Đế Chế Anh – Đế chế của tự do

[Đế Chế Anh – Đế chế của tự do][Ku Búa @ Cafe Ku Búa] Trong 400 năm qua, cường quốc nào đã làm nhiều nhất để phổ biến những lý tưởng về một chính phủ giới hạn, một bộ tư pháp độc lập, những quyền bất khả xâm phạm và thị trường tự do? Cường quốc đó chính là Đế Chế Anh.

Chính Anh Quốc đã đưa những lý tưởng này cho Hoa Kỳ. Chính Đế Chế Anh, đế chế lớn nhất trong lịch sử thế giới, đã biến những lý tưởng đó thành những khát vọng toàn cầu. Chính Đế Chế Anh, cùng với Hoa Kỳ, đã bảo vệ những lý tưởng đó trong hai thế chiến khổng lồ.

Tự do là một quyền lợi của một người Anh và cho dù anh ta đi đến đâu, anh ta cũng đem quyền lợi đó bên mình. Cho dù đó là một nhà thực dân ở Mỹ, tự cai trị bản thân thông qua một hội đồng bầu cử địa phương; hoặc một nhà thám hiểm người Anh như Ngài Stamford Raffles, người đã tạo ra quốc đảo của thị trường tự do – Singapore, hay một sĩ quan người Anh như TE Lawrence dẫn dắt những bộ tộc Arab để chống lại người Thổ Nhĩ Kỳ.

Người Anh luôn nghĩ đến bản thân họ là những người giải phóng, những người đem lại sự tự do. Người Anh tin rằng sự biện minh cuối cùng và cần thiết cho sự tồn tại đế chế của họ là một lập luận đạo đức. Người Anh đã gìn giữ hòa bình cho nhân loại. Họ đã đem đến những chính quyền ổn định, thật thà và họ đã khẳng định rằng những tiêu chuẩn đạo đức cơ bản nhất để được tôn trọng.

Người Anh đã không tìm cách xây dựng quốc gia như cách mà chúng ta nghĩ đến trong ngày hôm nay. Họ đã không ảo tưởng về việc biến người Arab, Afghan hay Zulu thành những người Anh. Họ thường để cho người ta yên ổn, để họ làm chính họ, để họ tự cai trị họ với sự can thiệp tối thiểu nhất. Trong lịch sử Hoa Kỳ, chúng ta nhớ đến điều này khi nghĩ về Đế Chế Anh – “benign neglect” (vừa lơ là vừa cảnh giác).

Chúng ta có thể nhìn thấy điều đó trong suốt lịch sử của Đế Chế Anh. Hãy nghĩ đến lãnh thổ rộng lớn của Sudan. Nó chỉ được quản lý bởi 140 cán bộ hành chính của Anh Quốc. Thậm chí ông Gandhi cũng đã ca ngợi Đế Chế Anh, trích lời của Jefferson, nói ông ta tin rằng một chính phủ tốt nhất là một chính phủ cai trị ít nhất, và ông ta nhìn nhận Đế Chế Anh đã bảo đảm tự do của ông ta và cai trị ông ta với sự can thiệp tối thiểu nhất.

Để bảo vệ tự do, Đế Chế Anh đã đưa ra những ranh giới đạo đức. Không có một cường quốc nào đã làm nhiều hơn để xóa bỏ chế độ nô lệ và sự giao thương nô lệ trong thế giới hiện đại hơn Đế Chế Anh. Kho Bạc Anh đã tiêu những số tiền lớn để giải phóng những nô lệ, và bồi thường những chủ nô lệ ở vùng Carribean.

Hải Quân Hoàng Giáo Anh đã có một nhiệm vụ chính trong việc xóa bỏ chế độ nô lệ. Thậm chí, xóa bỏ sự giao thương nô lệ đã trở thành một yếu tố chính trong sự nới rộng của Đế Chế Anh. Người Anh đã thi hành chính sách Pax Britannica (Hòa Bình Trong Đế Chế Anh), họ đã dẹp bỏ hải tặc, tiêu diệt những kẻ săn người và gìn giữ hòa bình giữa những bộ lạc và tôn giáo trước đây đã gây chiến. Trong khi vẫn tôn trọng và thường cai trị trên quyền của những nhà lãnh đạo địa phương, người Anh vẫn nhất định thực hiện dựa trên những tiêu chuẩn đạo đức của Thiên Chúa – Do Thái.

Họ đã không như chúng ta thường nghĩ, là những người đa văn hóa. Họ có khái niệm rõ ràng về cái gì đúng và sai. Khi Ngài Charles Napier đối mặt với phong tục sati (phong tục của người Ấn Độ Giáo – người vợ phải tự thiêu khi người chồng đã chết), ông ta đã nói với một linh mục Brahman rằng ông ta hiểu đó là phong tục của họ. Nhưng người Anh cũng có phong tục riêng. Họ treo cổ những người đàn ông nào mà thiêu chết người phụ nữ, và tài sản của họ ta bị tịch thu. Nên nếu người Brahman khăng khăng tiếp tục truyền thống thiêu chế góa phụ này, thì ông ta sẽ làm theo truyền thống của người Anh bằng cách treo cổ những người đã giết chết những góa phụ đó. Sau đó thì truyền thông thiêu chết góa phụ ở Ấn Độ dần được xóa bỏ.

Nhưng chúng ta không cần phải nhìn sâu vào lịch sử, vào những việc như sự xóa bỏ của chế độ nô lệ và thiêu sống góa phụ, để nhìn thấy rằng Đế Chế Anh đã đứng bên phía của đạo đức và tự do. Chúng ta có thể nghĩ đến những sự kiện trong chính cuộc đời của chúng ta, cuộc đời của cha mẹ hoặc ông bà chúng ta. Khi chúng ta nghĩ đến hai mối đe dọa đến tự do lớn nhất ở thế kỷ 20, chúng ta thường nghĩ đến chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa phát xít. Nhưng có bao nhiêu người nhớ rằng vào năm 1940, sau hiệp ước giữa Hitler và Stalin, sau sự sụp đổ của Pháp, một quyền lực duy nhất – Đế Chế Anh – đã đứng đơn độc trước cái chết để chiến đấu lại những nhà độc tài của thế giới?

Thậm chí khi người Anh đã nhận được nhiều sự chỉ trích như trong trường hợp của Ireland, câu chuyện về đó còn nhiều điều phải bàn hơn nữa. Trong cuộc đàm phán để tạo ra nền Cộng Hòa Ireland, thủ tướng Anh David Lloyd George, người có thể nói tiếng Wales, đã nhắc cho những nhà ái quốc cực đoan Ireland và Gallic Eamon de Valera rằng người Celt chưa bao giờ có một cụm từ nào cho khái niệm “Cộng Hòa.” Nó chính là một ý tưởng được đem đến bởi người Anh.

Đây cũng chính là lịch sử của chúng ta nữa. Nếu bạn yêu nước Mỹ, bạn cũng nên yêu cường quốc đã đưa Mỹ một khái niệm về những quyền lợi bất khả xâm phạm, những quyền lợi xuất phát từ bản Đại Hiến Chương – Magna Carta. Mọi chuyện đều bắt đầu ở Mỹ với Đế Chế Anh, đế chế vĩ đại yêu mến tự do. Chính di sản của đế chế đó ở trong những nước nói tiếng Anh ngày hôm nay là yếu tố bảo hộ toàn cầu cho tự do của nhân loại ngày nay.

Tôi là HW Crocker cho Đại Học Prager. [Ku Búa @ Cafe Ku Búa, theo Prager U]

 

Facebook Comments