Những sự thật cần biết về cuộc Thập Tự Chinh

Những sự thật cần biết về cuộc Thập Tự Chinh

 

Đây có phải là những cuộc chiến chống lại Hồi Giáo được phê chuẩn bởi những Giáo Hoàng cuồng quyền lực và những tín đồ tôn giáo cuồng tín chiến đấu vì nó?

Trừ trường hợp ngoại lệ xảy ra với nhà triết học Umberto Eco, các học giả thời Trung cổ không nhận được nhiều sự chú ý từ giới truyền thông. Chúng ta có xu hướng sống an phận (ngoại trừ các lể Bacchus hàng năm mà ta thường gọi là Đại hội Nghiên cứu Trung cổ Quốc Tế ở Kalamazoo, Michigan, và ở  nhiều nơi khác … ), họ nghiền ngẫm những biên niên cũ, viết những nghiên cứu tỉ mẩn nhưng ngớ ngẩn và ít người đọc. Bạn hãy tưởng tượng xem, tôi đã kinh ngạc thế nào khi nhận ra đợt tấn công 11/ 9 và cuộc chiến thời Trung cổ bỗng nhiên trở nên liên quan với nhau.

Là một nhà sử học nghiên cứu về cuộc Thập Tự Chinh, khoảng thời gian yên bình cho những suy nghĩ phi thực tế của tôi bị cánh nhà báo, biên tập viên, và những người dẫn chương trình tọa đàm phá tan nát vì họ quá háo hức mong nhận được những tin sốt dẻo . “Cuộc Thập Tự Chinh là gì?”, “Chúng đã xảy ra khi nào?”. “Tổng thống George W.Bush đã thiếu nhạy cảm đến mức nào khi dùng từ “Thập Tự Chinh” trong bài diễn văn của mình?”, vân vân và vân vân …

Với một vài người khách của mình, tôi có ấn tượng rằng họ đã biết câu trả lời cho câu hỏi của họ, hoặc ít nhất … là họ tưởng như vậy. Những gì họ thực sự muốn là một chuyên gia nói lại cho họ tất cả những điều đó. Ví dụ, tôi thường xuyên được đề nghị phản hồi về việc Hồi giáo đã có lý do chính đáng chống lại phương Tây. Họ khăng khăng rằng Đó không phải là hành động bạo lực, mà có nguồn gốc từ những vụ tấn công tàn bạo và vô cớ trong các cuộc Thập Tự Chinh, nhằm chống lại một thế giới Hồi Giáo bị xuyên tạc và cần được khoan dung hay sao? Nói cách khác, không phải những cuộc Thập Tự Chinh là rất đáng trách hay sao?

Osama bin Laden dĩ nhiên cũng nghĩ vậy. Trong các màn diễn thuyết trên truyền hình của mình, hắn chưa bao giờ thất bại trong việc mô tả cuộc chiến chống khủng bố của Mỹ trông chẳng khác gì cuộc “tân Thập Tự Chinh” nhằm chống lại người Hồi Giáo. Cựu tổng thống Bill Clinton cũng đã chỉ ra rằng cuộc Thập tự chinh là nguyên nhân gốc rễ của cuộc xung đột hiện nay. Trong một bài phát biểu tại Đại học Georgetown, ông kể lại (và thêm thắt) một vụ thảm sát người Do Thái sau khi Quân Thập Tự chinh phạt Jerusalem năm 1099 và nói rằng tình tiết đó vẫn còn được nhớ đến một cách cay đắng ở Trung Đông. (Tại sao những kẻ khủng bố Hồi Giáo nên buồn bã về việc giết hại người Do Thái không lý do?) Clinton đã bị chỉ trích trên các trang xã luận của quốc gia vì ông ta muốn khiển trách nước Mỹ rằng ông ta rất muốn quay lại thời kỳ Trung Cổ. Ấy vậy mà không có ai bàn cãi về cái tiền đề nền móng của vị cựu tổng thống này cả.

Vâng, gần như không có ai. Nhiều sử gia đã cố gắng thiết lập bản ghi về cuộc Thập Tự Chinh trước khi Clinton phát hiện ra chúng. Họ không phải là người theo “chủ nghĩa xét lại”, như các nhà sử học Mỹ, những người tạo ra các triển lãm Enola Gay (tên của máy bay B-29 đã thả một quả bom nguyên tử xuống Hiroshima vào năm 1945), nhưng họ là những người có học thức tầm cỡ và có rất nhiều cống hiến trong nhiều thập kỷ một cách rất cẩn thận, tỉ mỉ và nghiêm túc. Đối với họ, đây là “khoảnh khắc để giảng dạy”, một cơ hội để giải thích về cuộc Thập tự chinh trong khi mọi người đang thực sự muốn lắng nghe. Nó sẽ không kéo dài, nên bắt đầu thôi.

