“Trò Chơi Vương Quyền” Của Chế Độ Phong Kiến Việt Nam

Vẫn thường nghe câu “Nhất nhập hầu môn thâm tự hải, Tối thị vô tình đế vương gia” (cửa quyền quý thâm sâu như biển cả, vô tình nhất chính là nhà đế vương) [1].

Sinh trong nhà vua chúa, chuyện sinh tồn đã là khó, còn nói gì đến tình nghĩa, nhất là trong những giai đoạn cơ cấu hành chính và quân sự của đất nước còn chưa vững, vua cha mất sớm, quyền thần lâm triều. Đứng trước ngai vàng, các hoàng tử cũng chỉ có mấy loại số mệnh: hoặc lên ngôi cửu ngũ, hoặc bị cách ly, giam lỏng, thậm chí bị giết. Bản chất của chế độ phong kiến cộng với tình huống đặc biệt đã đặt các hoàng tử vào thế khó: hoặc là chủ động xông vào cuộc tranh đoạt, hoặc là bị động trở thành cái đích để các quyền thần nhắm tới hòng tôn phò lên ngôi. Mà đã vào cuộc tranh đoạt ngôi cao, thì chỉ có ngươi sống ta chết, làm sao còn dừng được nữa?

Bài viết dưới đây được viết bởi anh Nguyễn Đỗ Thuyên. Anh sẽ đến với chúng ta bắt đầu từ thời nhà Đinh, để người yêu Sử Việt Nam hiểu rằng: “Trò chơi vương quyền” ấy vốn đã diễn ra từ đâu? Từ khi nào? Bao nhiêu tấm màn lịch sử đã không thể vén lên hết. Không phải chỉ ở “Tứ vương đoạt đích” mà chúng ta được đọc hôm qua. Không đơn giản chỉ là chuyện của các “Hoàng thái tử”, mà còn ở các điểm khác.

(Trong bài có sử dụng một số ý kiến của mấy người bạn của tác giả: anh Thanhlong Phạm, Ngô Du Trần, Phù Vân).

 

PHẦN 1: Trò chơi vương quyền là chuyện của Quyền thần – Chính Thứ và Dục Vọng.

1 – “QUYỀN THẦN THOÁN ĐOẠT” THỜI ĐINH

Khi Đinh Tiên Hoàng lên ngôi, có ba viên đại thần được ông giao cho đại quyền là Lê Hoàn (Thập đạo tướng quân, nắm quân quyền), Lưu Cơ (Đô hộ phủ sĩ sư, coi việc hình phạt) và Nguyễn Bặc (Định quốc công, là một tước vị, không phải chức vụ thực sự). Sau khi Đinh Tiên Hoàng mất, những người phò tá Đinh Toàn lên ngôi có 2 trong 3 người này (Lê Hoàn, Nguyễn Bặc) cộng với một hoàng thân là Đinh Điền. Và sau khi Lê Hoàn “tự xưng là Phó vương” [2], thể hiện rõ ý định soán đoạt, thì Nguyễn Bặc, Đinh Điền, Phạm Hạp dấy binh cần vương nhưng thất bại cực kỳ mau chóng (chỉ trong chưa đầy 2 tháng).

Lí do Nguyễn Bặc, Đinh Điền thất bại không nằm ngoài việc quyền thần Lê Hoàn nắm giữ quân quyền quá lớn. Lực lượng cựu thần trung với Đinh Tiên Hoàng, ngoại trừ Đinh Điền giữ chức Ngoại giáp, “trông coi quân đội ở bên ngoài” [3], thì cả Lưu Cơ, Nguyễn Bặc, Phạm Hạp hay Trịnh Tú đều không thấy nhắc đến là có quân đội trực thuộc (Trịnh Tú thậm chí còn “chuyển nghề” sang làm ngoại giao!). Dã sử và sử liệu dân gian cũng chỉ nhắc đến quan tước của các ông một các rất chung chung.

