Kinh Tế Học Áo – Phần 1 – Kinh Tế Học Áo là gì và vì sao nó quan trọng?

[Kinh Tế Học Áo – Phần 1 – Kinh Tế Học Áo là gì và vì sao nó quan trọng?][Ku Búa @ Cafe Ku Búa] Chào bạn đến với bài giới thiệu về Kinh Tế Học Áo (Austrian Economics), một lượt bài giảng mà hy vọng sẽ đưa bạn một sự hiểu biết và nhận thức cơ bản về một trường phái kinh tế học quan trọng. Ngày hôm nay chúng ta sẽ nói về các nhà kinh tế học Áo là ai, và tại sao họ lại quan trọng?

Để bắt đầu, Kinh Tế Học Áo không phải là về nền kinh tế của nước Áo, nó được gọi là Trường Phái Kinh Tế Học Áo bởi vì nhiều thành viên hàng đầu của nó trong 100 năm qua được sinh ra ở đó và đó sự giáo dục và sự phát triển trí thức quan trọng ở đó. Nhưng nó đại diện cho một trường phái tư tưởng đưa một cái nhìn và quan điểm nhất định về cách nền kinh tế hoạt động thế nào và xã hội nói chung vận hành ra sao. Điều chúng ta sẽ nói đến trong bài giảng đầu tiên là các nhà Kinh Tế Học Áo là ai, và tại sao họ lại quan trọng?

Vâng, để bắt đầu, Trường Phái Kinh Tế Học Áo bắt đầu vào đầu thập niên 1870. Một nhà kinh tế học tên Carl Menger đã trở nên thích thú trong việc hiểu biết những gì quyết định những quy luật của kinh tế học. Ông ta đã có một công việc trong Bộ Giá Cả khi là một thanh niên. Công việc của ông ta, như một nhà báo kinh tế, là điều tra giá cả được hình thành ra sao trong thị trường hàng hóa và báo cáo nó. Nhưng sau đó ông ta đã thấy rằng các quy luật của kinh tế học, khi ông ta đã học nó từ những nhà kinh tế học cổ điển, từ Adam Smith cho đến John Stuart Mill, vì lý do nào đó đã không thực sự giải thích giá cả xuất hiện thế nào và phát triển và thay đổi ra sao trong thị trường của xã hội ông ta.

Ông ta bắt đầu suy nghĩ về những thứ có thể là cơ bản của giá trị và giá cả của hàng hóa trong xã hội. Kết quả là vào năm 1871 ông ta đã xuất bản một cuốn sách dịch sang tiếng Anh có một tên nghe quen thuộc là “Nguyên Tắc Của Kinh Tế Học” (Principles of Economics). Điều ông ta muốn khẳng định là kinh tế học đến từ một khái niệm rằng giá trị được dựa trên một sự định giá chủ quan của mỗi cá nhân. Cái câu nói quen thuộc “vẻ đẹp nằm trong người nhìn” có thể nói là nắm bắt được nguồn gốc của điều Menger đang nói. Các nhà kinh tế học cổ đển đã nói rằng giá trị được dựa trên số lượng lao động đã đi vào sự sản xuất của một hàng hóa. Menger đã nói điều hoàn toàn ngược lại. Nó là bởi vì con người đặt một sự định giá chủ quan lên những thứ mà họ muốn sở hữu và vì thế họ đặt hoặc cho nó một giá trị để sử dụng lao động và những tài nguyên khác để đưa nó vào sản xuất.

Ông ta sau đó nới rộng khái niệm đó với một ý tưởng mà bây giờ được gọi là “tiện ích cận biên.” Nói đơn giản, nó nghĩa là chúng ta không chỉ đối mặt với, như các nhà kinh tế học cổ điển đã nói, một lượng nước so với bánh mì, hay nước so với kim cương, và có sự lựa chọn theo thể loại của một trong hai. Mà nó bắt đầu với ý tưởng tăng trưởng của nó. Tôi có bao nhiêu áo sơ mi trong tủ quần áo của tôi? Bao nhiêu hộp súp tôi có trong tủ đựng chén của tôi? Những sự lựa chọn khác và thỏa hiệp của tôi là gì trong việc có thêm một chút của cái này so với một chút của cái kia, khi mà nếu có thêm một chút của cái này thì tôi sẽ phải bỏ bớt một thứ khác mà tôi cũng mong muốn có tương tự.