e386a450-f678-4b2e-b136-6b9d3c7ba984

Các mối đe dọa của Hồi giáo

Quan niệm sai lầm về cuộc Thập Tự Chinh quá phổ biến. Nó thường được miêu tả là một loạt các cuộc thánh chiến chống lại Hồi giáo, được các giáo hoàng đam mê quyền lực dẫn dắt một cách điên cuồng và gây chiến bởi những tín đồ cuồng tín. Họ cho đó là hình ảnh thu nhỏ của sự tự mãn và không khoan dung, một vết đen trong lịch sử và nền văn minh của Giáo Hội Công Giáo nói riêng và phương Tây nói chung.

Là dòng dõi vua Proto, quân Thập Tự đã mang bạo lực của phương Tây đến với Trung Đông yên bình, làm hư hại nền văn hóa Hồi Giáo sáng lạng, để lại nó trong đống đổ nát. Có rất nhiều biến thể về chủ đề này. Ví dụ: ba bộ sử thi nổi tiếng của Steven Runciman: “Lịch sử của các cuộc Thập Tự Chinh”, các tài liệu của BBC/A&E và “The Crusades” được tổ chức bởi Terry Jones. Cả hai đều là những cuốn sách về thời kỳ lịch sử khủng khiếp nhưng có tính giải trí tuyệt vời.

Thế thì sự thật về cuộc Thập Tự Chinh là gì? Các học giả vẫn còn đang cố làm rõ việc đó. Nhưng nhiều luận điểm đã có thể khẳng định một cách chắc chắn. Từ khi bắt đầu, các cuộc Thập Tự Chinh ở phía Đông là một cuộc phòng thủ, dù nói theo cách nào đi nữa. Đó là các phản ứng trực tiếp với sự hung hãn của Hồi Giáo – một nỗ lực để trở lại hoặc bảo vệ chống lại các cuộc chinh phục của người Hồi giáo tại vùng đất Công Giáo.

Người Công Giáo ở thế kỷ thứ mười không cuồng tín và hoang tưởng. Người Hồi giáo thực sự đang săn lùng họ. Trong khi người Hồi giáo có thể sống yên bình, họ đã chọn sinh ra và lớn lên trong chiến tranh. Vào thời điểm Mohammed, tiềm lực của Hồi giáo đã được bành trướng bằng các cuộc chiến tranh giết chóc. Tư tưởng Hồi giáo chia thế giới thành hai lĩnh vực, Nơi Ở của Hồi Giáo và Nơi Ở của Chiến Tranh. Đặc biệt là Công giáo – và vì vấn đề đó, bất cứ tôn giáo nào không phải Đạo Hồi – sẽ không có nơi trú ngụ. Người Công Giáo và người Do Thái có thể được dung thứ trong một nhà nước Hồi giáo, nhưng phải dưới sự cai trị của người Hồi. Trong Hồi giáo truyền thống, Công giáo và các quốc gia Do Thái phải bị tiêu diệt và chiếm hữu đất đai của họ. Khi Mohammed tiến hành chiến tranh chống lại Mecca vào thế kỷ thứ bảy, Công Giáo từng là tôn giáo chi phối quyền lực và sự giàu có. Như đức tin của Đế chế La Mã, nó kéo dài toàn bộ vùng Địa Trung Hải, bao gồm cả Trung Đông, là nơi nó được sinh ra. Công giáo, là mục tiêu đầu tiên của các vua Hồi, và nó sẽ vẫn như vậy trong một ngàn năm tới.

Với nguồn lực khổng lồ, các chiến binh Hồi Giáo tấn công chống lại Công Giáo không lâu sau cái chết của Muhammad. Họ đã thành công. Palestine, Syria, Ai Cập và một trong các khu vực nhiều người Công giáo nhất trên thế giới chịu thua một cách nhanh chóng. Đến thế kỷ thứ tám, các đội quân Hồi giáo đã chinh phục toàn bộ nơi sinh sống của người Công giáo ở Bắc Phi và Tây Ban Nha. Trong thế kỷ thứ 11, người Thổ Seljuk chinh phục Tiểu Á (Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay), vốn là nơi ở của người Công giáo kể từ thời Thánh Phaolô. Đế quốc La Mã cũ, được biết đến với tên tuổi của các nhà sử học hiện đại như Đế chế Byzantine, bị giảm ít hơn so với người Hy Lạp.  Tuyệt vọng, các hoàng đế ở Constantinople gửi lời cầu cứu cho những người Công giáo ở Tây Âu yêu cầu họ giúp đỡ anh chị em của mình ở phía Đông.

Và quân viễn chinh ra đời.

