Có phải Bush đã nói dối về cuộc chiến Iraq?

https://www.facebook.com/cafekubua/videos/801451053321744/

Có phải Bush đã nói dối về cuộc chiến Iraq?

George W. Bush có phải đã nói dối cả Hoa Kỳ về việc Saddam Hussein sở hữu loại vũ khí siêu hủy diệt? Judith Miller, một nhà báo từng thắng giải Pulitzer, người đã theo dõi tình hình dẫn đến chiến tranh Iraq cho tờ New York Times, sau đây ông sẽ giải thích dứt khoát sự dối trá to lớn về cuộc chiến Iraq.

Tôi đã đưa Hoa Kỳ vào cuộc chiến tranh Iraq. Tất cả đều do tôi.

Đúng, đa phần là vì tôi.

Tôi đã có một số sự giúp đỡ từ một Tổng Thống thiếu hiểu biết, George W. Bush và ông chủ bù nhìn của phe Tân Hữu – Phó Tổng Thống Dick Cheney. Các nhà cố vấn cấp cao ở Nhà Trắng đã cung cấp cho các phóng viên như tôi những thông tin tình báo được chọn lựa về các Vũ Khí Siêu Hủy Diệt (WMD) của Iraq để Hoa Kỳ có thể xâm chiếm và lấy đi các mỏ dầu của họ.

Không có một thông tin nào ở trên là sự thật, nhưng nhiều người Mỹ vẫn tiếp tục tin vào nó.

Nhiều người đã chết. Đó là một cuộc chiến. Nhưng Tổng Thống Bush đã không lừa dối chúng ta để tuyên chiến.

Những lập luận sai lầm rằng ông ta đã nói dối, nếu xét riêng, đó là một sự giả dối và nên để nó đi vào lãng quên.

Cuộc chiến Iraq không hề thiếu những sai lầm và vài bài báo trước cuộc chiến về WMD của giới truyền thông đều không có thật, trong đó có những bài báo của tôi. Không những vậy, còn có sự buộc tội rằng chính quyền Bush đã dựng lên thông tin giả về WMD để đưa đất nước vào chiến tranh. Trước cuộc xâm lược năm 2003, Tổng Thống Bush và những quan chức cao cấp khác, đã trích dẫn những kết luận không chính xác của cộng đồng tình báo về khả năng vũ khí WMD của Saddam. Trong vài trường hợp, có những nhận định vượt giới hạn. Nhưng dựa theo những sai lầm của người khác — những sai lầm hoàn toàn có thể thấu hiểu dựa trên những kỷ lục khủng khiếp của Saddam Hussein — và nhận định sai không đồng nghĩa với nói dối.

Những chuyên gia của Hoa Kỳ, Châu Âu và các nhà kiếm soát vũ khí, những cơ quan chống khủng bố, và những nhà phân tích đã nghiên cứu về Iraq và báo cáo với các quan chức Nhà Trắng, và phóng viên cũng là những người đã đưa tôi và các đồng nghiệp của tôi ở tờ New York Times những thông tin chính xác năm này qua năm khác về mối đe dọa đang phát triển của Osama Bin Laden và al-Qaeda đến Hoa Kỳ. Thậm chí, tám tháng trước sự kiện 9/11 tờ New York Times đã xuất bản một lượt bài báo về mối đe dọa đó – một series đã đem lại cho các phóng viên của Tòa Báo, trong đó có tôi, giải thưởng Pulitzer.

Các thành viên của cộng đồng tình báo – những người tôi dựa theo là hết sức đáng tin cậy, chăm chỉ và trung thực. Nhưng họ cũng là con người, và, sau vụ 11/9, họ đã rất cảnh giác về việc đánh giá thấp bất kỳ mối đe dọa khủng bố nào.

Có một ngộ nhận rằng các nhà hoạch định chính sách đã gây áp lực cho các nhà phân tích thông tin để thay đổi dự đoán cho phù hợp với nỗ lực thúc đẩy chiến tranh của chính quyền Bush. Nhưng dù nỗ lực của cả hai đảng để điều tra về sự việc, hoàn toàn không tìm thấy bằng chứng nào cho thấy Bush đã gây áp lực. Những thứ họ đã tìm thấy, chính là những thông tin tình báo xấu dẫn đến những chính sách tồi tệ.

