới cho rằng tất cả các đại lý kinh tế  có những kỳ vọng hợp lý. Họ cũng tin rằng thị trường luôn ở mức cân bằng. Các kinh tế gia cổ điển mới tin rằng thất nghiệp hầu hết là tự nguyện và những chính sách tài chính thường gây ra bất ổn định, trong khi lạm phát có thể được kiểm soát với chính sách tiền tệ.

Trường Phái Kinh Tế Áo

Trường Phái Kinh Tế Áo là một trong những trường phái lâu đời của kinh tế học nhưng đang chứng kiến sự tái sinh sau thời kỳ đại khủng hoảng tài chính với những thuyết giải thích vấn đề mà không trường phái nào có. Các kinh tế gia trường phái Áo tin rằng hành vi con người thường quá độc lập để có thể mô phỏng một cách chính xác với toán học và sự can thiệp của chính phủ một cách tối thiểu là giải pháp tốt nhất. Trường phái Áo đã cống hiến những thuyết và lời giải thích hữu dụng về chu kỳ kinh doanh, tác động của cường độ vốn, tầm quan trọng của thời gian và chi phí cơ hội trong việc quyết định tiêu thụ và giá trị.

Hầu hết những thuyết kinh tế của trường phái Kinh tế Áo hiện đại được dựa theo những tác phẩm của Ludwig von Mises, FA Hayek và Murray N Rothbard. Tổ chức lớn nhất đại diện cho trường phái này là Học Viện Mises tại Mises.org.

[/nextpage]

[nextpage title=”3 – Những Nền Tảng Vi Mô” ]

3 – Kinh Tế Vĩ Mô: Những Nền Tảng Vi Mô

Mặc dù có những định nghĩa rõ ràng phân biệt kinh tế vi mô và kinh tế vĩ mô, nhưng thực tế là cả hai đều có những khái niệm tương đương. Cả hai đều nhấn mạnh thực tế về sự khan hiếm của tài nguyên và sự vô tận của những mong muốn.

Kinh tế học cho rằng việc tối đa hóa phúc lợi là mục đích chính của những mục tiêu kinh tế. Phúc lợi có thể được định nghĩa là sự tối đa hóa trong việc tận hưởng tài nguyên với sự tối thiểu của công sức (lao động hoặc vốn). Phúc lợi được đo một phần bởi sự thặng dư của người tiêu dùng và nhà sản xuất – sự thặng dư của nhà tiêu dùng là sự khác biệt giữa cái giá người tiêu dùng có thể chi trả và cái giá thực tế phải chi trả, trong khi sự thặng dư của nhà sản xuất là sự khác biệt giữa giá bán và cái giá nhà sản xuất chấp nhận bán.

Sự khan hiếm và sự lựa chọn là những yếu tố chính trong kinh tế vĩ mô. Sự khan hiếm không đồng nghĩa với sự thiếu thốn. Khan hiếm có nghĩa là một món hàng hay dịch vụ đang có nhu cầu nhưng chỉ có tài nguyên giới hạn để đáp ứng cho nhu cầu đó. Lượng nhu cầu thừa luôn tồn tại ở mức giá ‘không’ và vì vậy giá cân bằng phải luôn luôn ở trên mức số không.

Để so sánh, một sự thiếu thốn là một tình huống khi nhu cầu vượt cung và có một động cơ để đẩy giá lên đến mức vừa phải để xóa những nhu cầu dư kia – ví dụ những chiếc xe tải có thể chậm trễ trong việc giao hàng và cửa hàng không thể (và không được) tăng giá, thì trong tình huống đó sẽ có một sự thiếu thốn của hàng hóa trong cửa hàng. Sự khan hiếm là một động lực thúc đẩy trong kinh tế, vì nó đóng vai trò phân phối hàng hóa, dịch vụ và giá cả để làm cân bằng lực cung và cầu.

Học thuyết cận biên là một khái niệm quan trọng trong kinh tế vĩ mô. Học thuyết cận biên đề cập đến cả tác động của mỗi đơn vị trong bất cứ sự thay đổi nào, cũng như quá trình cân nhắc chi phí và lợi ích liên quan trực tiếp đến một quyết định. Ví dụ, một đại lý kinh tế chỉ hành động hợp lý khi lợi ích biên cao hơn chi phí biên.

[/nextpage]

[nextpage title=”4 – Cung, Cầu và Độ Co Giãn Của Nhu Cầu” ]

4 – Kinh tế vĩ mô: Cung, Cầu và Độ Co Giãn Của Nhu Cầu

Nhu cầu được thúc đẩy bởi sự hữu dụng – niềm vui hoặc sự hài lòng mà người tiêu dùng có được từ việc tiêu thụ một món hàng hoặc dịch vụ. Hữu Dụng Toàn Bộ là một chức năng của số lượng hàng hóa và dịch vụ đã tiêu thụ và số lượng công việc đã làm. Điều quan trọng hơn là khái niệm Hữu Dụng Biên – sự hữu dụng bổ sung đến từ việc tiêu thụ thêm một đơn vị hàng hóa hoặc dịch vụ – đến một điểm nào đó, Hữu Dụng Biên sẽ luôn luôn giảm.

Người tiêu dùng tối đa hóa mức hữu dụng của mình bằng cách tiêu thụ đến khi mức Hữu Dụng Biên là số không. Sự tiêu thị là một sản phẩm phụ của thu thập khả dụng (thu nhập bạn có thể dùng để tiêu thụ), khi thu nhập khả dụng (thu nhập trước thuế trừ thuế). Nói cách khác, thu nhập khả dụng cũng cân bằng với tổng lượng tiêu thụ và tiết kiệm.

Có hàng loạt công thức có thể diễn tả tiêu thụ cá nhân. Một Xu Hướng Tiêu Thụ Cận Biên của một người được quyết định chủ yếu bởi thu nhập, vì xu hướng cận biên cân đối với mức thay đổi trong tiêu thụ chia cho mức thay đổi trong nhu thập khả dụng. Cũng tương tự, một Xu Hướng Tiết Kiệm Cận Biên của một người có thể được đo bởi mức thay đổi trong tiết kiệm chia cho mức thay đổi trong thu nhập khả dụng. Tại mọi thời điểm, Xu Hướng Tiêu Thụ Cận Biện và Xu Hướng Tiết Kiệm Cận Biên phải bằng ”1.”

Điều gì quyết định mức tiêu thụ và tiết kiệm? Sự giàu có đóng một vai trò, mức giàu có càng cao dẫn đến việc tiêu thụ nhiều hơn. Yêu cầu và mong đợi của người tiêu dùng cũng đóng một vai trò quan trọng, nếu người tiêu dùng cho rằng tình hình kinh tế sẽ trở nên tồi tệ hơn, họ sẽ tiêu ít hơn và tiết kiệm nhiều hơn. Nợ của các hộ gia đình cũng là một yếu tố, vì nợ tượng trưng cho sự tiêu thụ tương lai được đem đến hiện tại. Cuối cùng, thuế và tiền phúc lợi từ chính phủ cũng ảnh hưởng đến tiêu thụ – con người bị đánh thuế càng nhiều, họ sẽ tiêu ít lại, trong khi mức phúc lợi từ chính phủ chi trả càng tăng có thể làm gia tăng tiêu thụ.

Tổng nhu cầu cho hàng hóa và dịch vụ trong một nền kinh tế là tổng cầu (thường được diễn tả là Y trong GDP) là tổng số lượng nhu cầu tiêu dùng, chi tiêu cho đầu tư, chi tiêu chính phủ và xuất khẩu ròng (xuất khẩu trừ nhập khẩu). Đường cong của tổng cầu có hướng xuống dốc, vì nhu cầu giảm khi giá cả gia tăng.

Nhu cầu có thể bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố. Vài trong những yếu tố của nhu cầu bao gồm:

Sự gia tăng hoặc suy giảm của tài sản thật – Khi tài sản của người tiêu dùng gia tăng, họ sẽ yêu cầu nhiều hàng hóa hơn. Mức gia tăng này không chậm lại ở những cấp bậc tài sản (thịnh vượng) cao hơn, mặc dù số phần của thu nhập sẽ được dành cho tiết kiệm (sự tiêu thụ trong tương lai).

Sự suy giảm hoặc gia tăng trong lãi suất thật (lãi suất trừ lạm phát) – Khi người tiêu dùng cảm thấy tích cực hơn về tình hình kinh tế (cũng như công việc và thu nhập của họ), họ sẽ tiêu nhiều hơn.

Sự gia tăng hoặc suy giảm trong mức lạm phát kỳ vọng – Lạm phát làm giảm giá trị của những đồng tiền chưa tiêu dùng, khi người tiêu dùng nghĩ rằng sẽ có mức lạm phát cao hơn (hoặc giá cả cao hơn vì lạm phát trong tương lai), họ sẽ tiêu nhiều hơn trong hôm nay thay vì nhìn đồng tiền của họ tiêu dùng ít hơn trong tương lai.

Sự gia tăng hoặc suy giảm trong thu nhập ngoài nước – Nếu người nước ngoài kiếm được nhiều tiền hơn, họ có thể tiêu nhiều tiền hơn vào những hàng hóa nhập.

Sự suy giảm hoặc gia tăng trong tỷ giá hối đoái (giá trị tiền tệ trên thị trường) – Một tiền tệ mạnh hơn khuyến khích tiêu dùng vào những hàng hóa nhập khẩu khi nó càng trở nên rẻ hơn.