 

Tìm hiểu về quân viễn chinh – Crusaders

Đó là những người tình nguyện chiến đấu cho các cuộc Thập tự chinh. Họ không phải là đứa con tinh thần của một vị giáo hoàng tham vọng hoặc hiệp sĩ tham lam nào, mà là phản ứng cuối cùng sau hơn bốn thế kỷ, khi Hồi giáo đã bắt và giết hại hai phần ba người Công giáo vào thời đó, Công giáo là một đức tin và một nền văn hóa cần phải bảo vệ hoặc sẽ phải bị gộp vào đạo Hồi. Cuộc Thập tự chinh chỉ là phòng thủ.

Tại Hội đồng Clermont, Giáo hoàng Urban II kêu gọi các hiệp sĩ Công giáo đẩy lùi các cuộc chinh phục của Hồi giáo trong năm 1095 và đã nhận được sự ủng hộ rất quyết liệt. Hàng ngàn chiến binh tuyên thệ trước thánh giá và chuẩn bị cho cuộc chiến đấu. Tại sao họ làm vậy? Câu trả lời đã bị hiểu lầm một cách tệ hại. Trong sự trỗi dậy của niềm tin, khẳng định rằng các chiến binh Thập tự đơn thuần là không còn đất sống và chưa bao giờ được yên ổn, không hề có việc tận dụng cơ hội để cướp bóc ở một vùng đất xa xôi như vậy. Sự thể hiện lòng tin, sự hy sinh, và tình yêu đối với Thiên Chúa của họ đã không hề được coi trọng.

Trong hai thập kỷ qua, nhờ sự hỗ trợ của máy tính, những nghiên cứu về các bí ẩn đã được bày ra. Các học giả phát hiện ra rằng quân Thập tự chinh phần lớn là nam giới giàu có với nhiều trang trại, đất đai ở châu Âu. Tuy nhiên, họ sẵn sàng từ bỏ tất cả mọi thứ để thực hiện sứ mệnh thiêng liêng. Cuộc Thập tự chinh cần rất nhiều tiền bạc. Ngay cả lãnh chúa giàu có cũng thể bần cùng hóa bằng việc tham gia một cuộc Thập tự chinh. Họ đã làm như vậy không phải vì họ mong đợi được giàu có (mà nhiều người trong số họ đã giàu rồi). Để chứng tỏ lòng bác ái và tình thương, họ nhận thức được tình hình và mong muốn lãnh đạo những cuộc chiến khó khăn trong cuộc Thập tự  chinh như là một hành động sám hối. Hàng ngàn Hiến chương từ thời Trung cổ vẫn cho ta thấy nhiều điều về những người này, hiến chương cũng nói rằng chúng ta nên lắng nghe ý kiến từ họ. Tuy nhiên, họ không phản đối việc thu giữ chiến lợi phẩm nếu họ có được. Nhưng sự thật là các cuộc Thập tự chinh đã bị mang tiếng xấu là cướp bóc. Một vài người trở nên giàu có, nhưng phần lớn họ trở về với tay trắng.

A-Christian-soldier-is-sh-004

Điều gì đã thực sự xảy ra?

Urban II đã ban cho các Crusaders hai mục đích, cả hai đều nhằm giữ vị trí trung tâm đối của cuộc Thập tự chinh ở phía đông trong nhiều thế kỉ. Việc đầu tiên là phải giải cứu những người Công giáo. Là người kế nhiệm, Đức Giáo Hoàng Innocent III, đã viết:

“Làm thế nào để người đó yêu quý anh em của anh như bản thân anh mình theo lời dạy của Chúa, khi mà anh ta không thể nhân danh niềm tin với những kẻ Hồi giáo bội tín đã đặt ách thống trị nặng nề và giam cầm sự tự do xuống người anh em của anh? … Có phải tự nhiên mà bạn không biết rằng hàng ngàn người Công giáo đang bị trói buộc và phải  làm nô lệ cho những người Hồi giáo, bị tra tấn bằng muôn vàn đau khổ?”

“Thập tự chinh”, giáo sư Jonathan Riley-Smith đưa ra một lý luận đúng đắn rằng, có thể hiểu rằng đó là “một hành động của tình yêu” – trong trường hợp này là tình yêu của những người láng giềng, anh em với nhau. Thập tự chinh được xem như là một câu chuyện của lòng thương xót, hơn là một sai lầm khủng khiếp. Như Đức Giáo Hoàng Innocent III đã viết cho các Hiệp sĩ Templar, “chẳng có tình yêu thương nào lớn hơn việc ta hy sinh mạng sống của mình vì bạn hữu của mình.'”