Ủy ban 2005 dưới sự lãnh đạo của Thượng Nghị Sĩ Charles Robb (Đảng Dân Chủ) và Thẩm Phán Laurence Silberman (Đảng Cộng Hòa) đã cho rằng những dự doán của cộng đồng tình báo về Iraq là những ”sai lầm chết người.” Một năm trước, Ủy Ban của Thượng Viện về Tình Báo đã lên án những sai lầm về tình báo đó như một sản phẩm của lối ”suy nghĩ theo nhóm”, bắt nguồn từ nỗi sợ hãi trong việc đánh giá thấp những mối đe dọa đến an ninh quốc gia sau sự kiện 9/11.

Will Tobey, một cựu phó quản trị viên của Cơ Quan An Ninh Hạt Nhân Quốc Gia vẫn tức giận về sự thất bại khi nhìn thấy những vấn đề trong những báo cáo của CIA đã hỗ trợ Bộ Trưởng Ngoại Giao Colin Powell – trong bài diễn văn trước chiến tranh tại Liên Hiệp Quốc về WMD của Iraq. Nhờ vào một phần đảm bảo của CIA về những bằng chứng thuyết phục cho từng lời cáo buộc, Ông Powell đã được thuyết phục về lập luận chống lại Saddam, mà theo lời ông ta là ”cứng như đá.”

Sao ông ta lại không nghĩ như vậy được chứ? Trong 15 năm qua, không có một ủy ban Quốc hội nào báo cáo thường xuyên về tình hình WMD của Iraq, họ đã bộc lộ sự lo lắng về sự thiên vị hay các sai lầm. Quyết định đưa quân vào Iraq đã nhận được sự ủng hộ rộng rãi trong quốc hội ở cả Đảng Cộng Hòa và Dân Chủ — và một lần nữa, vì lý do chính đáng. Thậm chí nếu cộng đồng tình báo đánh giá quá cao khả năng WMD của Saddam Hussein đi nữa, họ cũng đã không thể tạo ra nó từ không khí được. Saddam đã sử dụng vũ khí hóa học lên người dân của ông ta, giết chết hàng ngàn người. Ông ta đã xâm chiếm các nước láng giềng, vô số lần.

Không, Tổng Thống Bush đã không đem Hoa Kỳ vào chiến tranh bởi vì ông ta được điều khiển bởi một nhóm thân-hữu. Cũng như chính Tổng Thống Bush đã khẳng định, ông ta là ”người quyết định.” Và không, ông ta đã không tham chiến vì dầu khí. Nếu chúng ta muốn dầu khí của Saddam, chúng ta có thể mua nó.

Quyết định của Tổng Thống Bush để tham chiếm dựa trên những thông tin mà ông và đội ngũ đã dựa theo – những thông tin đã được thu thập bởi những nhân viên tình báo và phân tích hàng đầu thế giới, bao gồm những cơ quan tình báo của Pháp, Đức và Nga, những quốc gia với những nhà lãnh đạo đã không ủng hộ cuộc chiến. Nhưng họ đều đồng ý về một điều — Saddam đã và đang tiếp tục phát triển vũ khí WMD.

Những chuyên gia tình báo của chúng ta, và những chuyên gia ở các quốc gia Châu Âu, đã đánh giá quá cao khả năng của Saddam. Những sai lầm như vậy đã lan rộng khắp hệ thống — từ Nhà Trắng đến Quốc Hội đến những phóng viên cho đến công chúng. Và những sai làm đó đã ảnh hưởng đến các chính sách. Nhưng đây là điểm chính cần lưu ý — đó đều là những sai lầm, và không phải sự giả dối.

Tôi là Judith Miller, biên tập viên của City Journal, đại diện cho Đại Học Prager.

 

Dịch bởi: Ku Búa, Biên tập: Bé Sao @ CAFEKUBUA.COM

Facebook Comments