Một cuốn sách về Chủ Nghĩa Tư Bản – Chương 5 Phần 2

Một cuốn sách về Chủ Nghĩa Tư Bản

Tác giả: Robert P. Murphy, Political Incorrect Guide to Capitalism

Dịch giả: Ku Búa @ cafekubua.com

Chương 05 – Nô lệ: một sản phẩm của chủ nghĩa tư bản hay của chính phủ? – Phần 2

 

Nô lệ: Thất đức, đúng, nhưng cũng kém hiệu quả!

 

Sự khác biệt cơ bản giữa lao động tự do và lao động nô lệ chính là những người tự do có một động lực để sản xuất càng nhiều càng tốt. Người nô lệ, thì ngược lại, thường thì sẽ làm việc với công sức tối thiểu và cần thiết để không bị trừng phạt. Vì chính lý do này những người lao động nô lệ, xét về mặt tổ chức, hoạt động kém hơn so với một nền kinh tế dựa trên lao động tự do – thậm chí từ quan điểm của những người không phải là nô lệ. Như Ludwig von Mises đã viết:

“Cái giá phải trả để mua một người nô lệ được quyết định bởi năng suất được dự kiến từ công việc của họ, cũng như cái giá phải trả cho một con bò được quyết định bởi năng suất dự kiến từ việc chăn nuôi nó. Người chủ của một người nô lệ không sở hữu một doanh thu cụ thể nào hết.

Đối với anh ta không có một sự “bốc lột” nào đến từ việc không trả lương cho người nô lệ. Nếu một người đối xử với những người khác như những con bò, thì anh ta không thể lấy đi năng suất cao hơn từ người lao động đó hơn việc anh ta chăn nuôi một đàn bò. Nhưng sau đó việc đó trở nên quan trọng hơn vì một con người yếu kém hơn một con trâu và ngựa và việc phải nuôi dưỡng một người nô lệ, khi so với năng suất làm việc có thể thu lại được, thường tốn kém hơn việc nuôi dưỡng một đàn bò. … Nếu ai đó đòi hỏi bất cứ điều gì từ một người lao động không tự do, thì người đó phải cung cấp cho anh ta một nguyên nhân chính đáng.”

 

Và, như Mises chỉ ra, lao động tự do và cạnh tranh sẽ luôn sản xuất những sản phẩm tốt hơn lao động nô lệ, một nền kinh tế thị trường tự do sẽ luôn luôn hoạt động tốt hơn một nền kinh tế nô lệ, và một nền kinh tế nô lệ đơn giản không thể cạnh tranh trong một thị trường mà coi trọng những sản phẩm có chất lượng tốt.

Nhưng có đúng hay không việc chính phủ Liên Bang vì lòng nhân ái đã giải phóng những người nô lệ? Đúng, nhưng chỉ vì những chính phủ tiểu bang khác đã duy trì nô lệ một cách giả tạo qua các bộ luật ở miền nam nước Mỹ. (Một điểm nhỏ khác: hãy chú ý đến việc các nước khác ngoài nước Mỹ đã không cần một cuộc nội chiến để giải phóng các người nô lệ, chế độ nô lệ đã tàn phai trong hòa bình khi Chủ Nghĩa Tư Bản lan rộng ra khắp thế giới.)

Nếu nô lệ đem lại mức lợi nhuận hấp dẫn đến những người chủ, thì tại sao nền kinh tế thị trường của miền bắc nước Mỹ lại thắng áp đảo nền kinh tế nô lệ của miền nam nước Mỹ? Tại sao hạm đội của quân Liên Bang đã bao vây miền nam và các nhà máy miền bắc đã sản xuất ra nhiều dụng cụ cho quân đội hơn, thay vì ngược lại? Đúng là thời điểm đó có rất nhiều nhà tài phiệt miền nam và nhiều thành phố giàu có ở miền nam, nhưng nền kinh tế lao động tự do của miền bắc và sự tập trung của nó vào đầu tư sản xuất đã biến nó thành một người khổng lồ so với vùng quê lạc hậu của miền nam. Cũng tương tự như Châu Âu và Hoa Kỳ là hai khối kinh tế cường thịnh so với các nền kinh tế nông nghiệp của thế giới.

Mối tương quan giữa nô lệ và nghèo đói không giới hạn chỉ ở miền nam thôi, mà còn xảy ra ở khắp nơi trên thế giới:

Cả phe bênh vực cánh hữu và phe chỉ trích cực đoạn của nền văn minh Tây Phương đã cố gắng chứng minh rằng nô lệ đã là một trong những yếu tố cống hiến đến sự phát triển kinh tế và văn hóa của Tây Phương.