Mục tiêu thứ hai là giải phóng Jerusalem và những vùng đất thánh khác được Chúa thánh hóa trong cuộc đời Người. “Cuộc thập tự chinh” là từ mới. Thập tự chinh ở thời trung cổ là các khách hành hương, mang sư mệnh công chính trên đường tới mộ của Chúa. Khi nói về Thập tự chinh lần thứ 5 năm 1215, Innocent III đã viết: “Hãy cân nhắc kỹ lưỡng hỡi các con thân yêu, hãy cẩn thận rằng vào bất cứ thời điểm nào khi vị vua bị ném ra khỏi lãnh địa của mình và bị bắt bớ, nhưng họ không thể làm được điều ấy, khi người đã phục hồi quyền lực ban đầu, và thời điểm đến, hãy phân phát công lý và nhìn vào bọn chư hầu của người như những kẻ bất trung và phản bội… trừ phi chúng cam đoan rằng đem hết của cải mà cả tính mạng để giải phóng chính chúng?… Và Chúa sẽ không làm vậy, cho dù người là vua các vua, Chúa các Chúa, nhưng người đã chuộc lại linh hồn, thể xác của con bằng máu Châu báu… Nếu con bỏ mặc ngài, con sẽ bị lên án vì sự vô ơn và tội ác của kẻ vô tín?”

Việc tái chinh phục Jerusalem, không phải là hành động để thiết lập thuộc địa, mà là phục hồi và khai mở một niềm tin vào Chúa. Người trung cổ đã tin rằng, Chúa có quyền năng khôi phục lại Jerusalem, thực tế, Ngài có sức mạnh để khôi phục toàn thế giới theo luật của Ngài, nhưng Ngài cho chúng ta quyền lựa chọn. Như Thánh Bernard ở Clairvaux từng rao giảng, sự khước từ của Ngài là một điều phước lành cho con dân của ngài: Tôi nói lại một lần nữa, hãy tôn trọng lòng thương xót của Đấng toàn năng, chú ý đến những kế hoạch của Chúa . Ngài đặt chính Ngài trách nhiệm với bạn, rằng Ngài có thể giúp bạn giải quyết những vấn đề của bản thân . … Ta gọi đó là sự khoan hồng , ban phước cho thế hệ sau, để thế hệ sau có cơ hội được khoan dung như vậy.

Mục đích chính của Thập tự chinh được giả định là chuyển đổi thế giới của đạo Hồi. Không gì có thể thay đổi chân lý. Từ góc nhìn của Công giáo thời trung cổ, người Hồi giáo là những kẻ thù của Chúa và Giáo Hội của Người. Nhiệm vụ của quân Thập tự là phải  đánh bại và đề phòng họ. Đó là tất cả.

Người Hồi giáo sống ở khu vực Crusader-won nói riêng và các khu vực khác nói chung được phép giữ lại tài sản của mình và sinh kế, và luôn cả tôn giáo của họ. Thật vậy, trong suốt lịch sử của Crusader Vương quốc Jerusalem, cư dân Hồi giáo luôn luôn đông hơn những người Công giáo. Cho đến tận thế kỷ 13 khi mà người Phanxico bắt đầu nỗ lực rao giảng lòng tin cho những người Hồi Giáo. Nhưng những nỗ lực này đã gần như thất bại và bị bỏ ngơ. Trong bất cứ tình huống nào, những nỗ lực như thế đều là theo phương pháp hòa bình, không phải là đe dọa bạo lực.

Miniature Painting of  ca. 14th century

Miniature Painting of ca. 14th century

 Những lời xin lỗi

Thập tự chinh là cuộc chiến tranh, nên nếu mô tả nó giống như chẳng có gì ngoài sự thương xót và ý định tốt thì thật là sai lầm. Giống như tất cả các cuộc chiến tranh, bạo lực vốn tàn bạo (mặc dù không thể so sánh với các cuộc chiến tranh hiện đại). Có những rủi ro, sai lầm, và tội ác. Những điều này cho đến ngay nay vẫn còn được ghi nhớ.

Trong những ngày đầu của cuộc Thập tự chinh đầu tiên trong năm 1095, một nhóm người nghèo của Crusaders được Count Emicho từ Leiningen dẫn đầu, đã dẫn quân đến Rhine, cướp và giết tất cả những người Do Thái mà họ tìm thấy. Nhưng không thành công, các giám mục địa phương đã ngăn chặn các cuộc tàn sát. Trong con mắt của những chiến binh này, những người Do Thái, giống như những người Hồi giáo, là kẻ thù của Chúa Kitô. Cướp bóc và giết chết họ, chẳng có gì là xấu cả. Thật vậy, họ tin rằng đó là một hành động công chính, vì tiền của người Do Thái có thể được sử dụng để tài trợ cho các cuộc Thập tự chinh đến Jerusalem. Nhưng họ đã sai lầm, và Giáo Hội lên án mạnh mẽ các cuộc tấn công chống người Do Thái.