Tại sao Lê Hoàn có được quyền lực lớn như vậy? Không phải vì nhà Đinh trao cho họ Lê quá nhiều quân quyền, mà là cái chết ĐỒNG THỜI của cả hai cha con Đinh Tiên Hoàng – Đinh Liễn đã tạo ra lỗ hổng quyền lực cho Lê Hoàn lợi dụng. Uy tín và địa vị của Đinh Tiên Hoàng là bất đảo. Ngày nào ông ta còn tại vị, dù cho Lê Hoàn có nắm “Thập đạo” đi chăng nữa, sẽ không tướng lĩnh nào dám phản bội vương triều, Lê Hoàn càng không dám. Mà Đinh Liễn cũng đã có được uy vọng và tước vị của riêng mình (“Kiểm hiệu Thái sư Tĩnh Hải quân tiết độ sứ An Nam đô hộ”, sau là “Khai phủ nghi đồng tam ti Kiểm hiệu Thái sư, Giao Chỉ quận vương” [4]), hoàn toàn khống chế quân đội và chính quyền.

Dẫu sao đi nữa, Đinh Tiên Hoàng và Đinh Liễn mất đi, không còn ai đủ uy tín, tài năng và danh vọng để áp chế Lê Hoàn nữa. Lê Hoàn thống lĩnh quân đội, có Phạm Cự Lượng là vây cánh trung thành, sách động các tướng lĩnh cấp trung. Trong khi các đại thần khác không có quân quyền đủ mạnh để chống lại ông ta, thì Lê Hoàn lại còn có thêm sự hậu thuẫn về chính trị từ phía nội đình (Dương hậu), thắng bại nhanh chóng phân định.

Từ lúc Đinh Liễn giết Hạng Lang, một cuộc tranh đoạt hoàng thống đã biến thành một trận binh biến soán đoạt của QUYỀN THẦN.

2 – “VƯƠNG TỬ CHI TRANH” THỜI TIỀN LÊ

Hiểu rõ tầm quan trọng của quân quyền và sự nguy hiểm của QUYỀN THẦN, đến khi làm vua, Lê Hoàn nhất quyết nắm giữ quân quyền. Gần như tất cả các chiến dịch, ông ta đều thân chinh cầm quân. Vai trò quân sự của các quan lại chủ chốt như Tổng quản Từ Mục, thậm chí Thái úy Phạm Cự Lượng đều rất mờ nhạt. Phạm Cự Lượng tuy là Thái úy (đứng đầu triều đình về quân sự) nhưng lúc chết lại đang làm công việc là đi khai sông mới từ Đồng Cổ đến Bà Hòa!

Để tránh lặp lại bài học đắt giá của họ Đinh (bị giết người đứng đầu là mất hết), Lê Hoàn quyết định chia quyền cho các con (“lọt sàng xuống nia”, người này bị giết thì vẫn còn người khác, quyền lực vẫn là của họ Lê). Tuy nhiên, nắm chặt quân quyền không có nghĩa là tránh được chuyện tranh đoạt hoàng thống. Quân đội Tiền Lê nằm trong tay 12 vương tử. Vì vậy, không có QUYỀN THẦN SOÁN ĐOẠT nhưng lại có VƯƠNG TỬ CHI TRANH. Lê Ngân Tích chết, Lê Long Việt làm vua được 3 ngày rồi bị giết; Ngự Bắc vương Lê Long Cân, Trung Quốc vương Lê Long Kính khởi binh chống đối. Kết cục của họ lẫn của cả vương triều đều không tốt đẹp gì.

3 – BA ĐIỂM CHUNG TRONG CÁC CUỘC TRANH ĐOẠT HOÀNG THỐNG THỜI ĐINH-TIỀN LÊ

Một, luôn hiện hữu sự mất cân bằng quyền lực. Thời Đinh, quyền thần giữ thế lớn, thừa cơ soán đoạt. Thời Tiền Lê, vương tử nắm đại quyền, cát cứ tranh đoạt.

