Một cuốn sách về Chủ Nghĩa Tư Bản – Chương 3 Phần 1

poli

Một cuốn sách về Chủ Nghĩa Tư Bản

 

Tác giả: Robert P. Murphy, Political Incorrect Guide to Capitalism

Dịch giả: Ku Búa @ cafekubua.com

 

Chương 03 – Những bất công trong thị trường lao động

 

Chúng ta biết rằng lực cung và cầu định giá cho những chiếc máy radio và kem que. Nhưng bạn có biết rằng lực cung và cầu cũng định giá lương bổng luôn không? Mức lương một giờ của bạn với công việc là một người lao động là cái mức bạn tính cho ”sản phẩm” của mình – sức lao động của bạn – cũng như giá của một ổ bánh mì một người bán bánh mì ven đường tính cho công lao và sản phẩm của anh ta.

Winnie-the-pooh-rich-getting-rich-cartoon-teeter_totter_1_Percent

Vận động viên bóng chày kiếm nhiều tiền hơn giáo viên? Sự ưu tiên của chúng ta đâu rồi?

Bất cứ lúc nào khi một vận động viên đỉnh cao phàn nàn về mức lương của anh ta, chúng ta ngay lập tức rên rỉ về hệ thống thị trường tự do tồi tệ của nước Mỹ. Sự ưu tiên của chúng ta đâu, khi những giáo viên trung học chỉ được trả $40,000 để dạy toán cho thế hệ sau, nhưng một vận động viên lắm mồm đòi hòi mức lương $2 triệu để ném một trái bóng?

Nhưng thị trường tự do không định giá dựa theo giá trị đạo đức. Hãy tưởng tượng nếu có ai đó nói, ”Đất nước này thật kinh tởm. Một phiên bản chép của Thánh Kinh chỉ có giá $5, nhưng một máy chơi game điện tử Nintendo GameCube có giá thị trường gấp 60 lần mức giá kia. Sự ưu tiên chúng chúng ta đâu rồi?”

Tôi nghĩ chúng ta đều phải cho rằng quan điểm đó thật nực cười nếu dùng phương pháp đó để đo lượng giá trị đạo đức của hai sản phẩm, và đó cũng là tại sao không một ai thích nói về vấn đề này. Nhưng nguyên tắc đó vẫn đúng khi áp dụng đến giá lao động.

Các nhà kinh tế học nhiều lúc minh họa khái niệm này bằng nghịch biện ”nước và kim cương.” Nó như thế này: nếu xét về mức độ cần thiết, nước là một thứ cần thiết cho cuộc sống, trong khi đó kim cương chỉ là một vật xa xỉ. Nhưng xét về mặt giá trị giao dịch, nước gần như không có giá trị còn kim cương thì rất có giá.

Các nhà kinh tế học có một luật để giải thích khái niệm hiển nhiên này: hàng hóa được định giá dựa theo mức hữu dụng của nó. Nói cách khác, chúng ta không bao giờ chọn giữa tất cả số lượng nước trên thế giới và tất cả các kim cương trên thế giới. Nếu phải chọn thì chúng ta dĩ nhiên sẽ chọn nước thay vì kim cương rồi. Nhưng nếu tôi lấy đi một chai nước của bạn, bạn có thể thay thế nó một cách dễ dàng. Bạn có thể lấy một chai khác từ tủ lạnh hoặc vòi uống nước. Nhưng nếu tôi lấy đi chiếc nhẫn kim cương của bạn, thì rất khó để bạn có thể thay thế dễ dàng như nước.

Nguyên tắc đó cũng được áp dụng đến những mức giá của lao động. Rất đúng, nếu chúng ta phải chọn giữa tất cả các giáo viên trung học và tất cả các vận động viên bóng chày, chúng ta sẽ giá trị giáo viên hơn. Nhưng điều này không liên quan gì đến giá trị dịch vụ của một giáo viên trung học với dịch vụ của một vận động viên chuyên nghiệp. Chúng ta có thể thay thế một giáo viên rất dễ dàng, có rất nhiều người trong dân số có đủ khả năng để đáp ứng như cầu để trở thành giáo viên, nếu cần. Ngược lại, có rất ít người có thể làm những động tác và có những tài năng của vận động viên chuyên nghiệp.

Có một điều không hợp lý cho lắm trong sự phàn nàn về mức lương của các vận động viên chuyên nghiệp. Đừng để những người tin vào triết lý của Marx nhắc cho chúng ta nhớ rằng, trong một xã hội công bằng, những người lao động nhận được tất cả sản phẩm của sức lao động của họ. Nếu vận động viên bóng rổ Micharl Jordan được đội Chicago Bulls thuê và đội đó kiếm thêm $25 triệu doanh thu hàng năm (từ việc số vé tăng, thu nhập từ quảng cáo tăng), thì tại sao Michael Jordan không nên được trả lương xứng đáng chứ? Việc yêu cầu anh ta phải trả ít hơn chỉ có nghĩa là giá trị anh ta làm ra bị mất vào túi của các nhà đầu tư của đội bóng.

ss-risk-versus-reward

Các CEO (Tổng Giám Đốc) tệ cũng xứng đáng với mức lương cao

Những nhà phê bình của thị trường tự do không phản đối mức lương bổng cao, nếu một giám đốc sáng tạo có cách để làm giảm chi phí và tăng doanh thu, thì điều đó được ủng hộ, các cổ đông có thể trả người CEO đó hàng triệu đô. Lý do là, suy cho cùng, các CEO có lương cao vì họ được mọi người kỳ vọng sẽ đem về mức lợi nhuận cao. Nhưng còn những vụ được truyền thông nhắc đến về những CEO đã thất bại nhưng vẫn nhận mức lương hàng triệu đô sau khi bị sa thải thì sao?