Năm mươi năm, sau khi cuộc Thập tự chinh thứ hai được chuẩn bị, St. Bernard thường giảng rằng người Do Thái đã không bị bức hại: Bất cứ ai hiểu biết về Thánh Kinh những gì họ thấy về việc báo trước của người Do Thái trong Thánh Vịnh. “Tôi không cầu nguyện cho sự hủy diệt họ,” ông nói. Người Do Thái đối với chúng ta từ đời sống của Thánh Kinh, vì họ luôn luôn nhắc nhở chúng ta về những gì Chúa phải chịu đựng … Dưới thời Chúa Jesus họ đã chịu đựng điều kiện gian khổ, nhưng “họ chỉ chờ đợi cho khoảnh khoắc được giải thoát của họ.”

Tuy nhiên, một tu sĩ Xitô tên là Radulf đã khuấy động mọi người chống lại người Do Thái Rhineland, bất chấp vô số thư từ Bernard yêu cầu ông dừng lại. Cuối cùng Bernard đã buộc phải tự mình đến Đức, nơi ông bắt kịp với Radulf, yêu cầu hắn quay lại tu viện của mình, và kết thúc cuộc thảm sát.

Người ta thường nói rằng nguồn gốc của Holocaust (  tên gọi của cuộc tàn sát chủng tộc đối với 6 triệu người Do Thái trong thời gian Thế chiến II do phátxít Đức gây ra) có thể được nhìn thấy trong những cuộc tàn sát thời trung cổ. Có thể là vậy. Nhưng nếu như vậy,  nguồn gốc của họ sẽ sâu xa và có tính trải rộng hơn các cuộc Thập tự chinh. Có những người Do Thái bị thiệt mạng trong thời Thập tự chinh, nhưng mục đích của các cuộc Thập tự chinh không phải nhằm giết người Do Thái. Hoàn toàn ngược lại: các vị giáo hoàng, giám mục, và tu sĩ truyền đạo đã làm rõ vấn đề rằng người Do Thái ở châu Âu đã được yên ổn và sống trong yên bình. Trong một cuộc chiến tranh hiện đại, chúng ta gọi những cái chết bi thảm này là những “thiệt hại không đáng có.” Ngay cả với công nghệ thông minh, Hoa Kỳ đã giết nhiều người vô tội trong cuộc chiến của họ hơn nhiều lần so với những người mà quân Thập Tự giết. Nhưng sẽ không có ai lập luận rằng mục đích cuộc chiến tranh của Mỹ là để giết phụ nữ và trẻ em.

img322

Sự thất bại của các cuộc Thập tự chinh

Mặc cho bất kỳ toan tính nào, các cuộc Thập tự chinh đầu tiên đều vì một mục đích lâu dài. Không có sự lãnh đạo, không có hệ thống chỉ huy, không có sự cung cấp, không có chiến lược cụ thể. Đó chỉ đơn giản là hàng ngàn chiến binh hành quân sâu vào lãnh thổ đối phương, cam kết chung một niềm tin chính nghĩa. Nhiều người trong số họ đã chết trong trận chiến hoặc chết vì bệnh tật hoặc chết đói. Đó là một chiến dịch thô, một trong số đó dường như luôn trên bờ vực thảm họa. Tuy nhiên, nó đã thành công một cách kỳ diệu. Đến năm 1098,  Quân Thập Tự đã phục hồi Nicaea và Antioch. Vào tháng Bảy năm 1099, họ đã chinh phục Jerusalem và bắt đầu xây dựng một nhà nước Công Giáo theo Palestine. Niềm vui ở châu Âu đã được lộ rõ. Có vẻ như dòng chảy của lịch sử đã nâng tầm Hồi Giáo lên đến tầm cao, nhưng giờ đã xoay chuyển.

Khi nghĩ về thời Trung cổ, ta dễ dàng thấy ánh sáng huy hoàng của Châu Âu qua những gì họ đã chiến đấu để đạt được hơn là những gì họ vốn có. Các pho tượng của thế giới thời trung cổ là của người Hồi giáo, không theo đạo Cơ đốc. Cuộc Thập tự chinh thú vị vì đó là một nỗ lực để chống lại các xu hướng đó. Trong năm thế kỷ của thập tự chinh, đây mới là cuộc Thập tự chinh đầu tiên đáng để kể lại về sự tiến bộ quân sự của đạo Hồi đã xuống dốc từ đó.

