Thiện và tà – Chuẩn mực đạo đức đến từ đâu?

Nếu Chúa có tồn tại, thì tại sao lại có quá nhiều cái ác? Làm sao bất cứ một Thiên Chúa nào quan tâm đến đúng và sai lại có thể cho phép quá nhiều sai trái xảy ra? Và nếu không có Thượng Đế, thì ai sẽ là người quyết định cái gì là đúng và cái gì là sai? Những câu trả lời cho các câu hỏi đó, như nhà triết học của Boston College Peter Kreeft giải thích, liên quan trực tiếp đến trọng điểm của tinh thần, đạo đức và cái cách chúng ta hiểu về định nghĩa một người tử tế là một người như thế nào.

Tôi sẽ tranh luận cho sự tồn tại của Chúa từ lập trường rằng đạo đức thiện và tà thật sự đang tồn tại. Nó không đơn giản chỉ là một vấn đề cá nhân. Cũng không phải là một điều thay thế cho việc “Tôi Thích” và “Tôi Không Thích.”

Trước khi tôi bắt đầu, hãy giải quyết một sự hiểu lầm. Lập luận của tôi không có nghĩa là những người vô thân không có đạo đức. Đương nhiên là người vô thần có thể sống đạo đức, cũng như người vô thần cũng có thể sống vô đạo đức.

Hãy bắt đầu với một câu hỏi về thiện và tà: “Thiện và tà đến từ đâu?” Người vô thần thường nêu ra vài đề xuất về nguồn gốc. Trong đó bao gồm sự tiến hóa, lý luận, lương tâm, bản chất con người và chủ nghĩa thực dụng.

Tôi sẽ chứng minh với bạn rằng không một cái nào nói trên là nguồn gốc thật sự của đạo đức.

Vì sao không phải là sự tiến hóa? Bởi vì bất cứ đạo đức nào đến từ sự tiến hóa đều có thể thay đổi. Nếu nó có thể thay đổi theo mặt tích cực hoặc tiêu cực, thì phải có một chuẩn mực để phán xét những việc đó là thiện hay tà. Trong phần lớn lịch sử nhân loại, những xã hội hùng mạnh hơn thường nô lệ hóa những xã hội yếu kém hơn, và phát triển dựa trên nền tảng đó. Đó là cách thông dụng cho rất lâu và không một ai đã lên án nó. Bây giờ thì chúng ta lên án nô lệ. Nhưng dựa trên mô hình tiến hóa thôi thì, ai là người sẽ nói rằng nó sẽ không có thể được chấp nhận lại một ngày nào đó? Nô lệ đã được chấp nhận, nhưng không vì thế mà nói nó đáng được chấp nhận.

Và nếu bạn không thể phân biệt giữa việc đã được chấp nhận và đáng được chấp nhận, bạn không thể lên án nô lệ được. Và nếu bạn không thể phân biệt điều đó thì bạn đang thừa nhận một đạo đức khách quan.

Còn lý luận thì sao? Trong khi lý luận là một dụng cụ lợi hại để giúp chúng ta khám phá và hiểu về đạo đức, nó không thể là nguồn gốc của đạo đức. Để ví dụ, các tội phạm dùng lý luận để lên kế hoạch giết người — trong khi lý luận của họ không hề cho họ biết rằng giết người là sai.Và có phải là lý luận — hay một cái gì đó cao lớn hơn lý luận – đã khiến vô số người không phải là Do Thái bất chấp rủi ro với mạng sống để cứu những người Do Thái trong cuộc thảm sát Thế Chiến Thứ Hai (Holocaust)? Câu trả lời rất rõ ràng: đó là một thứ gì đó cao lớn hơn lý luận — bởi vì bất chấp mạng sống của mình để cứu mạng sống của một người lạ là một hành động rất vô lý để làm.

Lương tâm cũng không phải là nguồn gốc của đạo đức. Tất cả mọi người đều có lương tâm riêng của mình và vài người thậm chí không hề có lương tâm. Heinrich Himmler, Chỉ Huy Trưởng của đội quân SS tàn bạo của Đức Quốc Xã, đã thành công trong việc kêu gọi lương tâm của các quân nhân ông ta để giúp họ làm điều “đúng” trong việc giết và tra tấn hàng triệu người Do Thái và vô số người khác. Làm sao bạn có thể nói lương tâm của bạn là đúng còn lương tâm của Himmler là sai nếu lương tâm là nguồn gốc duy nhất của đạo đức? Câu trả lời là bạn không thể.

Vài người nói rằng bản chất con người là nguồn gốc chính của đạo đức. Nhưng bản chất con người có thể khiến chúng ta làm nhiều điều tồi tệ. Thậm chí, bản chất con người là lý do chúng ta cần đạo đức. Bản chất con người của chúng ta thúc đẩy vài người trong chúng ta làm điều ác, và thúc đẩy tất cả chúng ta trở nên ích kỷ, độc ác, nhỏ nhen và tự kỷ. Tôi không tin rằng bạn sẽ muốn sống trong một thế giới nơi mà bản chất con người được tự do cai trị.

Chủ nghĩa thực dụng là một sự khẳng định rằng những việc đạo đức được quyết định bởi ‘sự hạnh phúc lớn nhất dành cho nhiều người nhất.’ Nhưng hãy trở về ví dụ nô lệ của chúng ta: nếu chín mươi phần trăm con người sẽ có nhiều lợi ích từ việc nô lệ hóa mười phần trăm còn lại, thì điều đó có làm nô lệ trở nên đúng không? Dựa theo lập luận của chủ nghĩa thực dụng thì có.

Chúng ta đã thấy những nơi đạo đức không thể bắt đầu. Bây giờ hãy xem nó xuất phát từ đâu.

Những luật đạo đức là gì? Không giống như những luật vậy lý hoặc luật toán học, những thứ mà cho chúng ta biết cái gì là cái gì, những luật đạo đức cho chúng ta biết chúng ta nên làm gì. Nhưng cũng như luật vật lý, nó điều khiển và ra lệnh cho một cái gì đó. Và cái gì đó chính là hành động đạo đức của con người.

Nhưng vì đạo đức không thể tồn tại như một thể chất — hoàn toàn không có một atom đạo đức hoặc vô đạo đức, hoặc tế bào hay genes đạo đức hay vô đạo đức — nguồn gốc của nó phải là một cái gì đó mà tồn tại ngoài thế giới vật chất. Cái nơi đó phải nằm trên tính tự nhiên – hoặc siêu tự nhiên.

Chính sự tồn tại của đạo đức chứng minh rằng sự tồn tại của một cái gì đó nằm trên tự nhiên và nhân loại. Cũng như nghệ thuật thiết kế gợi lên một nhà thiết kế, những quy luật đạo đức gợi lên một chỉ huy đạo đức. Luật Đạo Đức phải đến từ một nhà lập luận đạo đức.

Vâng, điều đó nghe giống như một khái niệm mà chúng ta biết đến là Chúa.

Hậu quả của lập luận này là bất cứ khi nào bạn đề cập đến đạo đức, bạn đề cập đến Chúa cho dù bạn có biết hay không; bạn đang nói về một thứ gì đó mang tính chất tôn giáo, cho dù bạn nghĩ rằng bạn là một người vô thần.

Tôi là I’m Peter Kreeft, giáo sư khoa Triết Học tại Boston College, cho Đại Học Prager

—–

Peter Kreeft, Where Do Good and Evil Come From?, Prager University

Dịch: Ku Búa @ CAFEKUBUA.COM

https://www.facebook.com/cafekubua/videos/772057156261134/

Facebook Comments