Làm thế nào chúng ta quyết định được giá của hàng hóa ?

Bài 2 : Giá thị trường.
Làm thế nào chúng ta quyết định được giá của hàng hóa ?
Ở bài 1 , chúng ta đã biết các đặc trưng của nền kinh tế theo mô hình tư bản.
+ Tự do tư hữu tài sản cá nhân .
+ Tự do truy tìm lợi nhuận cho bản thân .
+ Kinh tế hàng hóa .
+ Nền kinh tế thị trường .
Lời của người dịch

Những đặc trưng trên không tồn tại trong mô hình kinh tế theo hướng xã hội chủ nghĩa .
Ngày nay Việt Nam và Trung Quốc cũng như các nước xã hội chủ nghĩa khác….đều nới lỏng
việc tư hữu tài sản , và tự do truy tìm lợi nhuận (tạo ra các giá trị thăng dư tư bản) , nền kinh tế
thị trường sơ khai . Nhưng như thế, họ có còn là những nước xã hội chủ nghĩa chiến đâu vì
người nghèo và giai cấp vô sản như những gì họ nói nữa không ? Khi mà họ phi phạm hầu hết
những đặc trưng của nền kinh tế XHCN : Chỉ công nhận Sở Hữu Tập Thể ( chính sách cải cách
ruộng đất 1955 , và đả tư sản sau năm 1975) , cấm mọi người làm tìm kiếm lợi nhuận bằng hệ
thống tem phiếu sổ gạo, cấm đoán nền kinh tế thị trường bằng các của hàng tạp hóa , bán
hàng qua hệ thống tem phiếu v.v.v…..
1/
Giá của con cá hồi .
Mỗi ngày, giá mua cá hồi và củ cải đều thay đổi . Trong một ngày , giá buối sáng và buổi
chiều cũng có thể khác nhau. Cùng một con cá hồi, giá của một con cá hồi còn tươi đắt hơn .
Giá của một con cá hồi đông lạnh lại rẻ hơn . Giá của con cá hồi con tươi so với con cá hồi
đông lạnh luôn luôn có một khoảng cách nhất định. Nhưng giá của một con hồi đóng hộp luôn
luôn cố định(đồ hộp).
Tuy nhiên, cùng ở một trung tâm thương mại giá của một chiếc tivi, hay tủ lạnh lại hầu như
không có sự thay đổi vào mỗi ngày.
Tại sao lại như vậy ?
2/ Cung (người bán ) và Cầu (người mua) (*) : (từ đây để ngắn gọn mình dùng người bán và
người mua) .
Cung Cấp : Chỉ những cá nhân tổ chức sản xuất và bán ra.
Nhu cầu : Chỉ những cá nhân , tổ chức nhập hàng hóa và mua vào .
Trong ví dụ cá hồi ở trên, người mua cá hồi là nguồn nhu cầu. Và người bán cá hồi , gọi là
nguồn cung cấp.

Ở chợ thủy sản , nếu giá cá hồi ở mức cao, những người cung cấp cá hồi sẽ cố gắng bán ra
thật nhiều . Ngược lại, nếu giá rẻ quá mức,có thể họ sẽ nghỉ việc đánh bắt cá ,vào một ngày
thời tiết xấu vì họ chẳng thu được lợi gì cả.
Cũng ở chợ thủy sản , nếu giá của con cá hồi quá rẻ, họ sẽ cố gắng mua thật nhiều . Nhưng
nếu giá con cá là 10 triệu vnd ,thì sẽ chẳng còn ai muốn mua nữa .
Như bạn thấy đó , cả những người có nhu cầu và người cung cấp đều :lấy giá cả của con cá
hồi làm mục tiêu hoạt động cho mình(Tối nay có ăn cá hồi hoặc không . Ngày mai có ra biển để
đánh bắt tiếp cá hồi hay không) .
Tồn tại số lượng người mua và người bán lớn , giữa người mua và người bán có một cuộc
cạnh tranh tự do. Số lượng người mua và người
bán sẽ được quyết định dựa vào giá cả .
3/ Cách quyết định giá thị trường.
Tồn tại số lượng người mua và người bán lớn , giữa người mua và người bán thỏa thuận tự
do với nhau. Số lượng người mua và người bán sẽ được quyết định dựa vào giá cả .

Hình 1

Hình 1

Ở chợ thủy sản , Nếu
giá cá hồi ở mức
cao, thì LƯỢNG NGƯỜI CUNG
CẤP CÁ HỒI sẽ tăng lên .
Ngược lại, nếu giá rẻ ,LƯỢNG
NGƯỜI CUNG CẤP CÁ HỒI sẽ
giảm đi .
+ Ngày thứ nhất : Giá ở mức
100 nghìn/con . Có 100 người
cung cấp cá hồi.
+ Ngày thứ 2 : nếu giá lên 1
triệu thì tăng lên 500 người
cung cấp cá hồi.
+ Ngày thứ 3 : Nếu giá giảm
còn 500 nghìn/ thì chỉ còn lại
khoảng gần 300 người cung
cấp cá hồi.