Khi Quân Thập Tự County của Edessa rơi vào tay người Thổ Nhĩ Kỳ và người Kurd năm 1144, đã có một làn sóng khổng lồ hỗ trợ cho một cuộc Thập tự chinh mới ở châu Âu. Nó được dẫn dắt bởi hai vị vua Louis VII của Pháp và Conrad III của Đức, và được chính Thánh Bernard rao giảng. Tuy đã thất bại thảm hại. Hầu hết quân Thập Tự đã thiệt mạng trên đường đi. Những người tiến quân đến được Jerusalem chỉ làm mọi thứ tệ hơn bằng cách tấn công người Hồi giáo Damascus, mà trước đây đã từng là một đồng minh mạnh mẽ của các Kitô hữu. Trong một thảm họa như vậy, các Kitô hữu trên khắp châu Âu đã buộc phải chấp nhận, đó không chỉ do sự phát triển quyền lực của Hồi giáo mà còn một điều chắc chắn rằng Thiên Chúa đã trừng phạt phương Tây cho tội lỗi của mình. Để giao giảng lòng đạo đức khắp châu Âu, tất cả bắt nguồn từ mong muốn thanh lọc xã hội Kitô giáo để nó có thể xứng đáng với chiến thắng ở phía Đông.

Thập tự chinh trong những năm cuối thế kỷ thứ mười hai,  trở thành một nỗ lực tổng tiến công. Mỗi người, nếu không có các vấn đề như đau yếu hay nghèo đói, đã được kêu gọi để giúp đỡ. Các chiến binh đã được yêu cầu hy sinh sự giàu có của họ, và nếu cần thiết, hi sinh cả cuộc sống của họ để bảo vệ các Kitô hữu ở phía Đông. Trong nước, tất cả các Kitô hữu được kêu gọi để hỗ trợ các cuộc Thập Tự Chinh qua lời cầu nguyện, ăn chay, và bố thí. Tuy nhiên, vẫn còn những tổ chức Hồi giáo vẫn tiếp tục lớn mạnh. Saladin, kẻ hợp nhất vĩ đại, đã rèn rũa những người Hồi giáo Cận Đông thành một nhóm duy nhất, trong khi rao giảng Jihad chống lại người Công Giáo. Vào năm 1187 ở trận Hattin, lực lượng đã  xóa sổ các nhóm quân kết hợp của Công Giáo và Vương quốc Jerusalem, thu giữ các tài liệu quý giá. Không thể tự vệ, các thành phố Công Giáo, từng thành phố một bị bắt buộc đầu đầu hàng, mà đỉnh điểm là sự đầu hàng của Jerusalem vào ngày 2 tháng 10. Chỉ có một số nhỏ các cảng đã thoát ra được.

Phản ứng lại sự kiện này là cuộc Thập tự chinh thứ ba. Được dẫn dắt bởi Hoàng đế Frederick I Barbarossa của Đế chế Đức, vua Philip II Augustus của Pháp, và vua Richard I Lionheart của nước Anh. Bằng bất kỳ biện pháp nào thì đó cũng là một sự kiện lớn, mặc dù không phải là khá lớn như các Kitô hữu đã hy vọng. Frederick đứng tuổi chết đuối trong khi băng qua một con sông trên lưng ngựa, vì vậy quân đội của ông trở về trước khi đến Đất Thánh. Philip và Richard đến bằng thuyền, nhưng cuộc cãi nhau không ngừng của họ chỉ khiến cho tình hình bị chia rẽ thêm trên chiến bộ ở Palestine. Sau khi chiếm lại Acre, vua nước Pháp trở về nhà, và trao lại quyền cho Richard. Thập Tự Chinh, do đó, rơi vào tay của Richard. Một chiến binh có tay nghề cao, nhà lãnh đạo tài năng, và chiến thuật tuyệt vời, Richard dẫn các lực lượng của Chúa từ chiến thắng đến chiến thắng khác, cuối cùng chiếm lại toàn bộ bờ biển. Nhưng Jerusalem thì không, và sau hai nỗ lực bị bỏ ngơ để đảm bảo các đường cung cấp cho Thành Thánh, Richard cuối cùng đã từ bỏ. Ông hứa sẽ trở về một ngày không xa và đi đến một thỏa thuận ngừng bắn với Saladin để đảm bảo hòa bình trong khu vực và tự do đi lại tới Jerusalem cho khách hành hương không vũ trang. Nhưng nó là một viên thuốc đắng khó có thể nuốt được. Mong muốn khôi phục lại Jerusalem cho Kitô giáo và giành lại Thánh Giá vẫn dữ dội khắp châu Âu.