 

Cung

Bản đối chiếu của Tổng Cầu là Tổng Cung – tổng số lượng hàng hóa và dịch vụ được sản xuất trong nền kinh tế ở một mức giá. Có nhiều loại kết hợp của hàng hóa và dịch vụ có thể được sản xuất trong một nền kinh tế và đường cong khả năng sản xuất minh họa lượng sản xuất tối đa có thể đạt được trong một nền kinh tế (dựa theo mức tham gia lao động tối đa và sử dụng tài nguyên tối đa). Sản xuất tối đa được xác định trên việc sử dụng tài nguyên một cách tối ưu nhất.

Các doanh nghiệp tối đa hóa lợi nhuận của họ bằng cách sản xuất số lượng đến mức khi Doanh Thu Cận Biên của số hàng hóa kế tiếp được bán cân bằng với Chi Phí Cận Biên của việc sản xuất ra nó. Cũng như vậy, một triết lý tương tự cũng đang được áp dụng khi doanh nghiệp cân nhắc việc có nên thực hiện một thương vụ đầu tư mới không. Để một doanh nghiệp thực hiện một thương vụ đầu tư, mức Lợi Tức Đầu Tư Thật (mức lợi tức trừ lạm phát) phải cân bằng hoặc cao hơn chi phí thật của thương vụ đầu tư đó. Vì vậy, lạm phát càng cao thường làm giảm hoạt động kinh doanh.

 

Có nhiều yếu tố có thể ảnh hưởng nguồn cung:

Sự gia tăng/suy giảm của lượng tài nguyên – Khi lượng tài nguyên và vật liệu là một yếu tố giới hạn trong việc sản xuất, sự gia tăng trong lượng tài nguyên cho phép một sự gia tăng trong nguồn cung của hàng hóa và dịch vụ.

Sự cải tiến của công nghệ và năng suất – Việc công nghệ và năng suất được cải tiến cho phép nhà sản xuất tạo ra thêm nhiều hàng hóa với giá thấp hơn trước.

Sự thay đổi trong hiệu quả của phần tài nguyên được sử dụng – Hiệu quả tốt hơn có nghĩa là các nhà cung cấp có thể sản xuất hàng hóa và dịch vụ nhiều hơn từ số lượng tài nguyên tương tự như trước.

Sự suy giảm/gia tăng trong giá cả vật liệu – khi giá của vật liệu ở đầu vào giảm, các nhà cung cấp có thể bán thêm nhiều hàng hóa và dịch vụ ở mức giá tương tự như trước.

Sự suy giảm/tăng của lạm phát – Lạm phát làm tăng chi phí sản xuất, sự suy giảm của lạm phát cho phép nhà sản xuất làm nhiều hàng hóa hơn ở mức giá tương tự như trước.

Cú sốc thuận lợi/không thuận lợi cho nguồn cung – Những cú sốc thuận lợi cho nguồn cung làm gia tăng mức lợi nhuận cho sản xuất của các nhà cung cấp, trong khi một cú sốc không thuận lợi (như một lệnh cấm vận) có thể làm tổn hại sự tiếp cận của một doanh nghiệp đến nguồn cung và ảnh hưởng đến khả năng sản xuất hàng hóa.

Khi cung và cầu được cân đối (khi hai đường cong cung và cầu trên biểu đồ gặp nhau), thị trường đang ở điểm cân đối. Bất cứ lúc nào, người tiêu dùng và nhà sản xuất đều muốn tối đa hóa mức hữu dụng của mình. Người tiêu dùng tối đa hóa mức hữu dụng của mình bằng cách tiêu thụ những hàng hóa với mức Hứu Dụng Biên Tích Cực. Nhà sản xuất tối đa hóa mức Hữu Dụng Biên của mình bằng cách sản xuất hàng hóa và dịch vụ khi Doanh Thu Cận Biên nhiều hơn Chi Phí Cận Biên.

Độ Co Dãn

Độ Co Dãn đề cập đến mức độ khi đường cong cung và cầu phản ứng đối với sự thay đổi trong giá cả. Được thể hiện với công thức: Độ Co Dãn = % thay đổi trong số lượng / % thay đổi trong giá cả. Điều này có nghĩa là những hàng hóa và dịch vụ có độ co dãn cao sẽ chứng kiến những thay đổi lớn trong lượng cung và cầu với những thay đổi nhỏ trong giá cả.

Độ Co Dãn có thể được ảnh hưởng bởi một vài yếu tố, trong đó gồm: sự có sẵn của những hàng hóa và dịch vụ thay thế (càng nhiều thứ thay thế thì mức Độ Co Dãn càng cao), thu nhập có sẵn và thời gian. Độ Co Dãn là một ý tưởng cảm tính, nhiều người sẽ trả bất cứ giá nào cho một liều thuốc có thể cứu sống, nhưng có thể đổi sang nước soda khác vì sự khác biệt vài xu, nhưng Độ Co Dãn có nhiều ứng dụng hơn nữa. Độ Co Dãn đóng vai trò trong việc quyết định tác động của việc thay đổi giá cả đến doanh thu kinh doanh, sự phân tích gánh nặng thuế, lợi ích của giao thương và tác động của quảng cáo.

[/nextpage]

[nextpage title=”5 – Tiền Tệ Và Ngân Hàng” ]

5 – Kinh Tế Vĩ Mô: Tiền Tệ Và Ngân Hàng

Tiền có thể được coi như một hàng hóa được sử dụng phổ biến hoặc được chấp nhận trong việc trao đổi hàng hóa và dịch vụ. Ngày nay, có ba loại tiền tệ chính được sử dụng. (1) Tiền Tệ Hàng Hóa là một hàng hóa mà giá trị của nó đóng vai trò giá trị của tiền tệ – vàng hoặc bạc là hai ví dụ điển hình. (2) Tiền Định Danh là một hàng hóa mà giá trị của nó thấp hơn giá trị của tiền tệ mà nó tượng trưng. – tiền giấy là một ví dụ điển hình. (3) Tiền Ngân hàng bao gồm những tín dụng kế toán có thể được rút bởi người gửi tiền – tài khoản tiết kiệm/giao dịch là một ví dụ.

Tiền phục vụ nhiều chức năng trong nền kinh tế. Tiền đầu tiên và trên hết là một phương tiện trao đổi. Khi tất cả thành viên trong nền kinh tế chấp nhận tiền, nó loại bỏ nhu cầu cho sự trùng hợp về nhu cầu khi trao đổi hàng hóa – nghĩa là, cả hai bên đều phải muốn những thứ bên kia đang có. Vì vậy, tiền với tư cách là một phương tiện trao đổi là một cách giao dịch thuận tiện và nhanh hơn trong thương mại.

Tiền cũng đóng vai trò gìn giữ giá trị qua thời gian. Một tờ $1 hoặc một đồng vàng sẽ vẫn có giá trị vào ngày mai hoặc một năm sau, nhưng một con cá sẽ có giá trị rất thấp chỉ sau vài ngày bởi vì nó sẽ bị phân hủy.

Cuối cùng, tiền cũng cung cấp một đơn vị thuận tiện cho việc tính toán. Nếu một ai đó ra giá $100 thì mọi người sẽ hiểu giá trị của món hàng kia. Để so sánh, một con cá 4.5 lạng có thể có giá tị tương đương, nhưng nếu niêm yết món hàng kia bằng trọng lượng cá thì người tiêu dùng sẽ rất khó hình dung ra giá trị tượng trưng của nó.

Nhu cầu cho tiền được quyết định bởi mức giá cả và mức hoạt động trong nền kinh tế. Lãi suất trong trường hợp này đóng vai trò là giá cả của đồng tiền, và lãi suất được quyết định bởi mức độ cung cầu cho tiền – khi nhu cầu cho tiền giảm (đa phần vì các hoạt động kinh tế bị suy giảm), lãi suất giảm và khi nhu cầu cho tiền gia tăng, lãi suất cũng tăng theo.

Ngân Hàng Trung Ương và hệ thống ngân hàng

Trong đa số quốc gia, tiền được cung cấp bởi ngân hàng trung ương. Ở Mỹ thì ngân hàng trung ương là Cục Dự Trữ Liên Bang (Federal Reserve, hoặc FED). FED không chỉ đóng vai trò cung cấp tiền và định giá tiền qua nhiều phương tiện, nhưng cũng đóng vai trò quản lý và quy định hệ thống ngân hàng ở Mỹ.

Ngân hàng là những tổ chức (doanh nghiệp, cơ quan) mua và bán tiền – họ ”mua” tiền từ người gửi tiền, những người tạm thời gác lại sự tiện ích của việc tiêu tiền để đổi lấy tiền lãi cho việc gửi tiền và ”bán” tiền cho người đi vay qua các hình thức vay tiền.

Mỹ cũng như hầu hết các nền kinh tế Tây Phương, có một hệ thống ngân hàng gọi là ”dự trữ phân đoạn.” Hệ thống ngân hàng này yêu cầu các ngân hàng phải duy trì một số lượng tiền mặt cố định (hoặc theo phần trăm của số tiền được gửi) được quyết định bởi chính phủ như phần an toàn (gọi là dự trữ bắt buộc). Sau đó các ngân hàng được tự do để cho vay số tiền còn lại.

