Đảng Dân Chủ đã tiêu diệt người da đen bằng cách nào?

Đảng Dân Chủ đã tiêu diệt người da đen bằng cách nào?

Khi tổng thống Lyndon John tiến hành Chiến Dịch chống Đói Nghèo, ông đã ban hành nhiều bộ luật chống đói nghèo và ủng hộ thêm các bang trợ cấp của người Mỹ, vì theo ông ta giải thích rằng quan điểm của ông về việc giảm sự phụ thuộc để “phá vỡ vòng quay nghèo đói,” và khiến “người dùng thuế thành người đóng thuế.” Johnson còn chỉ ra rằng chương trình của ông ta sẽ chấm dứt những “điều kiện gây ra khổ đau và bạo lực,” cho những người bị “bỏ quên, bị phân biệt, sống trong khu ổ chuột, nghèo đói, bệnh tật, không có đủ việc làm.” Mối quan tâm lớn nhất của Johnson là sự nghèo đói bất cân xứng của người da đen. Trong bài diễn văn nổi tiếng vào năm 1965, ngài tổng thống khuyến nghị rằng vấn đề đang cản trở người Mỹ da đen không thể được khắc phục bởi chính họ: “Bạn không thể bắt một người mà bao năm tháng đã bị cầm chân bởi xiềng xích rồi trả tự do cho anh ta, đặt anh anh ta vào vạch đua và bảo, ‘anh có thể cạnh tranh với mọi người một cách tự do’”

Thêm nữa, Đảng Dân Chủ hiện đại tấn công một cách dữ dội và tàn nhẫn lên người Mỹ da đen. Ngụy trang dưới lớp vỏ của “lòng trắc ẩn” và “công lý xã hội,” cuộc tấn công dưới dạng cam kết chưa từng có của quỹ liên bang đến nhiều biện pháp nhằm hướng tới việc tái phân phối tài sản ở Hoa Kỳ. Kể từ 1965, hơn 22 nghìn tỷ đô từ tiền thuế (tính theo tỉ giá 2012) đã được chi cho các chương trình phúc lợi mang tính thử nghiệm cho người nghèo.

Tình hình kinh tế trước lúc Chiến Dịch Chống Đói Nghèo bùng nổ cũng đáng được lưu tâm. Lấy ví dụ của năm 1965, số lượng người Mỹ sống dưới chuẩn nghèo đã giảm liên tục kể từ đầu thập niên và một nữa số đó 15 năm trước. Từ 1950 đến 1965, tỉ lệ người có thu nhập ở mức nghèo đã giảm tới hơn 30%. Tỉ lệ nghèo của người da đen nói chung đã giảm đi gần một nữa trong khoản 1940 đến 1960. Và trong các ngành nghề ở giai đoạn 1936-59, thu nhập của người da đen so với người da trắng đã tăng hơn gấp đôi.

Mặc kệ những trào lưu trên, phúc lợi liên bang vẫn được mở rộng đáng kể sau phát biểu của tổng thống Johnson. Từ giữa những năm 60 và 70, giá tri tính trên đồng đô la của nhà ở công cộng đã tăng lên gấp 5 lần và lượng tiền chi cho phiếu thực phẩm đã tăng gấp 10. Từ 1965-96, lợi ích được cung cấp từ chính phủ đã tăng lên 8 lần; tới năm 1974 lợi ích này đã đạt đến mức kinh ngạc, tức cao hơn gấp 20 lần so với năm 1965. Cũng như vậy vào năm 1974, chi tiêu liên bang cho các chương trình phúc lợi xã hội đã lên đến 16% của tổng sản lượng toàn quốc, một sự khác biệt đáng kể so với 8% của năm 1960. Tới năm 1977, lượng người nhận trợ cấp xã hội đã nhiều hơn gấp đôi kể từ năm 1960.

Hậu quả tàn khốc nhất của các liên bang trợ cấp mọc lên như nấm là ảnh hưởng của nó đã và đang gậm nhấm cuộc sống của gia đình Mỹ, chủ yếu là cộng đồng da đen. Theo các quy định của bộ luật phúc lợi, các ưu đãi kinh tế ngày càng nhiều từ chính phủ nhằm phá vỡ hôn nhân cũng như việc hình thành gia đình có cha lẫn mẹ đã khiến tỉ lệ phạm pháp gia tăng một cách đáng kể.