Thập tự chinh của thế kỷ 13 vốn lớn hơn, được tài trợ và tổ chức tốt hơn. Nhưng chúng cũng thất bại nốt. Cuộc thập tự chinh thứ tư (1201-1204) bị mắc cạn khi nó bị cuốn vào tấm lưới của chính trị Byzantine (đế quốc La Mã), mà người phương Tây không bao giờ hoàn toàn hiểu rõ. Họ đã thực hiện một đường vòng đối với Đại đế Constantinople để hỗ trợ các yêu sách, kẻ đã hứa thưởng và hỗ trợ cho Đất Thánh. Tuy nhiên, khi hắn lên ngôi của Caesars, ân nhân của họ phát hiện ra rằng hắn là kẻ bội tín. Do đó hắn đã phản bội người bạn của mình, trong năm 1204 quân Thập tự  đã tấn công, bắt và thiêu rụi Constantinople, thành phố lớn nhất của Kitô giáo trên thế giới. Đức Giáo Hoàng Innocent III, người trước đó đã khai trừ toàn bộ cuộc Thập Tự, cũng mạnh mẽ lên án lên án Quân Thập Tự. Nhưng Ngài gần như chẳng thể làm gì. Các sự kiện bi thảm của 1204 đóng một cánh cửa sắt giữa Công giáo La Mã và Chính thống Hy Lạp, một cánh cửa mà ngay cả ngày nay Đức Giáo Hoàng John Paul II đã không thể mở lại. Nó là một sự mỉa mai khủng khiếp mà các cuộc Thập tự chinh, là kết quả trực tiếp của người Công giáo khi mong muốn phải giải cứu những người Chính Thống, cuối cùng đã khiến cho hai bên phải xa lìa nhau hơn.

Phần còn lại của cuộc Thập tự chinh thế kỷ 13 thì còn thực hiện được tốt hơn một chút. Cuộc Thập Tự Chinh Thứ Năm (1217-1221) đã trụ được một thời gian ngắn và bắt được Damietta ở Ai Cập, nhưng những người Hồi giáo cuối cùng đã đánh bại quân đội và chiếm lại thành phố. St. Louis IX của Pháp đã dẫn đầu hai cuộc Thập tự chinh trong cuộc sống của mình. Việc đầu tiên cũng bắt Damietta, nhưng Louis đã nhanh chóng bị qua mặt bởi những người Ai Cập và buộc phải rời bỏ thành phố. Mặc dù Louis đã ở Đất Thánh trong nhiều năm, chi tiêu xả láng cho các công trình phòng thủ, ông không bao giờ đạt được mong muốn của mình: giải phóng Jerusalem. Khi đã lớn tuổi hơn, vào năm 1270 ông dẫn Crusade khác đến Tunis, ông qua đời vì một dịch bệnh đã tàn phá trại. Sau cái chết của St. Louis, các nhà lãnh đạo Hồi giáo tàn ác, Baybars và Kalavum, tiến hành một cuộc thánh chiến tàn bạo chống lại các Kitô hữu ở Palestine. Năm 1291, các lực lượng Hồi giáo đã thành công trong việc giết chết và  trục xuất  những người cuối cùng của Quân Thập Tự, xoá sổ các vương quốc Công giáo khỏi bản đồ. Mặc dù có nhiều nỗ lực và nhiều kế hoạch hơn, lực lượng Công Giáo đã không bao giờ có thể đạt được một chỗ đứng trong khu vực cho đến thế kỷ thứ 19.

 

Cuộc chiến của châu Âu cho chính nó

Người ta có thể nghĩ rằng ba thế kỷ thất bại, Công Giáo đã làm chua xót ngừoi châu Âu trên nền ý tưởng của cuộc Thập tự chinh. Không hề. Theo một nghĩa nào đó, họ đã có rất ít lựa chọn. Vương quốc Hồi giáo đã trở nên quyền lực hơn chứ không ít đi trong các thế kỷ 14, 15 và 16. Người Thổ Ottoman chinh phục không chỉ người Hồi giáo của họ, do đó tiếp tục thống nhất Hồi giáo, nhưng cũng tiếp tục tiến công về phía tây, chiếm Constantinople và vào sâu chính châu Âu. Đến thế kỷ 15, các cuộc Thập tự chinh đã không còn là chuyện thương xót vặt vẵn, những tình tiết còn sót lại kể về nỗ lực tuyệt vọng của một trong những tàn tích cuối cùng của Kitô giáo để sinh tồn.

Châu Âu bắt đầu suy nghĩ về khả năng thực sự cho rằng Hồi giáo cuối cùng sẽ đạt được mục tiêu của mình để chinh phục toàn bộ thế giới Kitô giáo. Một trong những cuốn sách lớn bán chạy nhất thời gian đó, Sebastian Brant của The Ship of  Fools, đã đưa ra tiếng nói cho tình cảm này trong một chương có tiêu đề “Sự sụt giảm của Đức Tin”:

“Đức tin của chúng tôi vẫn mạnh mẽ ở phía Đông,

Nó trải rộng khắp châu Á,

Cả trong vùng đất Moorish và châu Phi.