Số dự trữ bắt buộc cũng dẫn đến một khái niệm kinh tế gọi là ”số nhân tiền tệ.” Như tên gọi của nó, một hệ thống số nhân là khi một số tiền ban đầu được nhân lên qua hoạt động trong hệ thống. Số nhân tiền tệ được trình bày qua công thức: 1 / tỷ lệ dự trữ yêu cầu. Trong trường hợp một hệ thống ngân hàng với 10% tỷ lệ dự trữ, cứ mỗi $1 được đặt cọc trong ngân hàng sẽ dẫn đến $10 trong lượng cung tiền tệ (1/0.1) khi số tiền đặt cọc được cho vay, tái đặt cọc, rồi cho vay lại, rồi tiếp tục quá trình.

 

Chính sách tiền tệ

Trong khi chính sách tài chính ngân sách được thực hiện bởi chính phủ quốc gia, chính sách tiền tệ được quản lý bởi ngân hàng trung ương (với mức độ độc lập khác nhau trên toàn thế giới).

Ở Mỹ, chính sách tiền tệ được thực hiện qua ba cơ chế – Nghiệp Vụ Thị Trường Mở, Dự Trữ Yêu Cầu Và Lãi Suất (Lãi Suất Chiết Khấu).

Nghiệp Vụ Thị Trường Mở là sự mua hoặc bán của Trái Phiếu Chính Phủ của FED. Nếu FED muốn tăng số lượng tiền tệ, nó sẽ mua các Trái Phiếu và tài sản từ thị trường (từ những cơ quan, ngân hàng tư nhân). Ngược lại, bằng cách bán trái phiếu và tài sản cho thị trường, FED có thể giảm số lượng tiền trong nền kinh tế.

Thay đổi tỷ lệ dự trữ sẽ làm gia tăng hoặc giảm khả năng cho vay của ngân hàng. Theo luật, tất cả các ngân hàng phải duy trì một phần trăm tối thiểu của tiền đặt cọc, trong khi phần còn lại được tự do cho vay. Khi tỷ lệ dự trữ tăng, các ngân hàng không thể cho vay nhiều hơn vì số lượng tiền bị giảm. Và ngược lại, khi tỷ lệ dự trữ được giảm, các ngân hàng sẽ có nhiều tiền để cho vay hơn và số lượng tiền được tăng trong nền kinh tế.

Cuối cùng, lãi suất chiết khấu là cơ chế của FED được sử dụng cho việc định giá giá trị đồng tiền. Bằng cách tăng hoặc giảm lãi suất của FED, Fed có thể khuyến khích các ngân hàng vay thêm hoặc ít tiền hơn, số tiền đó có thể dùng để cho vay và gia tăng số lượng tiền tệ.

Những lập luận của thuyết kinh tế Keynes cho rằng chính sách tiền tệ có thể được dùng để ảnh hưởng Tổng Cầu, giảm mức độ và thời gian suy trầm của nền kinh tế cũng như làm giảm mức độ tăng trưởng trước khi nền kinh tế phát triển quá nhanh. Thuyết Keynes cho rằng giảm lãi suất sẽ kích thích tiêu thụ từ người tiêu dùng và nhiều đầu tư hơn từ doanh nghiệp, cũng như ngược lại khi lãi suất được tăng.

Các nhà kinh tế của trường phái Tiền Tệ không ủng hộ quan điểm này. Họ cho rằng thay đổi lượng tiền không sản xuất bất cứ một thay đổi nào trong GDP trong dài hạn và chỉ có tác động đến mức giá cả (làm tăng hoặc giảm mức lạm phát). Nói cách khác, bằng cách tăng hoặc giảm lãi suất qua chính sách tiền tệ, chính phủ sẽ đối mặt với rủi ro lạm phát và bất ổn định nền kinh tế, nhưng không thể tạo ra bất cứ sự tăng trưởng ổn định nào.

Những lập luận trên về tính hiệu quả của chính sách tiền tệ quay vòng một khái niệm gọi là ”vận tốc của tiền.” Vận tốc của tiền nói đơn giản là số lần một đơn vị tiền được tiêu trong một thời gian nhất định. Vận tốc càng cao, thì số lượng tiền càng thấp ở một mức giá trong nền kinh tế. Các nhà Tiền Tệ cho rằng vận tốc tiền không thay đổi nhanh chóng hoặc thường xuyên (nếu có) và sự gia tăng trong lượng tiền chỉ làm tăng giá cả hàng hóa.

[/nextpage]

[nextpage title=”6 – Các Hệ Thống Kinh Tế” ]

6 – Kinh Tế Vĩ Mô: Các Hệ Thống Kinh Tế

Trong ngành học Kinh Tế Vĩ Mô, có những mục đích chính cho các hệ thống kinh tế. Nói chung, những mục đích đó bao gồm sự tăng trưởng kinh tế, công việc làm tối đa, hiệu quả kinh tế (đạt được số lượng đầu ra tối đa với những tài nguyên có sẵn), giá cả ổn định và giao thương cân bằng (xuất và nhập khẩu tương đương). Đa số các nhà kinh tế sẽ muốn bao gồm tự do kinh tế (quyền lợi để tự do chọn việc làm, đầu tư và tiêu thụ dựa theo sở thích cá nhân) như một mục đích trọng điểm và vài người nhắc đến một sự phân phối công bằng trong thu nhập như một mục tiêu đáng để đạt đến.

Khi xem xét khái niệm hiệu quả của thị trường, một điều quan trọng phải để ý là có sự tồn tại của nhiều người phản đối khái niệm rằng thị trường tự do mà cơ chế tối ưu để phân phối tài nguyên. Nhất là Chủ Nghĩa Bình Quân, nó cho rằng tất cả thành viên trong nền kinh tế phải nhận được một phần như nhau, bỏ đi phần thưởng nhận được từ năng suất cá nhân.

Trong khi Chủ Nghĩa Bình Quân có thể là một phương pháp cực đoan để đối phó với những nền kinh tế không công bằng, những sự bất công này cũng rất quan trọng. Những sự bất công có thể đến từ những khác biệt trong khả năng, vốn con người (chất xám), sự phân biệt đối xử, sự lựa chọn cá nhân, sự định giá của thị trường và sự may mắn. Nói chung, thậm chí một nhà kinh tế thân chủ nghĩa tự do nhất cũng phản đối việc phân biệt đối xử vì nó làm cản trở hoạt động của nền kinh tế.

Hệ Số Gini là một số liệu thông dụng để đo sự bất công kinh tế, đặc biệt là nó đo sự bất công trong phân phối thu nhập trong nền kinh tế.

Mặc dù vẫn có vài sự quan tâm trong giới hàn lâm về những thuyết kinh tế điều hành tập trung và cộng sản, và một mức quan tâm đáng kể với những thuyết kinh tế phối hợp (nơi mà có sự điều hành của chính phủ và kinh tế thị trường), đa số thuyết kinh tế tập trung vào các hệ thống kinh tế thị trường. Các hệ thống thị trường nhấn mạnh quyền tư hữu cá nhân và các thành viên tham gia được thúc đẩy bởi lợi ích cá nhân để tối đa hóa hạnh phúc và lợi nhuận.

Cạnh tranh hoàn hảo là một thị trường nơi mà có nhiều nhà tiêu dùng và sản xuất nhỏ độc lập. Doanh nghiệp sản xuất những sản phẩm được chuẩn hóa và không có rào cản nào để tham gia hoặc rút lui. Các doanh nghiệp cạnh tranh trong hệ thống cạnh tranh hoàn hảo là những người ”chấp nhận giá.” Nhìn rộng hơn, cạnh tranh hoàn hảo là một tư tưởng vì luôn có rào cản để tham gia và rút lui, nhưng có vài trường hợp đặc biệt như làm nhà văn hoặc nhà lập trình tự do, tuy không hẵn nhưng là ví dụ gần nhất.

Trong hệ thống độc quyền, chỉ có một nhà sản xuất và không có bất cứ một ai có thể thay thế sản phẩm họ làm ra. Trong một hệ thống độc quyền, có rào cản để tham gia rất cao nếu không phải là không có vì chính phủ cấm cạnh tranh và các doanh nghiệp là những nhà định giá khi không có sự can thiệp của chính phủ.

Như đa số độc giả sẽ nhận ra, cạnh tranh hoàn hảo cũng như độc quyền thật sự rất hiếm trong thực tế. Thông thường hơn là những trường hợp của ”Cạnh Tranh Độc Quyền” và ”Độc Quyền Nhóm.”

Cạnh Tranh Độc Quyền thường có những doanh nghiệp lớn cung cấp những sản phẩm khác biệt. Rào cản để tham gia và rút lui vào thị trường này thường rất thấp. Độc Quyền Nhóm chứng kiến vài nhà sản xuất lớn cạnh tranh trong một thị trường, với những sản phẩm khác biệt hoặc sản phẩm như nhau. Thường có mức rào cản để tham gia và rút lui rất cao, và thường có những sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các nhà sản xuất.[/nextpage]

[nextpage title=”7 – Lạm Phát” ]

7 – Kinh Tế Vĩ Mô: Lạm Phát

Lạm phát là một khái niệm quan trọng trong Kinh Tế Vĩ Mô và một mối lo ngại lớn cho những nhà làm chính sách cho chính phủ, doanh nghiệp, người lao động và nhà đầu tư. Lạm phát đề cập đến một sự gia tăng tổng quát của nhiều hàng hóa và dịch vụ trong nền kinh tế qua một gia đoạn nhất định. Ngược lại, lạm phát cũng có thể được xem là một sự suy giảm trong giá trị của một tiền tệ (một đơn vị tiền tệ sẽ được mua ít hàng hóa và dịch vụ hơn so với trước đây). Ở Mỹ, Chỉ Số CPI (Consumer Price Index, Chỉ Số Giá Tiêu Dùng) là một trong những chỉ số được dùng nhiều nhất để đo mức lạm phát. CPI cũng được gọi là ”một rỗ hàng hóa trong thị trường” để đo sự thay đổi trong giá cả được chứng kiến bởi một người tiêu dùng bình thường trong nền kinh tế. Các nhà kinh tế và nhà quản lý ngân hàng trung ương sẽ thường chia nhỏ chỉ số CPI thành ”Lạm Phát Lõi”, một biện pháp không tính những giá cả của đồ ăn và năng lượng.