Trước khi phân tích những trường hợp thiểu số này, hãy nghĩ đến một trường hợp đơn giản hơn.

Hãy tưởng tượng tập đoàn Philip Morris quyết định phát triển một điếu thuốc không có chất thuốc lá. Theo lẽ tự nhiên, một sản phẩm lý tưởng như vậy sẽ cần một dự án quảng cáo và quan hệ công chúng lớn để bắt đầu. Để giải quyết vấn đề này, Philip Morris ký hợp đồng với một công ty quảng cáo, tiêu hàng trăm ngàn đô vào quảng cáo, âm nhạc và lên kế hoạch. Dù mọi người đã cố gắng hết sức, sản phẩm được phát triển đã thất bại và Philip Morris phải ngưng sản xuất chỉ sau ba tuần.

Cuối cùng, hãy tưởng tượng nếu Philip Morris đến công ty quảng cáo và nói: “Xin hãy trả tiền lại cho chúng tôi. Chúng tôi mướn các anh để tăng doanh thu cho sản phẩm, và các anh đã thất bại trong việc đó. Vì các anh đã cho chúng tôi một dịch vụ vô dụng, chúng tôi không cần phải trả các anh một xu nào.”

Theo lẽ tự nhiên, công ty quảng cáo đó sẽ cười vào lời đề nghị này và đưa bản hợp đồng cho bên Philip Morris coi. Bản hợp đồng không nói gì đến việc họ sẽ phải hoàn tiền nếu sản phẩm thất bại.

Nhưng hãy tiếp tục phân tích một bước xa hơn nữa. Tại sao công ty quảng cáo lại nhất định phải có hợp đồng ngay từ ban đầu? Tại sao họ lại không đồng ý việc trả lương chỉ khi dự án thành công? Họ không tin vào khả năng của chính họ?

Sau một hồi suy ngẫm, câu trả lời rất đơn giản. Công ty quảng cáo không chắc chắn về sự thành công của dự án. Nếu công ty quảng cáo bị giới hạn chỉ được nhận theo phần trăm của lợi nhuận từ chiến dịch quảng cáo, họ sẽ không bao giờ đồng ý để làm việc cho một dự án không đảm bảo (hoặc sẽ làm nếu được nhận mức phần trăm cao).

Vì những động lực và sự kiểm soát của kết quả của sản phẩm, các doanh nghiệp thường chọn cách trả phí cố định cho công ty quảng cáo, như họ trả lương cố định cho những công nhân nhà máy sản xuất và chấp nhận rủi ro riêng. Nếu sản phẩm thành công, doanh nghiệp thu lợi nhuận. Nhưng nếu sản phẩm đó thất bại, doanh nghiệp phải chịu số tiền đã trả cho quảng cáo và những thứ khác.

risk-ceo

Nguyên tắc tương tự cũng được áp dụng khi các cổ đông thuê một CEO. Không giống như những việc quản lý tổng quát khác, nhiệm vụ của một CEO nhiều lúc yêu cầu sự thay đổi rất mạo hiểm. Nếu những bước thay đổi cần thiết để đổi mới một công ty và tăng lợi nhuận là những điều hiển nhiên, thì công ty không phải ở trong tình trạng lâm nguy như trước khi thuê một CEO mới.

Khi một CEO nhận việc với một kế hoạch táo bạo, anh ta biết rằng thất bại đều khả thi. Nếu các cổ đông nói, ”’Chúng tôi sẽ trả anh $20 triệu nếu anh thành công, nhưng sẽ không trả gì nếu anh thất bại,” thì điều lệ này sẽ không hấp dẫn lắm để có thể thu hút một CEO tài năng đến làm việc.

Vì những người được chọn để điều hành một doanh nghiệp lớn có thể kiếm hàng trăm ngàn đô, nếu không phải là hàng triệu, một cách dễ dàng bằng cách tư vấn hoặc làm những dịch vụ khác thay vì làm CEO.

Không có ai phản đối khi một hãng sản xuất xe hơi nói với các công nhân của họ rằng, ”Chúng tôi sẽ trả bạn $50,000 (lương cộng với thưởng $5,000) nếu những chiếc xe hơi bán chạy trong năm này. Nhưng chúng tôi sẽ chỉ trả bạn $45,000 (không thưởng) nếu chúng tôi thua lỗ.” Nhưng nếu trường hợp tương tự đó được áp dụng đến các giám đốc, với mức lương cao hơn rất nhiều – thì nguyên tắc đó của thị trường sẽ bị phản đối và gây phẫn nộ.

 

[Chương 3 – Còn tiếp]

https://www.facebook.com/cafekubua/posts/699073183559532

Facebook Comments