Cuộc siêu lạm phát của Tưởng Giới Thạch

Cuộc siêu lạm phát của Tưởng Giới Thạch

 

Tác giả: Richard M. Ebeling, The Great Chinese Inflation, FEE (Foundation for Economic Education)

Dịch giả: Ku Búa @ cafekubua.com

 

Cuộc siêu lạm phát Trung Quốc của Tưởng Giới Thạch – Một yếu tố giúp cộng sản chiến thắng

 

Tác hại của lạm phát

Lạm phát làm suy yếu cấu trúc của xã hội và đem đến sự hỗn loạn và cuộc cách mạng. Một trong những ví dụ điển hình là Cuộc Siêu Lạm Phát Trung Quốc của thập niên 1930 và 1940. Đúng vậy, sự sụp đổ của hệ thống tiền tệ Trung Quốc trong giai đoạn này đã giúp phong trào cộng sản của Mao Trạch Đông chiến thắng ở Trung Hoa Đại Lục vào năm 1949.

 

Tiêu chuẩn tiền tệ cổ điển

Trong thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, Đế Quốc Trung Hoa và sau này là Cộng Hòa Trung Hoa không có ngân hàng trung ương. Hệ thống tiền tệ được dựa trên một mạng lưới bao gồm các ngân hàng tư nhân hoạt động ở những vùng khác nhau. Trong khi tiền đồng được sử dụng rộng rãi, phương tiện tiền tệ trao đổi chính là bạc, và cả nền kinh tế Trung Quốc được hoạt động trên một tiêu chuẩn bạc không chính thức trong đa phần thời gian của giai đoạn này. Một năm sau khi Quốc Dân Đảng của Tưởng Giới Thạch lên cầm quyền ở Nam Kinh vào năm 1927, Ngân Hàng Trung Ương Trung Quốc được thành lập với trụ sở chính ở Thượng Hải, và cả nước buột phải chính thức dùng tiền chuẩn bạc-dollar Trung Quốc.

Trong hai năm đầu tiên của Cuộc Đại Suy Thoái, bắt đầu vào năm 1929, Trung Quốc không chỉ đã vượt qua cuộc khủng hoảng kinh tế và tài chính toàn cầu, mà thậm chí còn chứng kiến một sự bùng nổ trong xuất khẩu, với nhiều giá cả nội địa gia tăng trong khi cả thế giới phải chịu đựng nạn giảm phát giá cả. Nhưng vào tháng 9 năm 1931, Vương Quốc Anh (hoặc Anh Quốc) ngưng sử dụng tiêu chuẩn vàng trong tiền tệ và một số nước khác đã tham gia vào việc hạ giá tiền tệ, và đã có những tác hại đến giá trị của đồng tiền bạc-dollar của Trung Quốc trên thị trường ngoại tệ quốc tế.

Điều tồi tệ hơn đã xảy ra vào năm 1933 và 1934, khi, dưới bộ luật kích thích kinh tế New Deal của Tổng Thống Franklin Roosevelt, bạc được tái sử dụng làm chuẩn cho tiền tệ. Chính phủ Mỹ đã có một cuộc mua bạc gấp rút với giá cao hơn giá thị trường thế giới trong việc thúc đẩy sự gia tăng của giá cả ở Hoa Kỳ. Khi giá xuất khẩu của bạc tăng ở trung tâm tài chính Thượng Hải, bạc chảy từ các vùng quê Trung Quốc đến những thành phố cảng ở bờ biển, tiếp theo là một cuộc xuất khẩu lớn của bạc từ Trung Quốc đến Hoa Kỳ. Kết quả là một cuộc giảm phát giá cả cực kỳ lớn đã làm tổn hại nặng ngành nông nghiệp và công nghiệp Trung Quốc.

Vào tháng 10 năm 1935, chính phủ Quốc Dân Đảng đã áp dụng chính sách kiểm soát ngoại hối đến việc xuất khẩu bạc. Sau đó vào tháng 11 năm 1935 Ngân Hàng Trung Ương Trung Quốc đã chính thức bỏ tiêu chuẩn bạc khỏi tiền tệ quốc gia, áp dụng giấy ngân hàng làm tiền tệ trao đổi chính thức, và đưa Trung Quốc trở thành một nước sử dụng tiền giấy với chính phủ nắm toàn quyền kiểm soát chất lượng của đồng tiền. Khi không có một giới hạn về quyền lực nào áp đặt lên chính phủ Trung Quốc với việc họ sử dụng máy in tiền ra sao, chính sách của Ngân Hàng Trung Ương sớm muộn cũng đã dẫn đến một thảm họa tiền tệ, cùng lúc với cuộc chiến với Nhật Bản sắp xảy ra.

 

Chiến tranh

Cuộc chiến giữa Trung Quốc và Nhật Bản đã kéo dài đến tám năm, từ tháng 7 1937 đến tháng 9 1945. Quân Đội Nhật Bản đã chiếm hơn một phần ba Trung Quốc, bao gồm gần như rất cả những thành phố cảng hàng đầu và trung tâm công nghiệp. Trên mười 10 triệu người dân Trung Quốc đã mất mạng trong cuộc chiến đó.

Sự chấm dứt của cuộc chiến đó chỉ tái mở một cuộc nội chiến lâu dài giữa chính phủ Quốc Dân Đảng của Tưởng Giới Thạch và lực lượng cộng sản hùng hậu của Mao Trạch Đông. Cuộc nội chiến đó đã tiếp diễn ở khắp mọi nơi ở Trung Quốc đến bốn năm, cho đến khi quân cộng sản của Mao Trạch Đông đã chiến thắng ở đại lục và phần còn lại của Quân Đội Quốc Dân của Tưởng Giới Thạch đã rút lui đến Đài Loan vào cuối năm 1949. Thêm 5 triệu người dân vô tội đã mất mạng trong cuộc nội chiến đó.