Chỉ Số PPI (Producer Price Index, Chỉ Số Giá Cả Nhà Sản Xuất) là một thước đo lạm phát theo dõi giá cả của hàng hóa mà nhà sản xuất mua được. Qua một số liệu thống kê kinh tế, sự thay đổi trong thành phần trong vài nền kinh tế từ sản xuất để biến thành dịch vụ đang làm suy giảm giá trị của thống kê này.

Hệ Số Giảm Phát GDP cũng là một lựa chọn khác để đo giá cả và lạm phát. Như cái tên của nó, Hệ Số Giảm Phát GDP là một dụng cụ để đo giá cả được sử dụng để chuyển đổi GDP Danh Nghĩa sang GDP Thực Tế. Hệ Số Giảm Phát GDP là một cách đo rộng lớn hơn chỉ số CPI, vì nó bao gồm hàng hóa và dịch vụ được mua bởi các doanh nghiệp và chính phủ.

Mặc dù có ít sự đồng thuận về mức lạm phát “đúng đắn” cho nền kinh tế (hoặc lạm phát có cần thiết hay không?), có rất ít sự bất đồng về những tác động hoặc tác hại của mức lạm phát dự kiến (đoán được, lường trước được) và không dự kiến. Khi lạm phát được đoán trước, những thành viên trong nền kinh tế có thể lên kế hoạch và hành động theo nó – doanh nghiệp có thể tăng giá, người lao động có thể yêu cầu tăng lương, nhà cho vay có thể tăng lãi suất và vân vân.

Mức lạm phát không lường trước được gây ra nhiều vấn đề hơn. Khi lạm phát cao hơn dự kiến, nó thường gây tác hại đến người lao động, những người nhận lương cố định và những ai tiết kiệm. Ngược lại, lạm phát không lường trước được thường có lợi cho các doanh nghiệp (họ có thể tăng giá hàng hóa nhanh chóng mà không cần phải tăng lương) và người đi vay (họ có thể trả nợ với những đồng tiền có giá trị thấp hơn khi họ vay nó).

Trong dài hạn, mức lạm phát không đoán trước được có thể gây nên vài vấn đề cho nền kinh tế. Doanh nghiệp sẽ đầu tư ít hơn vào những dự án dài hạn bởi vì mức lợi tức sẽ khó đoán được, những thông tin về giá cả sẽ bị thao túng và người tiêu dùng sẽ dùng nhiều thời gian để bảo vệ bản thân họ từ lạm phát và ít thời gian hơn để tham gia vào các hoạt động kinh tế. Những giai đoạn của lạm phát cũng thường có xu hướng chuyển tiền đầu tư từ doanh nghiệp sang những tài sản cứng  (như vàng, bất động sản), và làm giảm số vốn doanh nghiệp cần để tăng trưởng và phát triển.

Điều gì tạo ra lạm phát cũng là một điều gây tranh cãi lớn nhất trong kinh tế học. Vài nhà kinh tế học tin rằng có nhiều loại lạm phát – lạm phát vì giá tăng và lạm phát vì nhu cầu tăng. Lạm phát vì giá tăng được cho là một loại lạm phát được tạo ra bởi sự gia tăng trong giá cả của hàng hóa và dịch vụ mà không có sự lựa chọn khác. Một ví dụ điển hình là sự kiện thiếu dầu của thập niên 1970. Lạm phát vì giá tăng thường được cho là một lập luận của thuyết Keynes, vì các nhà kinh tế của trường phái Tiền Tệ không tin rằng sự gia tăg trong giá cả của hàng hóa và dịch vụ không dẫn đến lạm phát nếu không có sự gia tăng trong lượng tiền tệ.

Lạm phát vì nhu cầu tăng là sự gia tăng trong giá cả của hàng hóa và dịch vụ được tạo ra bởi Tổng Cầu khi lượng Tổng Cung không đủ đáp ứng, thuyết này cũng được gọi là ”có quá nhiều tiền để chạy theo quá ít hàng hóa.” Với lạm phát vì giá tăng, các nhà Trường Phái Tiền Tệ cho rằng sự tồn tại của lạm phát vì nhu cầu tăng không thể tồn tại nếu không có sự gia tăng trong lượng tiền tệ trong nền kinh tế.

[/nextpage]

[nextpage title=”8 – Chu Kỳ Kinh Tế” ]

8 – Kinh Tế Vĩ Mô: Chu Kỳ Kinh Tế

Chu kỳ kinh tế (hoặc kinh doanh) là một xu hướng của sự mở rộng, thu hẹp và phục hồi của nền kinh tế. Nhìn tổng quát, chu kỳ kinh tế được đo và theo dõi bằng thông số GDP và thất nghiệp. GDP tăng và tỷ lệ thất nghiệp giảm trong giai đoạn mở rộng (tăng trưởng), còn trong giai đoạn suy trầm (thu hẹp) thì điều ngược lại xảy ra. Cho dù bạn bắt đầu ở bất cứ giai đoạn nào trong chu kỳ, nền kinh tế được cho rằng sẽ đi qua bốn giai đoạn – (1) mở rộng, (2) đỉnh, (3) thu hẹp và (4) đáy. Suy Trầm thường có nghĩa là một giai đoạn suy giảm trong các hoạt động kinh tế, nhưng đa số nhà kinh tế dùng định nghĩa là ”hai kỳ suy giảm trong GDP thực tế” để diễn tả giai đoạn suy trầm. Ngược lại thì không có một định nghĩa chính xác cho từ Suy Thoái. Trong khi Suy Trầm trung bình là 10 tháng kể từ thập niên 1950, giai đoạn phục hồi và mở rộng có thời lượng lâu dài hơn, nhưng thường là ba năm.

Sự chuyển động của nền kinh tế qua các giai đoạn của chu kỳ kinh tế cũng nhấn mạnh những mối quan hệ kinh tế. Trong khi sự tăng trưởng sẽ gia tăng và suy giảm với các chu kỳ, thì có một xu hướng dài hạn cho sự tăng trưởng. Khi sự tăng trưởng kinh tế ở trên mức trung bình (đường xu hướng), tỷ lệ thất nghiệp thường giảm. Một biểu hiện của mối quan hệ này là quy luật Okun, một phương trình cho rằng cứ mỗi 1% của GDP nằm ở trên đường xu hướng thì tỷ lệ thất nghiệp sẽ giảm đi 0.5%.

Mối quan hệ giữa lạm phát và sự tăng trưởng thì không rõ ràng như vậy, nhưng lạm phát thường giảm trong giai đoạn suy trầm và sau đó gia tăng trong giai đoạn phục hồi.

Trong khi chu kỳ kinh tế là một khái niệm khá đơn giản, thì có một sự tranh cãi giữa các nhà kinh tế rằng điều gì đã ảnh hưởng đến thời hạn và quy mô của từng giai đoạn trong chu kỳ kinh tế, và chính phủ có thể (hoặc nên) đóng một vai trò trong việc ảnh hưởng quá trình này hay không. Các kinh tế gia Keynesian, để ví dụ, tin rằng chính phủ có thể làm nhẹ đi tác hại của giai đoạn suy trầm (và làm ngắn nó) bằng cách cắt thuế và tăng chi tiêu chính phủ, cùng lúc ngăn chặn nền kinh tế từ việc tăng trưởng quá nhanh bằng cách tăng thuế và giảm chi tiêu chính phủ trong giai đoạn mở rộng (phát triển).

Để so sánh, rất nhiều nhà kinh tế Tiền Tệ không đồng ý với quan niệm về chu kỳ kinh tế nói chung và chọn cách nhìn về những sự thay đổi trong nền kinh tế như sự biến động bất thường. Trong nhiều trường hợp, họ tin rằng sự suy giảm trong các hoạt động kinh tế là những kết quả của hiện tượng tiền tệ và biện pháp lạm phát chủ động của chính phủ thường không hiệu quả và tồi tệ nhất là làm cho nền kinh tế bất ổn định.

Có rất nhiều thuyết khác về chu kỳ kinh tế và những nguyên nhân và tác động của nó. Những thuyết gia chu kỳ kinh tế thật, để ví dụ, tin rằng chính những cú sốc ở bên ngoài mới là những yếu tố thúc đẩy những chu kỳ, và những vấn đề như dư thừa trogn tăng trưởng có thể thúc đẩy sự suy trầm. Những thuyết gia khác gợi ý rằng sự đầu cơ quá thái hoặc sự tồn tại của số vốn dư thừa trong ngân hàng là những yếu tố ảnh hưởng đến chu kỳ kinh tế.