Hai, tính chính thống của người được chỉ định kế vị bị suy yếu (hoặc trưởng tử bị phế – Đinh Liễn, hoặc là không chỉ định rõ người kế vị như trường hợp Lê Đại Hành). Mất đi tính chính thống, bộ phận quan lại thường có xu hướng hoang mang không biết tôn phò ai.

Ba, thời điểm diễn ra thường nằm ở sau cái chết của vị vua lập quốc, vốn là lúc các cơ cấu phân bổ quyền lực chưa hoàn thiện, các cơ chế vận hành hành chính-quân sự chưa được trơn tru và chưa có đủ quán tính để duy trì ổn định.

4 – NHÀ LÝ ĐÃ RÚT KINH NGHIỆM NHƯ THẾ NÀO?

Ngay sau khi Lý Thái Tổ mất, thời Lý cũng xảy ra loạn Tam Vương. Nhưng vì sao cuộc “vương tử loạn” này lại không kéo đổ vương triều nhà Lý? Có ba lí do:

4.1 – TÍNH CHÍNH THỐNG

Lý Thái Tổ đã sáng suốt chọn trưởng tử Phật Mã nối ngôi. Tính chính thống khiến cho các thần tử như Lê Phụng Hiểu, Lý Nhân Nghĩa ra sức dốc lòng phục vụ, mà binh sĩ cấp thấp và các tướng lĩnh cấp trung cũng không phải lâm vào tình trạng hoang mang và dễ bị sách động như thời của Phạm Cự Lượng.

4.2 – HOÀN THIỆN CƠ CẤU QUYỀN LỰC TRUNG ƯƠNG

Trong thời gian cai trị của mình, Lý Thái Tổ đã tích cực xây dựng và hoàn thiện cơ cấu phân bổ quyền lực, cơ chế vận hành hành chính-quân sự. Thời gian trị vì của Lý Thái Tổ là gần 20 năm, đủ để cho ông làm việc này; trong khi thời gian trị vì của Đinh Tiên Hoàng chỉ là 11 năm, và của Lê Đại Hành là tuy hơn 20 năm nhưng vấn đề xây dựng và bổ sung chế độ là rất hạn chế.

Còn nhà Lý?

Trong Đại Việt Sử Ký Toàn Thư (ĐVSKTT) và Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục (KĐVSTGCM), các hoạt động thiết lập điển chương, chế độ, hoàn thiện bộ máy quản lý trung ương được Lý Thái Tổ chú trọng hơn rất nhiều so với Lê Đại Hành.

Bộ máy quản lý tiến bộ hơn gián tiếp hạn chế sự mất cân bằng quyền lực. Các vương tử như Vũ Đức Vương, Đông Chinh Vương… tuy có nắm binh quyền, nhưng các thần tử như Lý Nhân Nghĩa, Lê Phụng Hiểu cũng không kém. Có sự cân bằng quân quyền, có chính danh và sức hiệu triệu, Lý Phật Mã thắng lợi là điều dễ hiểu.

4.3 – QUYỀN LỰC ĐỊA PHƯƠNG XUẤT HIỆN

Khác biệt quan trọng ở Đinh và Lý là chỗ này: một bên lấy sức mạnh quân sự từ Hoa Lư chi phối cả nước: ai nắm quyền kiểm soát Hoa Lư, kẻ đó sẽ làm chủ đất nước. Còn bên kia cơ cấu quyền lực vương triều đã thay đổi hoàn toàn. Thủ đô được dời về Thăng Long, triều đình tổ chức theo lối chư hầu, mỗi địa phương đều có đại diện ở triều đình, quân đội lúc này là tập hợp của toàn bộ các địa phương trên cả nước, nên nhà vua phải nhận được sự ủng hộ của toàn bộ/phần lớn quan lại mới có thể tại vị.

Ví dụ: Lý Thường Kiệt, Đỗ Anh Vũ nắm toàn bộ quân đội, nhưng chuyện soán đoạt (hoặc âm mưu soán đoạt) vẫn không xảy ra.