Vì thế chúng ta cho rằng bản chất của kinh tế học là nghiên cứu mối quan hệ giữa nhu cầu cuối cùng của con người và sự khám phá bởi những cá nhân đó rằng phương pháp để đạt được điều đó có những mức độ khan hiếm mà yêu cầu cá nhân đó thực hiện một chính sách kinh tế hóa (tiết kiệm). Từ khái niệm này ông ta phát triển thuyết trao đổi, những cơ hội mà con người khám phá về việc mua và bán hàng hóa và dịch vụ với nhau, và sự quyết định của giá cả cho những sự định giá chủ quan của những người thực hiện giao dịch. Ngoài ra, một cái nhìn khác ông ta có là ý tưởng rằng không chỉ sự tiết kiệm cần một lời giải thích, mà cách các thị trường nảy nở và phát triển ra sao nữa. Hơn thế nữa, những tổ chức của xã hội nói chung cũng vậy.

Như chúng ta sẽ thấy sau, khi chúng ta nói về chủ đề thuyết tiền tệ của Kinh Tế Học Áo, chúng ta sẽ thấy rằng Mender cho rằng cho dù đó là ngôn ngữ, tục lệ, truyền thống hay luật pháp, hay những quy định chung của thị trường, cũng như tiền tệ, đó không phải là những sự sáng chế của chính phủ hay một nhà cai trị tốt bụng nào đó mà muốn áp đặt nó hay thành lập nó bởi một mệnh lệnh và quy định, mà tất cả những thứ đó xuất phát từ ở dưới lên, trong những quá trình tự phát của các kết quả của hành vi con người nhưng không phải từ sự thiết lập của con người.

Khi Menger viết cuốn sách của mình, ông ta rất đơn độc trong thời buổi cuối thế kỷ 19, vào thập niên 1870 của nước Áo mà ông ta đang sinh sống và làm việc. Nhưng ông ta may mắn là có 2 môn sinh được gây cảm ứng bởi ông ta, mặc dù họ đã không học với ông ta trực tiếp. Đó là nhà kinh tế học tên Eugen von Bohm-Bawerk, và một nhà kinh tế học tên Friedrich von Wieser. Sau này họ trở thành anh em rể với nhau. Nhưng họ đã biết đến nhau tại đại học. Cả hai đã khám phá ra cuốn Nguyên Tắc Kinh Tế Học của Karl Menger cùng lúc, và cảm thấy rằng cuốn sách này cung cấp một cái nhìn sâu sắc vào bản chất và sự hoạt động của kinh tế học. Khi họ học cao học với nhau, tại Đại Học Heidelberg, họ đã tự quyết định theo cách của mình để phát triển những ý tưởng của Menger, nới rộng nó, bổ sung nó, chỉnh sửa nó và cải tiến dựa trên nó, để nới rộng nó trong những cách mà sẽ chứng minh rằng ý tưởng này hay những hệ ý tưởng của Menger có thể có khả năng toàn diện để giải thích thị trường và những quá trình xã hội trong cộng đồng con người.

Trong trường hợp của Bohm-Bawerk, sở thích của ông ta là trong lĩnh vực vốn và lãi suất. Vốn là gì? Làm sao có xuất phát từ tiền tiết kiệm và đầu tư của người dân? Làm sao con người đưa ra những sự lựa chọn trong việc quyết định cái gì quan trọng trong hiện tại và tương lai? Đó là sự định giá của thời gian mà các cá nhân thực hiện. Ông ta cũng phát triển thuyết của Menger về giá cả và giá trị một cách chi tiết và cụ thể hơn, và thành thật mà nói, một cách thuyết phục hơn. Hơn nữa, ông ta cũng là một người chỉ trích của Marx và chủ nghĩa xã hội (CNXH) của Marx.

Vào cuối thế kỷ 18 ông ta đã được xem là một người phê bình hàng đầu, người trong nhiều cách, đã giúp hạ thấp, nếu không phải là làm suy giảm, lập luận cơ bản của thuyết của Marx về giá trị kinh tế và lý luận và lập luận mà những người ủng hộ Marx cho rằng các công nhân đang bị bóc lột bởi các nhà tư bản. Thêm nữa, tôi có thể nói thêm là, Bohm-Bawerk không chỉ là một thuyết gia, mà ông ta còn là một người có kinh nghiệm thực tế. Ông ta đã ba lần là bộ trưởng tài chính của đế chế Áo-Hungary cũ, lần cuối cùng kéo dài 4 năm vào đầu thế kỷ 20.

Trong khoảng thời gian 4 năm đó, ông ta đã đảm nhận công việc của mình là một người cánh hữu (bảo thủ) về mặt tài chính rất hợp lý và nghiêm túc. Ngân sách đã được cân đối. Chi tiêu đã được cắt giảm. Thuế đã được cắt giảm và nền kinh tế đã phát triển bởi vì thị trường đã được thả lỏng. Anh rể của ông ta, Friedrich von Wieser, đã phát triển các ý tưởng của Menger theo những cách khác một chút. Ông ta thực ra là người đã nghĩ ra từ “tiện ích cận biên” (marginal utility).

