Một cuốn sách về Chủ Nghĩa Tư Bản – Chương 4 Phần 3

poli

Một cuốn sách về Chủ Nghĩa Tư Bản

Tác giả: Robert P. Murphy, Political Incorrect Guide to Capitalism

Dịch giả: Ku Búa @ cafekubua.com

Chương 04 – Một lập luận phản đối bộ luật chống phân biệt đối xử (Quyền để được phân biệt đối xử) – Phần 3

Mọi thứ đều tốt đẹp?

Thông thường, một đọc giả tin rằng sự thịnh hành của nạn phân biệt chủng tộc và giới tính sẽ cho rằng bài phân tích này điên khùng, vì nó trông như đang phản bác một logic không thể chối bỏ được trong mắt một người bình thường. Nhưng vấn đề không phải là lập luận trên. Thật không may, cả nước Mỹ và các nước khác đều không có một thị trường lao động tự do thật sự, nên chúng ta không thể dựa vào những động cơ của thị trường để xóa bỏ những sự phân biệt và bất công đang đụng chạm đến nhiều người.

Có điều khó hiểu là vì sao những người có lập trường chính trị cánh trái lại tin tưởng vào chính phủ để cải cách một xã hội bất công. Suy cho cùng, bất cứ một định kiến nào của người dân sẽ được phản ảnh bởi những cán bộ chính trị họ bình chọn. Sự khác biệt duy nhất là các cán bộ đó không phải đối mặt với những hình phạt của thị trường tự do như các nhà tuyển dụng nếu làm điều tương tự. Cũng tương tự, những rào cản và hành động tham nhũng đều nguy hiểm hơn trong các cơ quan chính phủ hơn doanh nghiệp tư nhân, bởi vì những cổ đông có động cơ lớn hơn những cán bộ để hạn chế tham nhũng và phung phí.

Đúng vậy, những quyết định tuyển dụng tồi tệ và bất công nhất trong lịch sử – như sự kết tội của giới trí thức trong Cuộc Cách Mạng Văn Hóa Trung Hoa hoặc bộ luật kỳ thị người Do Thái Nuremberg của Đức Quốc Xã – đã xảy ra bằng bàn tay của chính phủ. Chủ Tịch Mao và Hitler đã có những quyết định đó bởi vì họ được bảo vệ từ chế độ nên không phải chịu trách nhiệm cho những hậu quả. Ngược lại, cho dù ông ta có bất cứ định kiến gì, Bill Gates sẽ không bao giờ có quyết định sa thải tất cả những kỹ sư phần mềm của ông ta nếu họ có những quan điểm chính trị đối lập, hoặc có tôn giáo khác. Nếu xảy ra, quyết định sa thải đó sẽ gây quá nhiều thiệt hại. Ông ta sẽ phải trả một cái giá kinh tế rất lớn khi các nhân viên tài ba người Do Thái và những người có lập trường chính trị cánh phải chạy sang làm việc cho các đổi thủ của ông. Có một điều rất rõ ràng, những hệ thống phân biệt đối xử, như hệ thống phân biệt apartheid ở Nam Phi hoặc bộ luật phân biệt người da đen Jim Crow ở miền nam nước Mỹ, đều được thành lập bởi chính phủ.

Một điều nữa để xem xét là vai trò của các công đoàn lao động. Khi chính phủ đồng ý và chấp nhận những yêu cầu của công đoàn, chúng ta không còn có một thị trường lao động tự do nữa, và vì vậy chúng ta không còn tin vào những động cơ của thị trường để trừng phạt nạn phân biệt đối xử.

Ví dụ, trong một thị trường tự do thật sự, một nhà thầu sẽ không có một lý do tài chính nào để ưu ái người công nhân da trắng hơn người da đen. Cho dù những người công nhân da trắng có kinh nghiệm hơn, những công nhân da đen có thể cạnh tranh bằng cách nhận lương thấp hơn, khiến họ trở nên hấp dẫn để nhận hơn, ít nhất là cho những công việc yêu cầu tay nghề thấp.