Trong nhiều thập kỷ tiếp theo, những chương trình thử nghiệm như phiếu thực phẩm, nhà ở công cộng, bảo hiểm y tế, chăm sóc con cái và những hỗ trợ tạm thời cho các gia đình nghèo đã gây hại đến hôn nhân. Một người mẹ thông thường sẽ nhận được rất nhiều tiền từ trợ cấp nếu cô ta độc thân thay vì đang kết hôn. Khi cô ta có chồng, lợi ích của cô ta sẽ bị giảm thiểu từ 10 đến 20 phần trăm. Theo nghiên cứu từ Cato Institute (link 1), chương trình phúc lợi dành cho người nghèo khuyến khích các hành vi duy trì sự nghèo đói. Một báo cáo khác của Cato cho thấy:

“Tất nhiên phụ nữ mang thai không chỉ để hưởng phúc lợi… Nhưng, bằng việc loại bỏ qua hệ quả kinh tế của việc có con ngoài hôn, phúc lợi đã làm mất đi động lực để tránh mang thai trong những trường hợp đó. Một cô bé vị thành niên có thể bị ảnh hưởng khi nhìn thấy một số bạn bè, láng giềng đều có con ngoài giá thú. Khi cô ta thấy ít ai phải chịu những hậu có thể trong thấy được… cô ta sẽ có xu hướng ít điều chỉnh hành động của bản thân mình để tránh mang thai… Chính sách phúc lợi xã hội hiện tại có vẻ như được thiết kế trên phương diện thiếu qua tâm đến kinh ngạc tới ảnh hưởng của nó cho việc sinh đẻ ngoài giá thú. Hiển nhiên, chương trình Y tế ở 11 bang có cung cấp điều trị cho phụ nữ vô sinh sống độc thân dựa vào phúc lợi.”

Các điều phạt về hôn nhân có thể được đưa vào các chương trình phúc lợi để phục vụ chủ yếu cho phụ nữ nếu họ đang nhận trợ cấp xã hội và kết hôn với người đàn ông làm công việc có lương thấp. Theo báo cáo từ trang FamilyScholar.org nói rằng: “Khi thu nhập của một cặp vợ chồng ở gần mức giới hạn được quy định bởi Phúc lợi công cộng, một vài đô thêm vào thu nhập là hàng ngàn đô cho lợi ích bị mất đi. Những điều này có nghĩa 2 con đường tốt nhất để thoát nghèo – là kết hôn và làm việc – đã bị đánh thuế rất nặng dưới hệ thống hiện tại của Hoa Kỳ.”

William Galston, người phục vụ cho as Deputy Assistant to the President for Domestic Affairs, phỏng đoán rằng hệ thống phúc lợi, với việc cản trở hôn nhân trên phương diện kinh tế của nó, phải chịu trắc nhiệm cho 15% đến 20% số vụ gia đình ly dị ở Hoa Kỳ. Nhà nghiên cứu tự do cổ điển Charles Muray đã đặt ra một con số vào khoảng 50%. Qua nghiên cứu của Muray, sự phát triển và tăng lên của việc tự do hóa các “tổ hợp phúc lợi” đã ăn mòn các tập tính truyền thống của cộng đồng tầng lớp lao động, đã một thời nắm giữ những người làm các công việc rẻ mạt, và những người đàn ông có vợ con, có được sự kính trọng cao hơn những phụ huynh sống ly thân được bảo trợ bởi nhà nước.

Kết quả của các chính sách phúc lợi xã hội đã kịch liệt đẩy lùi hôn nhân, cũng như số lượng trẻ sinh ra ngoài giá thú trong các nhóm nhân khẩu học ở Hoa Kỳ, nhưng đáng chú ý nhất những đứa trẻ Mỹ gốc Phi. Vào giữa những năm 1960, tỉ lệ sinh con ngoài giá thú chỉ khoảng 3% đối với người gia trắng, 7.7% cho bình quân người Mỹ, và 24.5% cho người da đen. Tới 1976, những con số trên đã tăng lên gần 10% cho người da trắng, 41% cho toàn quốc và đặc biệt là 50.3% ở người da đen. Ngày nay, con số đó là 29% ở người da trắng, 41% cho toàn quốc và 73% cho người da đen. Nói cách khác, cả đất nước đang chuyển dịch sang một hướng sai lầm, nhưng đặt biệt là người da đen đã bước tới ngưỡng cửa thảm họa.