[/nextpage]

[nextpage title=”9 – Thất Nghiệp” ]

9 – Kinh Tế Vĩ Mô: Thất Nghiệp

Lao động là một lực thúc đẩy trong tất cả nền kinh tế – lương được trả cho công sức lao động thúc đẩy sự tiêu dùng, và đầu ra của lao động là điều cần thiết cho các doanh nghiệp. Cũng tương tự, những người lao động thất nghiệp tượng trưng cho sự hoang phí trong sản xuất trong nền kinh tế. Cũng như vậy, thất nghiệp là một mối lo ngại lớn trong ngành Kinh Tế Vĩ Mô. Tỷ lệ thất nghiệp chính thúc đề cập đến số người lao động đang chủ động tìm việc làm và không thể nhận được lương. Vì tỷ lệ thất nghiệp chính thúc thường không tính những ai muốn đi làm nhưng trở nên chán nản và ngưng tìm việc làm, tỷ lệ thất nghiệp thực tế luôn cao hơn con số chính thức của chính phủ.

Trong con số thất nghiệp của chính phủ có vài loại thất nghiệp phụ.

Thất Nghiệp Do Ma Sát (Thiếu Thông Tin) – là kết quả của những thông tin không hoàn hảo và những khó khăn trong việc kết nối những người lao động có trình độ với công việc thích hợp. Một sinh viên mới ra trường đang tìm việc làm là một ví dụ. Thất nghiệp do ma sát gần như không thể nào không có được, vì cả người tìm việc và doanh nghiệp đều không có thông tin hoàn hảo hoặc phản ứng ngay lập tức, và nó thường không được coi là vấn đề đối với nền kinh tế.

Thất Nghiệp Theo Chu Kỳ – đề cập đến tỷ lệ thất nghiệp theo chu kỳ kinh tế. Trong giai đoạn suy trầm, thường không đủ nhu cầu cho lao động và lương thường chậm phản ứng để hạ xuống mức để nhu và cầu (thị trường lao động) có thể cân bằng với nhau.

Thất Nghiệp Do Cơ Cấu – đề cập đến tỷ lệ thất nghiệp xảy ra khi người lao động không đủ trình độ cho những công việc đang tuyển dụng. Người lao động trong trường hợp này thường không đi làm cho một thời gian rất dài và thường cần phải tái huấn luyện. Thất nghiệp do cơ cấu có thể trở thành một vấn đề nghiêm trọng trong nền kinh tế, nhất là những trường hợp mà cả một lĩnh vực (như sản xuất) trở thành lỗi thời.

 

Trong khi tỷ lệ thất nghiệp cao là một điều không mong muốn, tỷ lệ đi làm đầy đủ (nghĩa là không có tỷ lệ thất nghiệp) là một điều không khả khi cũng như không thực tế. Khi các nhà kinh tế nói về việc làm đầy đủ, thất nghiệp do ma sát (thiếu thông tin) và vài phần trăm của thất nghiệp do cơ cấu thường được bỏ ra ngoài. Các nhà kinh tế thường không tin rằng tỷ lệ 100% đi làm là một điều thực tế hoặc khả thi trong nền kinh tế.

Đặc biệt là, Đường Cong Phillips nhấn mạnh vì sao điều đó lại bất khả thi. Thường có một mối quan hệ giữa lạm phát và tỷ lệ thất nghiệp – tỷ lệ thất nghiệp càng thấp, mức lạm phát càng cao/ Trong khi có nhiều yếu tố có thể thay đổi đường cong Phillips (bao gồm sự gia tăng trong năng suất), điểm được nhấn mạnh ở đây là cả tỷ lệ thất nghiệp 0% hoặc mức lạm phát 0% là một trường hợp khả thi trong dài hạn.

Có một sự trao đổi giữa việc làm và sự hiệu quả. Doanh nghiệp tối đa hóa lợi nhuận của họ khi họ sản xuất số lượng hàng hóa lớn nhất với giá cả thấp nhất. Trong vài trường hợp, giá lao động thường mắc hơn (hiệu quả thấp hơn) thiết bị (vốn). Vì vậy, sẽ luôn luôn có một một sự trao đổi giữa chi phí và năng suất của lao động và những thiết bị thay thế lao động như máy móc và điều đó sẽ làm giảm số lượng việc làm trong nền kinh tế. Cũng tương tự, tỷ lệ thất nghiệp do cơ cấu là một vấn đề thường xảy ra với sự phát triểm của công nghệ. Người lao động chợt thấy rằng kỹ năng của họ không còn phù hợp với những nhu cầu của nhà tuyển dụng và họ phải nâng cấp kiến thức của họ khi ngành của họ đã áp dụng công nghệ kỹ thuật mới.

[/nextpage]

[nextpage title=”10 – Kinh Tế Vĩ Mô: Hiệu Suất Kinh Tế Và Sự Tăng Trưởng” ]

10 – Kinh Tế Vĩ Mô: Hiệu Suất Kinh Tế Và Sự Tăng Trưởng

Thu nhập là một trong những yếu tố chính trong việc đo lường hiệu suất kinh tế, và GDP là thông số thường được dùng để đo hoạt động kinh tế của một quốc gia. Nói ngắn gọn, GDP phản ánh giá trị của tất cả hàng hóa và dịch vụ được sản xuất hợp pháp trong một nền kinh tế trong một thời quãng thời gian nhất định. Sự khác biệt giữa hàng hóa cuối cùng và hàng hóa trung gian là một điều rất quan trọng. Một quả cà chua được bán cho một nhà sản xuất nước sốt sẽ không được tính trong thông số GDP, trong khi một quả cà chua được bán ở một cửa hàng sẽ được tính, bởi vì nó tượng trưng cho sự tiêu dùng cuối cùng của sản phẩm. Một điều rất đáng để ý là giao thương các hàng hóa lậu không được tính trong số GDP.

Có hai cách để tiếp cận GDP – phương pháp chi tiêu và phương pháp giá cả – thu nhập của tài nguyên. Phương pháp chi tiêu tính tổng số lượng đã được tiêu vào hàng hóa và dịch vụ trong một năm, trong khi phương pháp giá cả – thu nhập tài nguyên cộng lại những khoản thanh toán được đưa cho các nhà cung cấp của tài nguyên và những vật liệu đầu vào khác được đưa vào hàng hóa và dịch vụ.

Phương pháp chi tiêu được cho rằng là phương pháp phổ biến hơn và nó chia GDP thành bốn bộ phận – (1) Chi tiêu cá nhân, (2) tổng lợi nhuận đầu tư trong nước, (3) chi tiêu chính phủ, và (4) tổng xuất khẩu ròng ra nước ngoài. Chi tiêu cá nhân từ lâu đã là bộ phận lớn nhất trong GDP ở Mỹ và nó bao gồm chi tiêu của các hộ gia đình vào hàng hóa và dịch vụ. Đầu tư trong nước đề cập đến những chi tiêu vào các tài sản cố định (chi tiêu cho thiết bị) và những bổ sung cho hàng tồn kho trong năm.

Để so sánh, dưới phương pháp chi phí –thu nhập tài nguyên, tiền lương trả cho nhân viên là phần lớn nhất của GDP, với khấu hao, thuế gián tiếp, lãi suất, lợi nhuận doanh nghiệp, và thu nhập của những người tự kinh doanh theo sau.

Để đi sâu hơn, có những loại phân tích có thể áp dụng với GDP. GDP thực tế là cái nhìn rộng về đầu ra của một nền kinh tế, và một trong những phương pháp được sử dụng nhiều nhất bởi các nhà kinh tế. GDP thực tế khác với GDP trên danh nghĩa bằng cách nó điều chỉnh cho phù hợp với sự gia tăng trong mức giá để quyết định khối lượng thay đổi thật sự của hoạt động trong nền kinh tế là bao nhiêu.

Các nhà kinh tế quan sát không chỉ mức tuyệt đối của GDP, mà còn mức tăng trưởng qua thời gian. Thậm chí, đa số các cuộc thảo luận về GDP được tập trung về mức tăng trưởng. Để đi một bước hơn nữa, GDP thường dùng để phân tích mối quan hệ với số lượng người tham gia trong nền kinh tế.

GDP Theo Đầu Người thường tương quan với tiêu chuẩn sống và mức phát triển kinh tế của một quốc gia. Mỹ và Trung Quốc  để ví dụ, có GDP gần giống nhau, nhưng  GDP theo đầu người của mỗi quốc gia rất khác và nó phản ánh rằng tiêu chuẩn sống ở Mỹ rất cao hơn ở Trung Quốc.

Có vài nhược điểm và giới hạn với việc sử dụng  GDP. GDP không tính bất cứ những hoạt động không lương nào cũng như những hoạt động bất hợp pháp, nên nó không thể tính những giá trị của tất cả hoạt động kinh tế trong một quốc gia. GDP cũng thất bại trong việc tính những suy giảm trong chất lượng sống và những mất mát khi có những thảm họa tự nhiên hoặc tội phạm. Sự hủy diệt đến từ một vụ động đất, để ví dụ, sẽ không được tính trong GDP, nhưng việc tái xây dựng sau thảm họa đó sẽ được tính. Cũng tương tự, thậm chí GDP theo đầu người cũng không phản ánh thực tế sự thịnh vượng của một người dân bình thường, vì đại đa số người dân với thu nhập thấp có thể bị bù đắp theo thống kê bởi một nhóm người có thu nhập cao.

