Một cuốn sách về Chủ Nghĩa Tư Bản – Chương 5 Phần 1

Một cuốn sách về Chủ Nghĩa Tư Bản

Tác giả: Robert P. Murphy, Political Incorrect Guide to Capitalism

Dịch giả: Ku Búa @ cafekubua.com

 

Chương 05 – Nô lệ: một sản phẩm của chủ nghĩa tư bản hay của chính phủ? – Phần 1 &2

Đối với một số đọc giả, lập trường của chương vừa rồi – rằng thị trường tự do tư bản là thuốc để trị nạn phân biệt chủng tộc và giới tính – nghe có vẻ khó thuyết phục. Suy cho cùng, họ có thể sẽ nghĩ rằng, “chứ không phải nô lệ là một sản phẩm của Chủ Nghĩa Tư Bản sao?” Thái độ này được trích dẫn trong danh ngôn của Jenny Wahl trong cuốn Lịch Sử Kinh Tế Học (Economic History) ở phần về nô lệ:

Nô lệ xét về bản chất là một hiện tượng kinh tế. Trong lịch sử, nô lệ đã tồn tại ở những nơi các nhà cầm quyền có được lợi ích kinh tế từ nó. Ví dụ điển hình trong lch sử hiện đại là ở miền nam nước Mỹ. Nơi có gần 4 triệu nô lệ với giá trị thị trường gần $4 tỷ USD trước cuộc Nội Chiến Mỹ. Các chủ nô lệ đã tận hưởng mức lợi nhuận cao hơn những kênh đầu tư tài sản khác. Những người tiêu dùng bông gòn, các công ty bảo hiểm và các doanh nghiệp thời đó đã hưởng lợi rất nhiều từ nô lệ.

Có rất nhiều lời tuyên bố cho rằng nô lệ rất hiệu quả về mặt kinh tế. Ví dụ như tác phẩm ‘Time On the Cross: The Economics of American Negro

Slavery’ của Robert William Fogel and Stanley

  1. Engerman’s.

 

Chính phủ bảo vệ nô lệ

Mặc cho thái độ thông thường này, nếu chúng ta xét kỹ hơn sẽ thấy được rằng Chủ Nghĩa Tư Bản đã mang tiếng xấu vì chính chính phủ mới là người đã can thiệp và chống đỡ các tổ chức nô lệ. Rõ ràng nhất là các biện pháp như bộ luật chống nô lệ trốn tranh (bắt đầu vào năm 1793). Bộ luật này dùng tiền thuế của nhân dân để truy nã và đem trả lại “tài sản” của vài người chủ nông trại. Ở trong trường hợp này, cũng như trong bao lĩnh vực khác, các nhà sản xuất có mối quan hệ thân thiết với chính quyền đã làm tăng mức phí duy trì hoạt động thương mại của họ và bắt các công dân khác phải gánh chịu.

Lựa chọn các thanh niên vào việc tuần tra nô lệ cũng là một cách các chính phủ miền Nam đã dùng để đẩy chi phí duy trì nô lệ lên những người đóng thuế với mục đích và giảm chi phí cho những người sở hữu nô lệ. Như được mô tả bởi nhà kinh tế học Mark Thornton, “bộ luật tuần tra yêu cầu tất cả các đàn ông da trắng phải tham gia vào những buổi tuần tra no lệ. Những ai không tham gia vào các buổi tuần tra hoặc thi hành nhiệm vụ đã được ban sẽ đối mặt với những mức phạt.”

Những bộ luật khác làm giảm bớt việc cấp tự do cho nô lệ và cấm người nô lệ được giáo dục cũng ảnh hưởng đến sự hoạt động bình thường của cơ chế thị trường. Bài viết của Wahl đã trích dẫn nhiều sự can thiệp khác vào động cơ của thị trường, trong đó gồm có những bộ luật yêu cầu các chủ nô lệ phải bảo đảm rằng những nô lệ được thả tự do sẽ không trẻ thành gánh nặng cho xã hội, hoặc bắt buộc chủ nô lệ phải thả tự do cho nô lệ của họ ở tiểu bang khác, hoặc ngăn chặn việc các nô lệ làm việc cho người khác.

 

Chế độ nô lệ đang giảm trước khi chính phủ can thiệp

Buồn cười thay, những sự can thiệp của chính phủ đã làm gián đoạn các động cơ của thị trường, những thứ có thể đã xóa bỏ nô lệ trong hòa bình theo từng bước một. Dựa theo Thornton, “Dựa vào các cuộc điều tra dân số giữa năm 1790 và 1800, số người da đen tự do ở Mỹ đã tăng trên 82% và trong các tiểu bang ở miền Nam thì trên 97%. Tổng số người da đen tự do đã tăng từ 8.5% đến gần 16% vào giai đoạn 1970 và 1810.” Tuy nhiên, khi các tiểu bang thành lập đội tuần tra nô lệ và ban hành những giới hạn việc thả tự do cho nô lệ (người chủ thậm chí có lợi ích kinh tế để cho các nô lệ được quyền mua sự tự do của họ) thì “sự gia tăng trong dân số người da đen tự do đã giảm, thấp hơn mức gia tăng của nô lệ và giảm xuống thành tiểu số trong thập niên trước Cuộc Nội Chiến Mỹ.

 

 

Facebook Comments