Ông ta đã chế ra khái niệm này trong một cuốn sách ban đầu của ông ta trong thập niên 1800. Ông ta cũng nổi tiếng, trong mắt của tất cả những nhà kinh tế học, bởi vì ông ta đã chế ra từ “chi phí cơ hội” (opportunity cost), để thay thế cho khái niệm cổ điển hay của Adam Smith rằng chi phí là số lượng của lao động mà đi vào sự sản xuất của sản phẩm. Wieser đã cho rằng chi phí của bất cứ thứ gì là sự lựa chọn khác mà bạn từ bỏ. Nếu các phương tiện khan hiếm và nó có thể được sử dụng cho một mục đích này hay mục đích khác, mục đích mà bạn không theo đuổi bởi vì bạn cân nhắc mục đích khác có giá trị cao hơn hay quan trọng hơn đối với bạn, rằng sự lựa chọn khác mà bạn từ bỏ và để qua một bên để sử dụng các phương tiện sản xuất cho một việc khác, đó là chi phí của sự lựa chọn của bạn.

Ông ta nới rộng để giải thích rằng, một cách chi tiết hơn Menger, về cách sự lựa chọn đó dẫn để sự giải thích của giá trị lao động, đất, tài nguyên, vật liệu thô, cũng như vốn. Hơn nữa, chính ông ta cũng là một người có kinh nghiệm ngoài đời, và làm việc trong Bộ Thương Mại trong thời chiến của chính phủ Áo-Hungary trong Thế Chiến Thứ Nhất. Trong cuốn sách cuối cùng của ông ta, một cuốn vốn xuất bản vào năm ông ta qua đời, vào năm 1926 mang tên Quy Luật Của Quyền Lực (The Law Of Power), và ông ta, cũng như Menger, tìm cách để giải thích những quy luật của sự tiến triển xã hội của các tổ chức, tục lệ và thị trường.

Trong thế kỷ 20, hai trong các nhà kinh tế học Áo chính là Ludwig von Mises, và Friedrich A. Hayek. Ludwig von Mises sinh ra vào năm 1881. Ông ta qua đời vào năm 1972. Ông ta thực sự là người khởi đầu của đa số các ý tưởng mà trường phái Áo đã trở nên nổi tiếng trong thế kỷ 20. Trong các bài giảng này, khi chúng ta càng đi sâu hơn, chúng ta sẽ đọc đi đọc lại nhiều lần các ý tưởng của ông ta và sự phát triển của ông ta trong Kinh Tế Học Áo. Để đưa ra một một tài liệu tham khảo, ông ta cho rằng kinh tế học là một môn khoa học của hành vi con người.

Mối quan tâm của chúng ta là để giải thích logic và cấu trúc của hành vi con người và quá trình chọn lựa của con người, và điều này yêu cầu sự thấu hiểu rằng những phương pháp và dụng cụ trong lý luận kinh tế học rất cần thiết về nhiều mặt khác nhau từ những phương pháp của khoa học trong lĩnh vực tự nhiên của khoa học. Cũng tương tự, điều vốn đưa ông ta sự nổi tiếng là những lập luận và sự phát triển của ông ta trong việc hiểu biết và phê bình về những hệ thống kinh tế khác nhau như chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa xã hội, sự can thiệp của chính phủ và quy định. Như chúng ta sẽ thấy, ông ta là một nhà kinh tế học, trong thế kỷ 20, đã thách thức câu hỏi rằng liệu chủ nghĩa xã hội có phải là một hệ thống kinh tế khả thi hay không.

Ông ta cũng phát triển một học thuyết của trường phái Áo về quá trình của thị trường, vai trò của doanh nhân, và tầm quan trọng và vai trò cần thiết của sự tính toán kinh tế cho tính hợp lý của thị trường. Ông ta cũng là một người đóng góp rất lớn cho học thuyết tiền tệ, và dựa trên học thuyết đó và phân tích của ông ta của sự tương tác của người tiết kiệm tiền và các nhà đầu tư và vai trò của chính phủ trong ngân hàng trung ương, ông ta đã phát triển một học thuyết về chu kỳ kinh tế mà ông ta liên kết học thuyết tiền tệ, thị trường vốn, thị trường đầu tư, và chuỗi sự kiện mà có thể kích hoạt thông qua ngân hàng trung ương và sự quản lý sai lầm của nguồn cung tiền tệ trong sự chuyển động của lạm phát và suy thoái của sự tăng trưởng và sụp đổ của chu kỳ tài chính.