Có những cách đo khác về thu nhập để cân nhắc. Thu nhập quốc gia đề cập đến tổng thu nhập được trả cho các chủ nhân của vốn con người/nhân lực (lương và lao động) và vốn vật chất (cơ sở vật chất), và bao gồm cả thu nhập trong và ngoài nước. Thu nhập quốc gia có thể được tính là tổng số lương, lãi suất, thu nhập từ người tự làm chủ, tiền thuê nhà và lợi nhuận kinh doanh.

Thu nhập cá nhân, ngược lại, là thu nhập được nhận bởi các cá nhân, nó không bao gồm lợi nhuận doanh nghiệp và thuế an sinh xã hội, nhưng nó cộng lại số tiền được trả từ chính phủ như (bảo hiểm xã hội), lãi suất và cổ tức. Thu nhập khả dụng là thu nhập cá nhân có sẵn cho chi tiêu hoặc tiết kiệm, nó là thu nhập cá nhân trừ đi thuế thu nhập cá nhân.

 

Các mô hình cho sự tăng trưởng

Trong khi đa số nhà kinh tế đều đồng ý với việc sử dụng những thông số như GDP và GDP theo đầu người là những thước đo cho sự tăng trưởng, thì có một sự bất đồng về việc giải thích nền kinh tế tăng trưởng như thế nào theo thời gian.

Vài mô hình cho rằng sự tăng trưởng là ngoại sinh – sự tăng trưởng dài hạn được quyết định bởi những yếu tố ngoài nền kinh tế. Những mô hình khác thì cho rằng sự tăng trưởng là nội sinh – nghĩa là sự tăng trưởng dài hạn được quyết định bởi những yếu tố ở trong hệ thống kinh tế. Hơn nữa, có những mô hình như Harrod-Domar đang xác định những hệ lụy của tỷ lệ Vốn/Lao Động và xu hướng tiết kiệm. Mô hình này nhấn mạnh những vấn đề phức tạp trong tỷ lệ vốn/lao động và mức tiết kiệm. Để so sánh, mô hình Solow cho rằng sự tăng trưởng của GDP được giải thích bởi sự gia tăng trong dân số, tiến triển công nghệ và gia tăng trong đầu tư. Như các mô hình kinh tế khác, các mô hình này cũng không tiên đoán được tương lai nhưng để giải thích, phân tích những tác động của những yếu tố và hoàn cảnh trong nền kinh tế.

Trong khi sự tăng trưởng kinh tế là một mục tiêu quan trọng đối với đa số chính phủ, đa số nền kinh tế không hoạt động ở mức toàn tiềm năng. Thường sẽ có một khoảng cách giữa GDP thực tế và GDP tiềm năng mà nền kinh tế có thể sản xuất ở mức việc làm đầy dủ và sử dụng tài nguyên tối đa – khoảng cách này được gọi là Khoảng Cách Đầu Ra (hoặc Khoảng Cách GDP).

[/nextpage]

[nextpage title=”11 – Chính Phủ – Chi Tiêu, Thuế Và Nợ” ]

11 – Kinh Tế Vĩ Mô: Chính Phủ – Chi Tiêu, Thuế Và Nợ

Tác Động Bên Ngoài

Trong nền kinh tế thị trường, có những sự khác biệt giữa hàng hóa tư nhân và hàng hóa chính phủ (công). Hàng hóa tư nhân được coi là ”đối thủ và loại trừ” – một người tiêu thụ một món hàng nghĩa là một người khác không thể, và những ai không trả tiền cho các hàng hóa và dịch vụ được loại trừ từ việc tiêu thụ nó. Ngược lại hàng hóa chính phủ (công) là không cạnh tranh và không loại trừ, nhiều người có thể tận hưởng nó cùng một lúc và những ai không trả tiền cũng không bị loại trừ. Điều này tạo ra một vấn đề tên ”ăn bám” (người hưởng miễn phí), tác động bên ngoài là những ai không đóng không thể bị loại trừ từ việc tận hưởng những sản phẩm và dịch vụ đó.

Những tác động bên ngoài có thể là tích cực hoặc tiêu cực, và nó thường được dùng như một ví dụ như việc chính phủ can thiệp vào nền kinh tế có thể dẫn đến kết quả tích cực. Trong tất cả trường hợp, những tác động bên ngoài là những tác động tích cực hoặc tiêu cực mà không thể thực hiện được bởi động cơ giá cả của kinh tế thị trường. Các doanh nghiệp gây ô nhiễm, ví dụ, không trả bất cứ phí gì thêm cho những thiệt hại họ gây ra đến môi trường. Cũng tương tự, những ai trang trí khu vườn sau nhà mình và làm đẹp cả khu phố có thể làm tăng giá trị bất động sản cho người khác mà không nhận được gì lại.

Để đối phó với những tác động bên ngoài, chính phủ có thể dùng quyền lực của họ để đánh thuế và hỗ trợ. Đánh thuế có thể được sử dụng để áp đặt chi phí lên những hành động tiêu cực (tác động tiêu cực bên ngoài) với mục đích là giảm những hành động tương tự xảy ra hoặc sử dụng nguồn thu để chi trả cho những thiệt hại đã gây ra. Cũng tương tự, một sự trợ cấp có thể khuyến khích những tác động tích cực bên ngoài để tiếp tục và nới rộng hoạt động. Trong thực tế thì khác, có những tác động không hiệu quả của việc đánh thuế và trợ cấp và họ hiếm khi nào đem lại những tác động như mong muốn trong một mức kinh phí hiệu quả.

Những tác động bên ngoài không chỉ là nguyên nhân duy nhất khiến chính phủ áp đặt thuế lên các công dân. Thuế chi trả những hoạt động của chính phủ từ những dịch vụ công (quân đội, cảnh sát, tòa án, đường lộ, vân vân) đến những số tiền chi trả với mục đích ổn định hóa các hoạt động kinh tế (như bảo hiểm thất nghiệp và tiền an sinh xã hội) và xóa đói giảm nghèo.

Thuế

Khi nói đến thuế, một điều rất quan trọng là phải hiểu sự khác biệt giữa mức thuế cận biên và mức thuế bình quân. Mức thuế cận biên đề cập đến mức thuế ảnh hưởng đến số tiền lương cuối cùng, trong khi mức thuế bình quân là kết quả của tổng số thuế được đóng chia cho ”tổng số lương được tính thuế.”

Có ba loại thuế chính trong hệ thống thuế (Ở Mỹ). Thuế lũy tiến dẫn đến mức thuế cao hơn khi thu nhập tăng, thuế thu nhập cá nhân là một ví dụ. Thuế thoái lui dẫn đến dẫn đến mức thuế thấp hơn khi th nhập giảm, thuế VAT là một ví dụ điển hình. Thuế theo tỷ lệ duy trì một mức thuế cố định mà không cần biết thu nhập là bao nhiêu.

Những ảnh hưởng của thuế và chi tiêu chính phủ

Nói chung, chính sách tài chính là sự sử dụng của tiền thuế và chi tiêu chính phủ cho những mục tiêu kinh tế vĩ vô. Chính sách tài chính có thể là nới rộng, nghĩa là nhắm đến việc phát triển kinh tế và tăng việc làm, hoặc thu hẹp, nghĩa là nhắm đến việc làm chậm mức tăng trưởng của nền kinh tế. Chính sách tài chính nới rộng tăng chi tiêu chính phủ và làm giảm mức thuế, trong khi chính sách thu hẹp là ngược lại (giảm chi tiêu chính phủ và tăng thuế).

Những hành động kinh tế của chính phủ không phải không có hậu quả và hệ lụy.

Khi chính phủ tăng chi tiêu ngân sách, họ có thể lấn át chi tiêu tư nhân – chi tiêu chính phủ làm giảm số vốn trong thị trường và làm tăng chi phí vay vốn, dẫn đến việc nhiều doanh nghiệp bỏ rơi những dự án đang thực hiện. Cũng tương tự, khi chính phủ tăngt thuế nhiều hơn doanh thu thuế (thâm hụt ngân sách) và phải vay tiền để chi trả, họ có thể lấn át vốn và chi tiêu tư nhân.

Cũng như vậy, việc đánh thuế tạo ra những vấn đề riêng. Thuế đẩy sự cân đối của hàng hóa và dịch vụ từ mức tối ưu của nó, và làm giảm sự thặng dư của người tiêu dùng và nhà sản xuất. Sự suy giảm này được gọi là ”tổn thất vô ích” và nó tượng trưng cho lượng lợi ích ròng được hy sinh bởi xã hội vì sự hiện diện của thuế.

Thuế Quan (Thuế Xuất Nhập Khẩu) là một loại phí được áp dụng bởi chính phủ lên những hàng hóa nhập khẩu. Thuế Quan hiện tại không đáng kể trong nền kinh tế so với những năm trước đây. Trước sự áp dụng của thuế thu nhập cá nhân, thuế quan là một nguồn thuế chính của chính phủ Mỹ. Có hai loại thuế quan chính. Thuế Quan Lên Doanh Thu được đánh lên những hàng hóa nhập khẩu không được sản xuất trong nước (những thứ mà một đất nước không sản xuất), trong khi Thuế Quan Bảo Hộ được áp dụng đối với những hàng hóa sản xuất trong nước (những thứ một đất nước đang sản xuất, đánh thuế để bảo hộ doanh nghiệp trong nước).