Không hề nói quá khi cho rằng hệ quả từ những gia vỡ tan vỡ gây ra cho xã hội sẽ vô cùng thảm khốc. Những gia đình thiếu vắng người cha -dù là da trắng hay đen- thường nằm ở bậc thang dưới cùng trong nền kinh tế Mỹ. Bỏ qua chủng tộc và dân tộc, tỉ lệ nghèo ở những phụ huynh đơn thân cao hơn vài lần so với cặp đôi đã đính hôn và có con. Theo Robert Rector, nhà nghiên cứu cao cấp từ tổ chức Heritage Foundation, “sự thiếu vắng hôn nhân làm tỉ lệ nghèo của trẻ em lên 700%” và do đó cho ta dự báo đáng tin cậy về một tầng lớp nghèo nàn dài hạn. Xâu chuổi với một chủ đề tương tự nhiều năm về trước, Martin Luther King nói, “Không gì cần thiết bằng một cuộc sống gia đình ổn định để đưa một người ra khỏi đói nghèo.”

Trẻ em trong gia đình đơn thân bị đè nặng không chỉ bởi vấn đề kinh tế mà còn bị bất lợi sâu sắc về mặt xã hội và tâm lý. Lấy ví dụ, thanh niên được nuổi dưỡng từ những ông bố, bà mẹ sống độc thân, so với những người lớn lên trong một gia đình toàn vẹn, sẽ có xu hướng bị bạo hành thân thể; hiển thị rối loạn cảm xúc; hút thuốc, nghiện rượu và xử dụng ma túy; xa xúc trong học tập; bị đình chỉ hoặc đuổi học; bỏ cấp ba; có hành vi hung hăn và bạo lực; bị bắt do phạm tội ở tổi bị thành niên; thụ án tù trước tuổi 30; và trở nên nghèo đói ở tuổi 30. Dựa theo National Fatherhood Initiative, 60% tội phạm cưỡng bức, 72% tội phạm vị thành niên và 70% tù nhân chung thân đều là  đàn ông lớn lên trong gia đình không cha. Đối với những cô gái nói chung, những người được nuổi dưỡng bởi các bà mẹ đơn thân thường có xu hướng sinh con ngoài giá thú gấp 2 lần, từ đó sinh ra vòng lập của nghèo đói cho một thế hệ nữa.

Sự sụp đỗ của các gia đình da đen là hiện tượng tương đối gần đây, trừng hợp đúng với sự trổi dậy của các liên bang phúc lợi. Qua suốt thời kỳ nô lệ và cho tới những thập niên của thế kỷ 20, đa số trẻ em da đen lớn lến trong gia đình đầy đủ cha mẹ. Nghiên cứu về Thời Hậu Nội Chiến cho thấy đa phần cặp vợ chồng gia đen ở tuổi 40 đã chung sống cùng nhau ít nhất 20 năm. Ở những đô thị phía nam vào khoảng những năm 1880, gần ba phần tư số hộ gia đình da đen đều có sự hiện diện của chồng hoặc người cha; còn những vùng quê, con số đó đạt 86%. Như năm 1940, tỉ lệ người da đen bất hợp pháp trên toàn quốc vào khoảng 15% – chưa tới một phần năm con số hiện tại. Vào cuối những năm 1950, phụ nữ da đen kết hôn nhiều hơn so với phụ nữ da trắng, và chỉ 9% gia đình da đen có trẻ em được nuôi nấng bởi 1 phụ huynh.

Trong 9 thập niên giữa giai đoạn Tuyên Bố Giải Phóng và những năm 1950, các gia đình da đen nắm giữ một thể chế ổn định vững mạnh. Sự tàn phá thảm khóc sau đó được kích động bởi những những chính sách được xem như là các biện pháp chống lại hôn nhân đã được lắp vào trong hệ thống trợ cấp. Theo lời giáo sư đại học Geogre Manson, ông Walter.E Williams cho rằng: “Các bang trợ cấp đã gây ra cho người Mỹ đen những điều mà chế độ nô lệ không thể làm, đạo luật Jim Crow không thể làm, sự phân biệt chủng tộc nặng nề nhất không thể làm. Và đó là việc hủy hoại các gia đình da đen.” Người đồng nghiệp Thomas Sowell cũng tin rằng: “Các gia đình da đen đã sống sót qua hàng thế kỷ nô lệ và kỳ thị, đã bắt đầu tan rã nhanh chóng bởi chính quyền phúc lợi cánh tả, trợ cấp cho việc mang thai độc thân và thay đổi trợ cấp từ gói cứu trợ khẩn cấp thành một lối sống.”

Phạm Đàm Nguyên Vũ, theo How The Liberal Welfare State Destroyed Black America, John Perazzo

Facebook Comments