Tin Lành và tự do tôn giáo ở Mỹ

[Tin Lành và tự do tôn giáo ở Mỹ][Ku Búa @ Cafe Ku Búa]  Sự khoan dung tôn giáo là một điều coi như hiển nhiên ở Phương Tây. Nhưng nó là sự đột phá – một sự cách mạng về lý tưởng được tạo ra bởi các nhà Thanh Giáo và những người Mỹ trước năm 1776. Điều gì đã dẫn đến sự cách mạng về khoan dung tôn giáo? Liệu có điều gì đặc trưng về Thanh Giáo hay Lý Tưởng Mỹ không? Hay sự khoan dung đã nổi dậy ở khắp nơi, có thể là ở Châu Âu chăng? Larry Schweikart, tác giả hàng đầu và giáo sư môn lịch sử tại Đại Học Dayton, giải thích sau đây.

Hàng năm tổng thống của Mỹ thắp sáng một cây Giáng Sinh, đãi một buổi tiệc Hanukkah tại Nhà Trắng và công bố một văn bản vinh danh lễ Ramadan. Chuyện chỉ xảy ra ở Mỹ thôi. Đúng vậy, Mỹ được biết đến cho sự khoan dung tôn giáo của nó. Thậm chí, thật không phải là nói quá để cho rằng Mỹ, nơi mọi người từ mọi đức tin được tự do để tôn thờ (hoặc không tôn thờ) theo ý của họ, đã khởi đầu tự khoan dung cho tôn giáo hiện đại. Chính sự khoan dung này, vốn người Mỹ coi là hiển nhiên, đã không hề tồn tại ở bất cứ nơi đâu khác trong thế giới trước khi Mỹ đã viết ra nó. Việc này xảy ra thế nào?

Để trả lời câu hỏi đó chúng ta phải nhìn lại sự khởi nguồn của nước Mỹ vốn có nhiều yếu tố tôn giáo và, để nói chính xác hơn, chủ yếu là Thiên Chúa Giáo. Để nói cách khác, nước Mỹ đã trở thành một quốc gia cởi mở với tôn giáo mà chúng ta biết đếnngày nay là bởi vì trước tiên nó là một quốc gia Thiên Chúa Giáo, chính xác hơn là một quốc gia Tin Lành. Hãy để tôi giải thích. Cho đến đầu thế kỷ 16, cuộc sống tôn giáo ở Châu Âu bị thống trị bởi Nhà Thờ Công Giáo. Tất cả quyền lực tôn giáo đề được tập trung vào Giáo Hoàng và giới giáo sĩ Công Giáo. Họ quyết định giáo lý tôn giáo. Cấu trúc quyền lực là từ trên xuống dưới.

Nhưng tất cả điều đó đã thay đổi vào năm 1517 khi Martin Luther, một giáo sĩ người Đức, đã khởi đầu một cuộc chống đối mà được biết đến là cuộc Cải Cách Tin Lành. Chủ trương của cuộc Cải Cách đó là con người nên được tự do để giải nghĩa Kinh Thánh và quản lý nơi tôn thờ của họ theo ý của họ – một cấu trúc quyền lực từ dưới lên trên. Một trong những nhà cải cách nhiệt tình nhất của Anh Quốc được biết đến là những người Thanh Giáo (Puritan), được gọi như thế là bởi vì họ muốn làm trong sạch Nhà Thờ Anh Quốc. Vài người Thanh Giáo đã trở nên quá bất mãn nên họ đã quyết định rằng không con lựa chọn nào khác trừ việc rời bỏ Anh Quốc.