Thuế Quan như một loại thuế, nó cũng có sự tổn thất vô ích. Người tiêu dùng phải trả giá cao hơn và tiêu thụ ít hơn, và mất vài lượng thặng dư tiêu dùng của họ. Cùng lúc đó thì các nhà sản xuất trong nước cũng gia tăng đầu ra của họ.

Có những sự trao đổi giữa chi tiêu chính phủ và việc đánh thuế. Từng đồng một, chi tiêu chính phủ có tác động lớn hơn việc giảm thuế. Điều này xảy ra bởi vì người tiêu dùng gần như chưa bao giờ có xu hướng tiêu thụ cận biên ở mức ”1” và gần như luôn luôn giữ lại một phần của bất cứ phần giảm thuế nào và tích lũy nó.

Nợ và thâm hụt ngân sách

Từ góc nhìn kinh tế vĩ mô, nợ chính phủ (nợ công) có thể được coi là những chi tiêu trong tương lai được đem đến hiện tại. Chính phủ mắc nợ khi chi tiêu của họ nhiều hơn doanh thu từ thuế và các nguồn khác của họ, và nợ công trước sau gì cũng phải được trả lại qua những loại phí thuế trên những chi tiêu hiện tại.

Nợ công có thể trở thành vấn đề qua tác động Lấn Át và sự Tổn Thất Vô Ích của việc đánh thuế trong tương lai. Khi chính phủ tiếp cận thị trường nợ, xét thực tế thì họ đang lấn át những người vay tiền khác như các doanh nghiệp và ép họ phải trả lãi suất cao hơn để thu hút những nhà đầu tư. Với chi phí vay vốn cao hơn vì hành động của chính phủ, các doanh nghiệp sẽ ngừng hoặc bác bỏ những kế hoạch mở rộng, nhưng thứ đáng ra sẽ tạo những tác động tích cực cho nền kinh tế.

Chính phủ gần như không có những phương tiện nào để trả nợ trừ việc đánh thuế trong tương lai (và giảm chi tiêu). Trong khi có một hiệu ứng số nhân đến chi tiêu của chính phủ, những mức nợ cao của chính phủ có thể kìm nén sự phát triển của các thế hệ trong tương lai với sự tổn thất vô ích của việc phải trả thuế cao hơn và không thể đổi ngược tác động tiêu cực của việc vay nợ.

[/nextpage]

[nextpage title=”12 – Giao Thương Quốc Tế” ]

12 – Kinh Tế Vĩ Mô: Giao Thương Quốc Tế

Giao thương quốc tế là sự trao đổi của hàng hóa, dịch vụ và vốn xuyên biên giới quốc gia. Nó là một hoạt động trị giá hàng nghìn tỷ dollar, là điều tất yếu của các quốc gia và là cách duy nhất để con người ở nhiều quốc gia có thể có được những tài nguyên và những thứ họ muốn. Nếu thiếu đi giao thương, các nhà sản xuất và tiêu dùng sẽ bị ép để phát triển những thứ thay thế hoặc dùng một phần lớn thu nhập của mình để mua những hàng hóa không phản ứng với nhu cầu và có số lượng giới hạn.

Hai khái niệm chính trong kinh tế học của giao thương là Chuyên Môn Hóa và Lợi Thế So Sánh.

Như một điều hiển nhiên rằng các quốc gia có thể hưởng lợi ích nếu mỗi quốc gia làm một thứ gì đó tốt hơn một quốc gia khác (có thể sản xuất hàng hóa hoặc dịch vụ với giá thấp hơn). Nếu một doanh nghiệp sản xuất hiệu quả hơn trong tất cả hàng hóa thì sao? Tình huống này được gọi là ”Lợi Thế Tuyệt Đối.”

Thậm chí trong những trường hợp Lợi Thế Tuyệt Đối, các quốc gia vẫn có thể hưởng lợi từ nhau. Miễn sao một quốc gia không hiệu quả trong việc sản xuất tất cả hàng hóa, thì sẽ luôn có những chi phí khác nhau trong việc sản xuất. Đây là lúc Lợi Thế So Sánh xuất hiện. Miễn sao hai quốc gia có sự hiệu quả liên quan khác nhau, cả hai quốc gia có thể hưởng lợi từ giao thương. Quốc gia với lợi thế tuyệt đối sẽ hưởng lợi bằng cách đưa những tài nguyên của mình để sản xuất những hàng hóa mình có thể sản xuất nhiều nhất và dùng nso để trao đổi với các nước khác.

Chuyên Môn Hóa đề cập đến quá trình này: các quốc gia (cũng như các cá nhân và doanh nghiệp) có thể tối đa hóa phúc lợi của mình bằng cách tập trung chuyên môn trong việc sản xuất những hàng hóa mình có thể làm hiệu quả nhất và tận hưởng lợi thế lớn nhất so với các nước cạnh tranh.

Cán Cân Thanh Toán của một quốc gia theo dõi các dòng tiền di chuyển giữa các đối tác giao thương. Cán Cân Thanh Toán bao gồm những khoản thanh toán của xuất và nhập khẩu, cũng như những khoản chuyển tiền. Xuất khẩu tạo ra một khoản cộng (tiền vào), trong khi nhập khẩu tạo một khoản trừ (tiền ra). Tuy nói vậy nhưng Cán Cân Thanh Toán phải luôn luôn cân bằng với số không. Một thâm hụt thương mại (nhập khẩu nhiều hơn xuất khẩu) phải luôn được cân bằng với lượng đầu tư nước ngoài, sự suy giảm trong tiền dự trữ hoặc gia tăng trong số nợ. Tương tự, một thặng dư thương mại sẽ được cân bằng với số tiền đầu tư ra ngoài nước hoặc sự gia tăng trong số ngoại tệ dự trữ.

Ở trong Cán Cân Thanh Toán của một quốc gia là Cán Cân Vãng Lai. Cán Cân Vãng Lai bao gồm Cán Cân Mậu Dịch (xuất khẩu trừ nhập khẩu), cũng như lãi suất và cổ tức ròng, và lượng thanh toán chuyển giao ròng (như viện trợ quốc tế).

Những Chướng Ngại Đối Với Thương Mại

Trong khi thương mại tự do thường được cho rằng là điều tốt, các quốc gia sẽ từ từ dựng lên những rào cản đối với giao thương. Thuế Quan là những loại thuế đánh lên nhập khẩu làm cho hàng hóa nhập khẩu đắt tiền hơn và kém cạnh tranh hơn so với các hàng hóa được sản xuất trong nước. Trong khi các chính phủ quốc gia đã quen với việc kiếm được một phần thu lớn từ các thuế quan, các loại thuế quan ngày nay thường được dùng để bảo vệ các ngành nghề nội địa và để trừng phạt những quốc gia khác vì những hành vi sai trái (như việc bảo trợ những ngành nội địa để làm cho doanh nghiệp nước khác kém cạnh tranh hơn).

Trợ cấp là số tiền chuyển khoản từ chính phủ đến những nhà cung cấp hàng hóa và dịch vụ trong nước. Mục đích của việc hỗ trợ là tăng sản xuất và giảm giá cho các nhà tiêu dùng trong nước hoặc làm cho những hàng hóa sản xuất trong nước cạnh tranh tốt hơn.

Hạn Ngạch là những giới hạn về số lượng hàng hóa có thể được nhập khẩu trong một khoảng thời gian nhất định. Hạn Ngạch đóng vai trò tương tự như Thuế Quan trong việc làm tăng giá hàng hóa nhập khẩu, nhưng Hạn Ngạch có thể khiến vấn đề trở nên trầm trọng hơn vì không có lượng hàng hóa nào được nhập khi giới hạn đã được đạt.

[/nextpage]

[nextpage title=”13 – Tiền Tệ” ]

13 – Kinh Tế Vĩ Mô: Tiền Tệ

Để các công dân của các nước khác nhau thực hiện thương mại, họ phải mua và bán tiền tệ của nhau. Cái giá của tiền tệ của một quốc gia, được thể hiện bằng một số lượng tiền của một quốc gia khác mà nó có thể đổi để lấy, là ”Tỷ Giá hối Đoái.” Vì các tỷ giá hối đoái đóng vai trò quan trọng trong việc giao thương và dòng chảy của vốn, nó là một khái niệm quan trọng trong kinh tế vĩ mô.

Tỷ Giá Hối Đoái Danh Nghĩa là một loại tỷ giá hối đoái được đề cập nhiều nhất trong các cuộc thảo luận kinh tế và kinh doanh. Khi các báo cáo nói rằng 1 dollar có giá 1.35 Euro hoặc 85 Yen Nhật, họ đang nói đến Tỷ Giá Hối Đoái Danh Nghĩa. Tỷ Giá Hối Đoái Thực Tế thì hàn lâm hơn một chút – nó là số lượng hàng hóa và dịch vụ từ một quốc gia mà có thể được trao đổi với hàng hóa và dịch vụ của một quốc gia khác. Nó có thể được thể hiện bằng phương trình: (Tỷ Giá Hối Đoái Danh Nghĩa x giá hàng hóa nội địa) / giá hàng hóa nước ngoài.

Có hai loại hệ thống Tỷ Giá Hối Đoái – cố định và thả nổi (tự do). Trong một hệ thống hối đoái cố định, các quốc gia thành lập tỷ lệ tiền tệ của họ và rồi duy trì tỷ lệ đó. Một quốc gia ủng hộ tỷ giá cố định bằng việc mua (hoặc bán) lượng ngoại tệ dự trữ để phản ứng lại sự thay đổi trong nhu cầu của tiền tệ đó.