Hình 2

Hình 2

Nếu
giá cá hồi ở mức cao, thì
số lượng người muốn mua cá hồi sẽ
giảm đi . Ngược lại, nếu giá rẻ , số
lượng người muốn mua sẽ tăng lên.
+ Ngày thứ nhất : Giá con cá 1
triệu / 1 con . Chỉ có 100 người dám
mua..
+ Ngày thứ 2 : Giá giảm xuống còn
200/ 1con . Số lượng mua là gần 200
người.
+ Ngày thứ 3 : Giá con cá hồi giảm
chỉ con lại 100/ 1 con . Số lượng người
mua cá hồi tăng lên gần 500 người.

 

Vậy khi số lượng ngư dân và người muốn ăn cá hồi bằng nhau thì sao ? Thì lúc đó giá cá hồi
ở thời điểm đó là giá chuẩn (giá thị trường) . Điểm giao nhau chính là giá chuẩn , lúc đó người
mua bằng số người bán và hết sạch hàng ko còn tồn kho.

Hình 3

Hình 3

Vài lời của người dịch
Câu chuyện phiếm , Có anh A vốn là một anh thợ cắt tóc . Trong một ngày nọ, anh thấy giá cá
hồi ở chợ thủy sản đang rất cao. Anh cất kéo và đồ nghề cắt tóc đi làm ngư dân . Tuần đầu ,
anh thu được rất nhiều lãi vì giá cá hồi vẫn đang cao. Nhưng sang các tuần tiếp theo nhiều
người cùng đổ ra biển bắt cá hồi. Khiến chợ thủy sản đâu đâu cũng có cá hồi. Giá cá hồi được
bày bán ngày một giảm mạnh. Anh A lại bỏ chài lưới quay về làm thợ cắt tóc . Lúc anh A trở về
với nghề cắt tóc , là do nguồn “cung” cá hồi dồi dào khiến giá cá hồi giảm đi rất nhiều. Nhưng
lượng người mua không tăng thêm. Anh A nhận thấy không thể kiếm lợi bằng việc săn bắt cá
hồi nữa anh quay về nghề cắt tóc. Lúc đó giá cả đạt đến mức chuẩn.
Một ngày khác , một ngày đẹp trời . Bà nội trợ đến chợ thủy sản, bà thấy giá cá hồi rẻ như cho.
Bà hỏi một ngư dân bán hàng thì được biết đang cá đang được mùa , thu hoạch rất tốt. Bà nội
trợ về kể với hàng xóm , 1 đồn trăm . Ngày hôm sau cả làng đó ăn cá hồi . Lượng cá ở chợ
thủy sản nhích lên khá nhiều vì hàng đã ko còn thừa như ngày trước đó.
Điều gì đã làm anh A vốn là một thợ cắt tóc lại lao ra biển để đánh bắt cá hồi ?
Vì anh ấy nghĩ : Nếu đi làm ngư dân vào lúc giá cao,sẽ kiếm được nhiều tiền hơn là làm thợ cắt
tóc . Đơn giản vậy thôi. Giá cả của một món hàng sẽ thúc đẩy con người nhiều đấy chứ . Nó
không bao hàm một cái bảng giá vô tri trong siêu thị.
4/
Tăng giá và giảm giá
Điều chỉnh số lượng sản xuất và tồn kho hợp lý theo số lượng người mua, thì giá cả sẽ được
ổn định . Vậy khi gặp thời tiết xấu và không thuận lơi, giá nông sản và thủy sản sẽ tăng, giá
giảm khi được mùa. Vậy có cách nào để ổn định giá được không ?
Câu trả lời là có. Dựa vào việc chế biến các sản phẩm nông sản và thủy sản thành đồ hộp (sản
phẩm công nghiệp) . Đó cũng là lý do tại sao , các quốc gia nông nghiệp thì có giá thị trường
bất ổn hơn các quốc gia công nghiệp. Vì họ không có khả năng đóng hộp đồ, để dự trữ nông
sản do họ sản xuất ra , lúc được mùa . Và mang ra bán nó,khi mất mùa hoặc ảnh hưởng thời
tiết mà sản xuất gặp khó khăn, để ổn định về giá.
Dịch theo Kinh tế Chính Trị Sách dành cho học sinh trung học phổ thông ở Nhật
Giá nói ở đây là không bao gồm thuế VAT (tiêu dùng) , hoặc biến động về trao đổi ngoại tệ
gây ra.
Cung và câu nói trong bài ở phạm vi hẹp cho các bạn dễ hiểu . Thực tế cung và cầu , định
nghĩa rộng hơn nhiều.

Gã Lang Thang

Facebook Comments