 

In tiền để chi trả ngân sách

Trong những năm chiến tranh đó, chính phủ của Tưởng Giới Thạch đã dùng đến cái máy in tiền để chi trả cho phần lớn chi tiêu hàng năm của mình, gồm 65 đến 80 phần trăm của chi tiêu hàng năm được chi trả bằng việc in tiền.

Trong những năm nội chiến giữa 1946 đến 1949, lượng tiền được in đã chiếm 50 đến 65 phần trăm của ngân sách chính phủ.

Khi chiến tranh với Nhật Bản bắt đầu vào năm 1937, tổng lượng tiền lưu thông (tiền mặt và tiền gửi tiết kiệm) là 3.6 tỷ Nhân Dân Tệ (NDT). Đến tháng 12 1941, khi Hoa Kỳ tham gia cuộc chiến, số lượng tiền của Trung Quốc đã tăng lên 22.8 tỷ NDT. Trong những năm còn lại của cuộc chiến những con số là:

  • 1942: 50.8 tỷ NDT
  • 1943: 100.2 tỷ NDT
  • 1944: 275 tỷ NDT
  • 1945: 1,506.6 tỷ NDT

Cuộc nội chiến đã đem đến một mức lạm phát tồi tệ hơn. Đến cuối năm 1946, số lượng tiền đã tăng lên 9,181.6 tỷ NDT. Con số này đã tăng gấp sáu lần đến 60.965.5 tỷ NDT vào tháng 12 1947. Bảy tháng sau, vào tháng 7 1948, số lượng tiền đã được nới rộng đến 399,091.6 tỷ NDT.

7021

Lạm phát – Một loại tiền tệ mới

Chính phủ Trung Quốc đã tạo ra một loại Nhân Dân tệ mới để thay thế đồng tiền Nhân Dân Tệ cũ, vốn đã mất giá trị, với mức trao đổi là 3 triệu NDT cũ cho 1 NDT mới. Vào tháng 9 1948, số lượng tiền mới đứng ở mức 296.82 tỷ NDT.

Nhưng cái máy in tiền của chính phủ đã được sử dụng một lần nữa, và đến tháng 12 1948, số lượng tiền cho đồng NDT mới này là 8,186.33 tỷ NDT. Bốn tháng sau đó, vào tháng 4 1949, con số đó được tăng lên đến 5,161,240 tỷ NDT.

Từ năm 1937 đến 1949, giá cả đã tăng chóng mặt nhưng ở những mức độ khác nhau ở các vùng ở Trung Quốc, vì những sự khan hiếm và tiêu tàn của chiến tranh, và sự tác động không đồng đều của sự nới rộng trong số lượng tiền tệ. Như một chỉ số không thông dụng, chúng ta có thể dùng chỉ số giá bán sỉ của Thượng Hải trong thời điểm này, với tháng 5 1937 bằng 1.

Đến cuối năm 1941, chỉ số bán sỉ Thượng Hải ở mức 15.98. Đến tháng 12 1945 nó đã lên đến 177,088. Và đến cuối năm 1947 nó đã là 16,759,000. Vào tháng 12 1948 chỉ số đã tăng lên 36,788,000,000 và vào tháng 4 1949, nó là 151,733,000,000,000.

Giá trị của đồng tiền giấy của Trung Quốc trên thị trường ngoại tệ đã phản ánh sự suy giảm lớn này.

  • Vào tháng 6 1937, 3.41 NDT được giao dịch để đổi lấy 1 USD.
  • Đến tháng 12 1941, trên thị trường chợ đen tỷ giá là 18.93 NDT cho 1 USD.
  • Cuối năm 1945, đồng NDT đã giảm xuống 1,222 cho 1 USD.
  • Và đến tháng 5 1949, 1 USD được đổi lấy 23,280,000 NDT.

Inflació_utan_1946

Kết luận

Sẽ là một nhận xét quá đáng nếu cho rằng Cuộc Siêu Lạm Phát của Trung Quốc là nguyên nhân chính dẫn đến sự thất bại của chính phủ Quốc Dân Đảng và chiến thắng cho quân cộng sản Trung Quốc. Quốc Dân Đảng là một đảng độc tài theo cấu trúc chính trị, khét tiếng về tham nhũng và sự lạm quyền chính trị, và nhiều lúc cũng tàn bạo như cộng sản trong việc sử dụng lực lượng quân sự.

Nhưng cho dù nói gì đi nữa thì cuộc lạm phát đó cũng đã có tác động tiêu cực đến sự ủng hộ của chính phủ Quốc Dân Đảng của Tưởng Giới Thạch trong việc chống lại quân cộng sản. Nó, Cuộc Siêu Lạm Phát, đã hủy diệt của cải của giới trung lưu của Trung Quốc và đẩy vài phần trong dân số nông thôn vào nghèo đói. Trong và sau cuộc chiến, chính phủ đã áp đặt những mức giá và lương phi lý và bất khả thi và nó chỉ thành công trong việc tạo ra nhiều hơn những xuyên tạc và mất cân bằng trong toàn nền kinh tế Trung Quốc.

china(1)

Richard M. Ebeling là BB & T Giáo Sư Tiêu Biểu của Khóa Đạo Đức và Sự Lãnh Đạo của Thị Trường Tự Do tại The Citadel ở thành phố Charleson, bang South Carolina. Ông ta là Chủ Tịch của Viện Giáo Dục Kinh Tế (Foundation for Economic Education, FEE) từ 2003 to 2008.

Facebook Comments