Từ ngày qua ngày, có một sự thay đổi tối thiểu trong một hệ thống tỷ giá cố định. Nếu tỷ giá hối đoái giữa Dollar và Euro là 1:1.25, các doanh nghiệp, chính phủ và cá nhân có thể dựa vào tỷ giá đó trong một khoảng thời gian nhất định. Điều này thường được xem rằng tiện lợi cho các doanh nghiệp thực hiện thương mại quốc tế bởi vì nó loại bỏ đi nhữngt rủi ro và những điều khó đoán trong sự thay đổi của tỷ giá hối đoái.

Tỷ giá cố định là một điều phổ biến trong thế kỷ 19 và 20, với Vàng đóng vai trò tiêu chuẩn và tiền Bản Anh (Pound) đóng vai trò tiền tệ dự trữ của thế giới. Nói cách khác, gần như tất cả các quốc gia sẽ nhận vàng hoặc Bảng Anh để thanh toán giao dịch. Gần sự kết thúc của Thế Chiến Thứ Hai, Hiệp Định Bretton Woods được thực hiện và quyết định tỷ giá đối đoái đến thập niên 1970, với tỷ giá cố định và đồng Dollar Mỹ trở thành tiền tệ dự trữ mới của thế giới. Trong thực tế, đa số quốc gia đã thấy rằng một thệ thống tỷ giá hối đoái cố định thường rất giới hạn và rất tốn kém để duy trì. Hiện tại thì có rất ít các quốc gia áp dụng hệ thống cố định này, ví dụ lớn nhất là Trung Quốc.

Ngược lại, một quốc gia có thể cho thị trường quyết định giá trị của tiền tệ. Hệ thống này gọi là hệ thống Tỷ Giá Hối Đoái Thả Nổi. Nếu một quốc gia có tỷ giá hối đoái thả nổi, các tỷ giá sẽ được xem như giá cả của các hàng hóa khác theo quy luật cung cầu. Khi có sự gia tăng trong nhu cầu của một tiền tệ, giá trị của nó tăng so với những tiền tệ khác. Nhu cầu này có thể được thúc đẩy bởi sự lựa chọn của người tiêu dùng  (họ thích tiêu thụ hàng hóa của nước khác so với nội địa), thu nhập, lạm phát và sự đầu cơ của các nhà đầu tư.

Không bất ngờ chút nào, tỷ giá hối đoái thường rất biến động trong hệ thống thả nổi. Vài nhà kinh tế đã dự đoán rằng các tỷ giá đã trở nên biến động gấp hai lần từ sự kết thúc của hệ thống Bretton Woods.

 

Điều Gì Quyết Định Tỷ Giá Hối Đoái?

Một lý thuyết, gọi là “Sức Mua Tương Đương/Cân Bằng Sức Mua – PPP: purchasing power parity), cho rằng tỷ lệ của tỷ giá của hai quốc gia nên bằng với tỷ lệ giá cả của hàng hóa tương tự trong hai quốc gia đó. Nếu một xu vàng có giá $1 ở Mỹ thì xu vàng sẽ có giá 100 Yen ở Nhật, PPP cho rằng tỷ giá hối đoái nên là $1:100Y. Nói thêm nữa, PPP cũng cho rằng bất cứ sự thay đổi nào trong mức lạm phát cũng sẽ được thể hiện trong tỷ giá hối đoái.

Thuyết này nghe rất logic, nếu không có sự cân bằng trong tỷ giá, một người có thể mua hàng hóa với giá rẻ hơn ở một quốc gia rồi bán nó lại ở quốc gia có tỷ giá cao hơn và lấy mức lợi nhuận không rủi ro.

Trong thực tế thì khác, thuyết này không đúng lắm. Vì không chỉ có những chi phí như vận chuyển, mà còn những rào cản giao thương và thuế. Một điều nữa là, khái niệm chuyên môn hóa và lợi thế so sánh gợi ý rằng hàng hóa không thể nào như nhau được – vài quốc gia có thể sản xuất hàng hóa với giá thấp hơn các quốc gia khác. Tuy nhiên, khi cân nhắc mức giá nói chung, điều này không trở thành vấn đề và thuyết PPP trở nên thuyết phục hơn.

Một ứng dụng nổi tiếng của thuyết PPP là Chỉ Sổ Bánh Big Mac. Được thành lập bởi tờ The Economist, Chỉ Số Big Mac đánh giá sự định giá thấp hoặc hơn của một tiền tệ so với tỷ giá bằng cách so sánh giả cả của một cái bánh Big Mac ở các quốc gia. Theo khái niệm thì điều này là một cuộc thử nghiệm công bằng cho thuyết PPP, mặc dù thuế địa phương, quy định và chính sách cũng ảnh hưởng rất lớn đến giá cả của cái bánh Big Mac.

Cũng tương tự, Ngang Bằng Lãi Suất là một khái niệm hữu dụng trên lý thuyết nhưng gần như vô nghĩa trong thực tế. Thuyết Ngang Bằng Lãi Suất cho rằng lợi tức từ việc vay tiền bằng một tiền tệ (như dollar), trao đổi nó cho đồng Yen, đầu tư số tiền Yen đó trong một tài sản có lợi tức được niêm yết bằng yen (trái phiếu), và mua một hợp đồng tương lai (futures) để đổi số tiền ở cuối thời hạn, sẽ như việc mua và giữ một tài sản có lợi tức trong tiền tệ được vay (dollar).

Khái niệm này gợi ý rằng những sự khác biệt trong Lãi Suất Danh Nghĩa so với sự khác biệt trong mức thay đổi của tỷ giá hối đoái. Thật sự có một mối quan hệ giữa lãi suất và tỷ giá hối đoái. Có một hiện tượng trong giới đầu tư quốc tế tên ”mua sắm năng suất” (Yield Shopping). Nghĩa là các nhà đầu tư tìm những lãi suất có mức thặng dư so với lãi suất. Cùng với khái niệm đó, một tiền tệ được định giá quá cao thường đi đôi với mức lãi suất dự kiến thấp và mức lãi suất thực tế cao. Mặc dù vậy, kinh nghiệm thực tế thường rất khác mô hình này bởi vì có những chi phí cũng như các loại thuế liền quan đến các giao dịch nói trên. Không những vậy, có nhiều yếu tố có thể ảnh hưởng đến tỷ giá chứ không chỉ là lãi suất.

Kinh nghiệm thực tế với hệ thống tỷ giá thả nổi đã cho thấy mối quan hệ giữa tỷ giá, lạm phát và lượng tiền tệ là rất ít. Trong thực tế thì những thay đổi trong tỷ giá chủ yếu phản ánh những động cơ của thị trường và những kỳ vọng của giới đầu tư.

Lãi suất tương đương đóng vai trò lớn trong việc ảnh hưởng tỷ giá tiền tệ. Mức giá cao sẽ thường thu hút vốn đến quốc gia đó, làm tăng nhu cầu cho tiền tệ đó và tăng tỷ giá.

[/nextpage]

[nextpage title=”14 – Kết luận” ]

14 – Kinh tế vĩ mô: Kết luận

Vì quy mô khổng lồ của ngân sách chi tiêu chính phủ và tác động của chính sách kinh tế lên người tiêu dùng và doanh nghiệp, Kinh tế vĩ mô liên quan rất lớn với những chủ đề đó. Nếu áp dụng đúng, các thuyết kinh tế có thể đưa ra những lời giải thích về việc nền kinh tế hoạt động ra sao và những hệ lụy dài hạn của các chính sách và quyết định. Các thuyết kinh tế vĩ mô cũng có thể giúp các doanh nghiệp cá nhân và nhà đầu tư trở nên khôn khéo hơn trong quyết định của mình và hiểu biết nhiều hơn trong việc tối ưu hóa tài nguyên và sản xuất.

Nhưng cũng rất quan trọng để hiểu những giới hạn của các thuyết kinh tế. Lý thuyết thường được tạo ra trên một trang giấy và không có những thứ trong thực tế như thuế, luật lệ và chi phí giao dịch. Thế giới thực cũng rất phức tạp và những yếu tố xã hội không như những bài phân tích toán học.

Nhưng ngay cả với những giới hạn của các thuyết kinh tế, cũng rất quan trọng để theo dõi nhưng dấu hiệu kinh tế vĩ mô như GDP, lạm phát và tỷ lệ thất nghiệp. Hiệu suất của các doanh nghiệp cũng như giá cổ phiếu của họ, được ảnh hưởng rất lớn bởi tình hình kinh tế. Việc phân tích thống kê kinh tế có thể giúp các doanh nghiệp hoạt động hiệu quả hơn và đưa ra những quyết định tốt hơn.

Cũng tương tự, sẽ rất hữu dụng để hiểu thuyết kinh tế nào đang được và ảnh hưởng đến chính phủ sở tại. Những nguyên tắc kinh tế căn bản của chính phủ sẽ cho thấy chính phủ sẽ đề cập đến vấn đề như thuế, quy định, chi tiêu và chính sách giao thương như thế nào. Bằng cách am hiểu kinh tế học và những hệ lụy của các quyết định kinh tế, các nhà đầu tư có thể thấy một ít về tương lai và hành động một cách tối ưu dựa theo sự hiểu biết của mình.

 

Ku Búa @ CAFEKUBUA.COM

Theo Macroeconomics, Investopedia

[/nextpage]

Facebook Comments