Nhưng bây giờ chúng tôi đã mất hết

‘Thậm chí lòng tin trở nên chai đá …

Bốn anh chị em của Giáo hội chúng ta mà bạn nên đi tìm,

Họ là những anh em trưởng:

Constantinople, Alexandria,

Jerusalem, Antiochia.

Nhưng họ đã bị giết hại và bắt bớ

Và những người đứng đầu bị tấn công dã man.”

 

Trong năm 1480, Sultan Mehmed II bắt Otranto, là đầu mối của cuộc xâm lược nước Ý. Rome đã được sơ tán. Tuy nhiên, các quốc vương đã bị giết ngay sau đó, và kế hoạch cũng đã chết cùng họ. Trong 1529, tên lãnh đạo độc tài Suleiman vây hãm Vienna. Nếu không phải vì một bước đi bão táp mà trì hoãn sự tiến bộ đã buộc hắn phải bỏ lại sau lưng nhiều pháo binh của mình, hầu như chắc chắn rằng người Thổ Nhĩ Kỳ đã có thể chiếm lấy thành phố. Đức, sau đó, sẽ có được ở lòng thương xót của họ.

Tuy nhiên, ngay cả khi những tình huống nghẹt thở đã chấm dứt, một thứ khác đã được tích tụ ở châu Âu – một thứ gì đó chưa từng có trong lịch sử nhân loại. Thời kỳ phục hưng, sinh ra từ một hỗn hợp kỳ lạ của các giá trị La Mã, lòng mộ đạo từ thời Trung Cổ, và sự tôn trọng đặc biệt cho thương mại và giới doanh nhân, đã dẫn đến phong trào khác như chủ nghĩa nhân văn, cuộc cách mạng khoa học, và thời đại khai phá. Ngay cả khi chiến đấu cho cuộc sống của mình, Châu Âu đang chuẩn bị để mở rộng trên quy mô toàn cầu. Cải Cách Tin Lành, mà từ chối các giáo hoàng và niềm đam mê các giáo lý, thực hiện cuộc Thập Tự Chinh không thể tưởng tượng cho nhiều người châu Âu, để chiến đấu với người Công giáo.

Năm 1571, một đoàn Thánh, mà bản thân nó là một cuộc thập tự chinh, đánh bại hạm đội Ottoman tại Lepanto. Tuy nhiên, chiến thắng quân sự như thế vẫn hiếm. Các mối đe dọa Hồi giáo đã bị vô hiệu hóa về kinh tế. Khi châu Âu đã tăng trưởng trong sự giàu có và quyền lực, người Thổ Nhĩ Kỳ từng một lần huy hoàng bắt đầu có vẻ trở nên lạc hậu và đáng thương, không còn giá trị như một Crusade. Các “con bệnh của Châu Âu” cũng khập khiễng cùng cho đến thế kỷ 20, để lại đằng sau những lộn xộn của Trung Đông hiện nay.

Qua hàng thế kỷ, sau tất cả, tôn giáo không là gì để có thể chấm dứt các cuộc chiến tranh. Nhưng chúng ta cũng nên lưu tâm rằng, tổ tiên của chúng ta thời ấy đều sẽ phẫn nộ thế nào khi chứng kiến sự tàn phá vô tận của các cuộc chiến – vinh danh các tư tưởng chính trị của chúng ta ngày nay. Họ đều sẵn sàng chịu sự hy sinh to lớn, nếu mục đích nhằm bảo vệ những người thân yêu của họ, một cái gì đó to lớn hơn cả bản thân họ. Cho dù chúng ta có chiêm ngưỡng các Crusaders hay không, có một thực tế rằng thế giới chúng ta biết ngày nay sẽ không tồn tại mà không có nỗ lực của họ. Đức tin cổ xưa của Kitô giáo, với sự tôn trọng của nó đối với phụ nữ và ác cảm đối với chế độ nô lệ, không chỉ sống sót mà còn phát triển rực rỡ. Nếu không có các cuộc Thập Tự Chinh, chúng ta có thể cũng đã theo Hỏa Giáo (một tôn giáo cổ của Ba Tư), đối thủ của Hồi giáo, cho đến khi tuyệt chủng.

Thomas F. Madden, phó giáo sư, trưởng khoa Lịch sử tại Đại học Saint Louis. Ông là tác giả của rất nhiều tác phẩm, trong đó có “The New Concise History of the Crusades với Donald Queller đồng tác giả, “The Fourth Crusade: The Conquest” của Constantinople. Bài viết này xuất hiện trong ấn bản tháng tư năm 2002 của”The Crisis” và được biên tập dưới sự cho phép của tác giả.

—–

Thomas F.Madden,The Real History of the Crusades, Christianity Today

Dịch giả: Ghost & Bé Đỏ @ CAFEKUBUA.COM

Facebook Comments