Không có một quốc gia Tây Phương nào đã dùng nô lệ nhiều hơn Brazil. Tuy nhiên, khi Brazil đã trở thành quốc gia cuối cùng để hủy bỏ nô lệ vào năm 1888, Brazil vẫn là một quốc gia kém phát triển. Sự phát triển công nghiệp và thương mại sau này của Brazil phần lớn là nhờ những người di dân Châu Âu, những người đã góp sức xây dựng một nền kinh tế tổng quát và bền vững hơn chỉ trong hai thế hệ hơn so những thế kỷ của nền kinh tế nô lệ……Ở Châu Âu, chính những quốc gia phía tây của châu lục, nơi mà nô lệ đã được hủy bỏ, đã dẫn dắt Châu Âu và thế giới vào trong thời đại công nghiệp hiện đại.

 

Sự tăng giá của nô lệ

Những ai chối bỏ việc một nên kinh tế tự do sẽ hủy bỏ nô lệ có một con át chủ bài: tổng giá trị của tất cả người nô lệ ở Hoa Kỳ đã đạt tới đỉnh cao (nghĩa là qua mặt giá trị của các đường sắt quốc gia, theo vài tác giả) ngay lập tức trước sự bắt đầu của cuộc Nội Chiến Mỹ. Vì vậy, việc đó cho rằng nô lệ đã hoạt động rất tốt, và nó sẽ tiếp tục cho đến vô tận nếu quân đội Liên Bang đã không can thiệp?

Thực ra thì không. Nhứ nhất, chúng ta phải nhận ra rằng giá trị gia tăng của nô lệ phù hợp với việc hệ thống nô lệ hoạt động rất kém hiệu quả và nó sẽ không tồn tại được lâu trong một thị trường tự do thật sự. Khi một nhà kinh tế học nói rằng lao động nô lệ hoạt động không hiệu quả, anh ta luôn luôn so nó với lao động tự do. Điều đó không cho rằng năng suất ở miền nam sẽ cao hơn nếu tất cả nô lệ đột xuất biến mất hoặc chết đi, mà là năng suất sẽ cao hơn nếu tất cả nô lệ được tự do và cho phép bán sức lao động của họ cho những người chủ họ lựa chọn.

Thời gian trôi qua, với sự phát hiện của những kỹ thuật và trình độ máy móc và hàng hóa khác, năng suất lao động con người – của cả tự do lẫn nô lệ – đã tăng. Sự tiến bộ trong y học, dinh dưỡng, và nhiều thứ khác cũng đã làm tăng tuổi thọ. Khi một người nô lệ đại diện cho một tuổi đời lao động, thì không có gì bất ngờ khi giá trị thị trường của người đó không tăng theo theo thời gian. Nói thật, từ năm 1820 đến 1856 giá thị trường của một người nô lệ nam chất lượng cao ở bang New Orleans đã tăng từ $850 đến hơn $1,200. Nhưng trong cùng giai đoạn đó, mức lương hàng ngày cho một người lao động không tay nghề ở những bang vùng South Central đã tăng $0.73 đến gần $0.95. Vì vậy chúng ta có thể cho rằng trong sự gia tăng gần 41% của giá của một người nô lệ, gần 30% là vì sự gia tăng của năng suất lao động nói chung.

Sự tăng giá của người nô lệ nói riêng không có nghĩa gì. Vấn đề đang tranh cãi chính là việc lao động nô lệ có hiệu quả hơn lao động tự do hay không, và để thử điều này chúng ta sẽ so sánh (một cách tối thiểu) sự gia tăng của giá trị nô lệ và sự tăng trưởng của mức lương, và điều chỉnh nó với sự gia tăng của tuổi thọ dự tính cũng như những sự thay đổi của mức lãi suất. Nếu lý tưởng, chúng ta sẽ muốn so sánh mức lợi nhuận của hai doanh nghiệp tương đương với nhau về mọi mặt trừ việc một doanh nghiệp thuê lao động nô lệ và doanh nghiệp kia thuê lao động tự do. Và những phân tích thống kê muốn đo sự thành công của nô lệ sẽ phải tính đến chi phí hành chính của chính phủ trong việc duy trì nô lệ.

 

Nếu nô lệ không hiệu quả, thì tại sao nó lại tồn tại?

Câu hỏi này cũng như hỏi, “Nếu tất cả chúng ta đều đồng ý rằng chiến tranh là địa ngục, thì tại sao con người lại tiếp tục gây chiến với nhau?” Sự thật đau lòng là, con người được thúc đẩy bởi nhiều yếu tố xấu mà làm chúng ta nghèo hơn so với dự tính. Ngoài thực tế này của nhân tính thì còn điều này nữa: con người sẽ luôn luôn vận động chính phủ để có những quyền lợi riêng, mặc dù tất cả mọi người sẽ khá giả hơn nếu tất cả những quyền lợi riêng đó được xóa bỏ. Chế độ nô lệ cũng chỉ là một hậu quả kinh hoàng của thực tế này.

 

[Chương 5 – Hết]

Facebook Comments