Một nhân vật lớn khác, như tôi đã đề cập đến, là Friedrich A. Hayek. Đúng vậy, nhìn từ nhiều mặt, xét về uy tín quốc tế, Hayek được coi là người đại điện của Trường Phái Áo trong thế kỷ 20, ở mức độ nào đó bởi vì vào năm 1974 ông ta được trao giải Nobel Kinh Tế Học. Vì nhiều thứ như sự đóng góp của ông ta cho cái mà các nhà kinh tế học Áo cho là quan niệm của ông ta về các chủ đề của kinh tế Áo. Trong thập niên 1930 và đầu thập niên 1940, Hayek đã giảng dạy tại Trường Kinh Tế London, và đã bỏ Áo ra đi vào đầu thập niên 1930.

Trong bối cảnh đó, và thông qua những tác phẩm của ông về tiền tệ và chu kỳ kinh tế, trong suốt thập niên 1930 ông ta nhanh chóng được xem là một nhà phê bình lớn và hàng đầu đối với trường phái kinh tế Keynes đang nổi, được phát triển bởi John Maynard Keynes. Ông ta cũng đã thách thức những học thuyết phổ biến của kinh tế học dòng chính, trong đó ông ta cho rằng một người phải nghĩ về thị trường không như một điểm cân đối cố định trong những mô hình chuẩn của cạnh tranh hoàn hảo hay độc quyền, mà như một quá trình linh động trong việc sử dụng kiến thức và cạnh tranh, trong đó cung và cầu được đem vào một hoạt động phối hợp thông qua hệ thống giá cả.

Ông ta cũng là một người chỉ trích những học thuyết của chủ nghĩa xã hội. Như chúng ta sẽ thấy, ông ta cho rằng sự yếu kém của chủ nghĩa xã hội là về hai mặt: 1, sự nguy hiểm là nó có thể dẫn đến sự độc tài; và 2 chính là, dựa trên và phát triển trên nhũng ý tưởng của Mises, có rất nhiều khuyết điểm cơ bản về chủ nghĩa xã hội, rằng bác bỏ sự cạnh tranh và hệ thống giá cả, kế hoạch của nền kinh tế chủ nghĩa xã hội chỉ có thể dẫn đến sự thất thường, trì trệ và suy sụp kinh tế.

Cuối cùng, vào thập niên 1950 và 1960, và vào thập niên 1970, Hayek đã phát triển mặt xã hội của những học thuyết đó, và phát triển những ý tưởng liên quan đến sự tiến triển xã hội, sự phát triển tự phát của nhiều hình thức trật tự xã hội, và nhất là, yếu tố chính trị của các tổ chức chính trị mà cần thiết cho một xã hội tự do và thịnh vượng. Có rất nhiều nhà kinh tế học Áo kể từ đó. Chỉ để nêu tên vào người, Israel Kirzner, người đã nghiên cứu Ludwif von Mises tại Đại Học New York vào thập niên 1950; Murray Rothbard, người đã lấy được bằng đại học tại Đại Học Columbia, đã được truyền cảm hứng và phát triển nhiều ý tưởng của Mises trong những năm tiếp theo, trong thập niên 1960 và 1970; và cuối cùng là nhà kinh tế học tên Ludwig Lachmann, người đã được giáo dục ở Đức, rời bỏ nước Đức trước sự thăng tiến quyền lực của Hitler và Đảng Quốc Xã, và đạt được một bằng đại học dưới Hayek tại Trường Kinh Tế London, và Lachmann đã đi theo sở thích của mình về các học thuyết của quá trình thị trường và thuyết về vốn và sự biến động kinh tế.

Kể từ đó, từ thập niên 1960 và 1970, đã có một sự khôi phục tương đối lớn, một sự tái khám phá, một sự phát triển mới mẻ về Trường Phái Kinh Tế Áo, cho nên hàng loạt học giả trẻ tuổi, những người mà đã lấy những ý tưởng của những bậc thầy của trường phái Áo, và tiếp tục xây dựng dựa trên đó, nới rộng nó, và phát triển nó bằng nhiều cách mới và linh động hơn.

Trường Phái Kinh Tế Áo không chỉ là một chương sách trong lịch sử của kinh tế học, mà nó còn là sự đi đầu của sự phát triển và các ý tưởng mới mẻ, sự thách thức và nó đi đầu về tư tưởng, và tôi hy vọng thông qua những bài giảng này, ít ra tôi sẽ giúp các bạn có được sự hiểu biết về nền tảng của những ý tưởng đó, vốn đang quảng bá tương lai cho Kinh Tế Học Áo và sự phát triển của ngành khoa học kinh tế nói chung. Cảm ơn bạn. Hẹn gặp lại.

[Ku Búa @ Cafe Ku Búa] Phần 1/9. Mời các bạn coi tiếp. Bạn có thể ủng hộ qua Paypal [email protected] hoặc góp $1/tháng qua Patreon Cafe Ku Búa tại Patreon.com/cafekubua

Facebook Comments