Người da đen sẽ có vị thế ngang với người da trắng khi tìm việc làm bởi vì họ cạnh tranh với nhau bằng giá cả. Nhưng nếu công đoàn (nói ví dụ, có đa số thành viên người da trắng) được quyền đình công và ngăn cản bất cứ ai không chịu gia nhập, thì các nhà thầu xây dựng không có lựa chọn nào khác ngoài việc phải thuê những công nhân da trắng của công đoàn. Trong trường hợp này, những người công nhân da đen không nằm trong công đoàn đó sẽ bị đẩy ra khỏi thị trường.

Đây không phải là những suy đoán viển vông. Bộ luật Davis-Bacon 1931 yêu cầu tất cả những dự án của chính phủ liên bang Mỹ phải trả lương thỏa đáng với mức sống địa phương. Bộ luật đó thân công nhân lao động, nhưng rất nhiều nhà phê bình cho rằng nó là một cách để ngăn chặn các dự án thuê những công nhân xây dựng da đen. Thực tế, bộ luật đó cấm các công nhân da đen cạnh tranh với người da trắng bằng cách nhận làm với lương ít hơn, và vì thế các chủ thầu chỉ đưa hợp dồng xây dựng cho những công đoàn người da trắng, nhưng nếu nhìn từ bên ngoài thì hành động phân biệt này không dễ thấy.

Phụ nữ cũng bị thiệt hại bởi những bộ luật thân lao động. Một trong những bộ luật đảo chính của chính quyền Bill Clinton, Bộ Luật Family and Medical Leave (FMLA) 1993, bảo đảm cho người lao động đến mười hai tuần nghỉ việc không lương mỗi năm để chăm sóc đứa con mới sinh của mình, người thân bị bệnh, cha mẹ bị bệnh, vân vân. Nhà tuyển dụng phải giữ công việc của công nhân lại, hoặc cung cấp một công việc tương tự khi người đó đi làm trở lại. Thêm nữa, mặc dù ngảy nghỉ là không được trả lương, người công nhân vẫn được hưởng những lợi ích như bảo hiểm y tế từ nhà tuyển dụng.

Vậy thì bộ luật FMLA có tác động gì đến thị trường lao động? Tác động rõ ràng và nhanh chóng nhất là sự suy giảm của lương bổng. Cho dù đó là một việc đúng, không một ai có thể phủ nhận rằng việc rất tốn kém cho nhà tuyển dụng khi phải cung cấp sự linh hoạt đó cho người đi làm. Bây giờ, vì một doanh nghiệp không thể thuê một người lao động nếu nó dự tính sẽ mất tiền trong thương vụ đó, thì cái phí bổ sung đó phải được bù đắp lại bằng việc giảm lương bổng.

Ngoài tác dụng này, có một vấn đề tiềm ẩn nữa. Mặc dù ngôn từ của bộ luật FMLA không phân biệt nam hay nữ. Nhưng dựa theo bộ luật đó, các người cha mới cũng được hưởng những quyền lợi như người mẹ để tạm nghỉ việc mười hai tuần để chăm sóc em bé. Các nhà tuyển dụng biết rằng những ứng cử viên nữ giới đã kết hôn sẽ đòi các lợi ích đó nhiều hơn nam giới, dựa theo thông kế trong quá khứ. Vì vậy, bộ luật FMLA đã gián tiếp và trực tiếp làm giảm lương bổng của phụ nữ khi so sánh với đàn ông, nhất là lương bổng của những phụ nữ đã kết hôn, vì bộ luật đó biến họ thành những gánh gặng tài chính cho doanh nghiệp.

Có một cái từ/tên để gọi hậu quả này – đó là quy luật của hậu quả ngoài ý muốn. Trừ khi chúng ta nghĩ rằng mục đích gián tiếp của bộ luật FMLA là để ngăn chặn phụ nữ kết hôn và sinh con.

[Chương 4 – Hết]

Facebook Comments