Chỉ ở Thế Giới Mới ở Mỹ, không bị ảnh hưởng bởi sự kỳ thị của Châu Âu, mà họ mới có thể thực thi Thiên Chúa Giáo Tin Lành của họ một cách trong sạch nhất. Chúng ta gọi những linh hồn cứng rắn này là những Người Hành Hương. Sức mạnh của niềm tin của họ có thể được đo lường dễ dàng bởi những rủi ro khủng khiếp mà họ đã chấp nhận trong việc đi xuyên qua Bắc Đại Tây Dương trên những con thuyền gỗ nhỏ, trong số đó có con thuyền The Mayflower. Làm đúng với tinh thần của họ, những người định cư ban đầu, và những người đi sau, có tinh thần độc lập mãnh liệt. Vì những người Thanh Giáo tin rằng con người nên đọc và giải nghĩa Kinh Thánh cho bản thân mình, thì làm sao làm khác được? Không bất ngờ chút nào, đã không quá lâu đến khi có một sự xung đột diễn ra giữa những người định cư liên quan đến giáo lý.

Thậm chí, thuộc địa Rhode Island được thành lập vào năm 1638 để làm một nơi ẩn trú cho vào trong những người bất đồng chính kiến đó. Trong suốt thế kỷ 17 thì càng nhiều người thực dân đến, bao gồm của những người Công Giáo và Do Thái nhưng số lượng của họ vẫn còn nhỏ so với đại đa số người Tin Lành. Cho đến tận ngày Độc Lập của Mỹ vào năm 1776 và cuộc chiến cách mạng sau đó, những người Tin Lành vẫn chiếm số đông. Nhưng với việc càng nhiều người định cư thì càng có nhiều tổ chức tôn giáo. Và điều duy nhất mọi người có thể đồng ý là tôn giáo, nhất là Thiên Chúa Giáo – vốn bắt nguồn, rất quan trọng để nhớ đến trong Thánh Kinh Do Thái – là trọng điểm đối với sự sống của đất nước mới mẻ này. Khi các thuộc địa trở thành những tiểu bang và viết hiến pháp tiểu bang của mình, thì nó mang đậm bản sắc Thiên Chúa giáo trong ngôn ngữ và văn phong của họ.

Nhưng ngoài việc đó thì có rất ít sự tương đồng. Vài tiểu bang ban hành những đặc ân cho những tôn giáo nhất định trong khi những tiểu bang khác bày tỏ tự do tôn giáo cho tất cả mọi người; Delaware yêu cầu một lời tuyên thệ nhậm chức mà công nhận niềm tin vào Chúa và Jesus; bang Bắc Carolina cấm bất cứ người vô thần hay bất cứ ai mà bác bỏ “sự thật của tôn giáo Tin Lành” giữ chức vị; một vài tiểu bang yêu cầu những người giữ chức phải là những người Thiên Chúa Giáo, vào tiểu bang yêu cầu những viên chức nhà nước tuyên bố rằng họ tin vào Chúa.

Mặt khác, 5 tiểu bang đã cấm giáo sĩ nắm chức vụ nhà nước. Sự kết nối này, bất cứ ai cũng có thể giải nghĩa Kinh Thánh theo ý mình, theo từng tiểu bang, từng nhà thờ, là đặc điểm của sự thực thi tôn giáo ban đầu ở Mỹ, vốn đặc trưng là Tin Lành và đặc biệt ở Mỹ, vốn dẫn đến sự khoan dung tồn tại vào thời điểm lập quốc. Đúng vậy, nó được ghi rõ vào Tu Chính Ánh 1 của Hiến Pháp Mỹ: Quốc hội không được làm luật liên quan đến sự thành lập của tôn giáo, hoặc cấm sự thực hiện của nó. Vì nguồn gốc Anh Quốc và Châu Âu của Mỹ, nơi mà những chính phủ chính thức đàn áp tôn giáo, đây là sự cải tiến văn minh nhất của tự do nhân loại.

Cho nên, khi tổng thống của Mỹ thắp một cây Giáng Sinh, đãi một buổi tiệc Hanukkah tại Nhà Trắng và ban hành một văn bản tôn vinh lễ Ramadan, chúng ta nên cảm ơn những người Thanh Giáo can đảm kia. Tôi là Larry Schweikart của Đại Học Dayton cho Đại Học Prager.

[Ku Búa @ Cafe Ku Búa, theo Prager U] Bạn có thể ủng hộ qua Paypal [email protected] hoặc góp $1/tháng qua Patreon Cafe Ku Búa https://www.patreon.com/cafekubua

Facebook Comments