***

PHẦN 2: NGHI ÁN THIÊN CỔ: LÊ NGHI DÂN

Bức ảnh các bạn đang xem, chính là Lê Nghi Dân. Nhân vật chính của chúng ta hôm nay. Xin đừng bàn thêm nữa về các phốt đạo văn hay lộn tùng phèo của Thành Kỳ Ý. Ở đây là hình minh họa, và đó là hình minh họa đẹp nên tôi chọn.

Thân ái !

6.1 – TÍNH CHÍNH THỐNG CỦA LÊ NGHI DÂN?

Bang Cơ là con thứ, là sản phẩm của hành động “phế trưởng lập thứ”, nhưng cũng là ý chỉ do tiên đế Lê Thái Tông để lại rất rõ ràng. Trong bối cảnh phong kiến và nền tảng ý thức hệ thời điểm đó, dĩ nhiên số đông quần thần tuân theo lời của Thái Tông.

Còn Nghi Dân? Anh ta là trưởng tử. Nhưng anh ta bị Thái Tông phế truất cũng là rõ ràng (dù nguyên nhân rất vô lý). Mà chuyện anh ta binh biến, giết vua cướp ngôi lại càng sự thật không thể chối cãi. Trong chuyện giết vua, ý thức hệ phong kiến hoàn toàn chống lại Nghi Dân. Theo những cứ liệu lịch sử còn lại, thì không thấy có dấu hiệu nào cho thấy Nghi Dân liên kết được hoặc có được sự ủng hộ từ bất cứ đại thần có quyền lực nào. Những người giúp anh ta làm binh biến chỉ có Đô chỉ huy Lê Đắc Ninh là quan viên cao cấp nhất, nhiệm vụ là giữ cấm binh. Bọn tay chân Phạm Đồn, Phan Ban và Trần Lăng chỉ được coi là “đồ đảng”, mà lực lượng phản biến chính cũng chỉ là “hơn trăm tên vô lại” [5] hoặc nhiều lắm cũng chỉ là “phường chó lợn hơn ba trăm đứa” [6] mà thôi.

Vậy Nghi Dân có xây dựng và tạo lập lại tính chính thống cho mình không? Câu trả lời là có.

Bài văn “đại xá thiên hạ” được Nghi Dân ban bố sau khi lên ngôi, xét riêng về lời lẽ có thể coi là đầy đủ chuẩn mực cho một vụ đoạt quyền.

– Nó có lí do đầy đủ (“Trẫm là con trưởng của Thái Tông Văn Hoàng Đế, trước đây đã được giữ ngôi chính ở Đông cung. Chẳng may Tiên đế đi tuần miền đông, bỗng băng ở bên ngoài. Nguyễn Thái hậu muốn giữ vững quyền vị, ngầm sai nội quan Tạ Thanh dựng Bang Cơ làm vua, bắt trẫm làm phiên vương”);

– Nó có mượn ý trời và lòng người (“từ đó đến giờ, hạn hán sâu bệnh liên tiếp xảy ra, tai dị luôn luôn xuất hiện, đói kém tràn lan, trăm họ cùng khốn”);

– Nó có đối tượng nhường ngôi cho mình (“Diên Ninh tự biết mình không phải là con của tiên đế, hơn nữa lòng người ly tán, nên ngày mồng 3, tháng 10 năm nay, đã ra lệnh cho trẫm lên thay ngôi báu”);

– Nó có ra vẻ khiêm cung mà từ chối (“Trẫm nhờ người trông xuống, tổ tông phù hộ, cùng các vương, đại thần, các quan văn võ trong ngoài đồng lòng suy tôn, xin trẫm nên nối đại thống, hai ba lần khuyên mời, trẫm bất đắc dĩ đã lên ngôi”).

Không may cho Nghi Dân, vì sự hạn chế về thời gian và lực lượng, anh ta không thể thực hiện hết một loạt quá trình chuyển giao quyền lực phức tạp. Chuyện Bang Cơ nhường ngôi, rồi Nghi Dân mấy lần từ chối…vì thế hoàn toàn là lời nói suông, còn quần thần ai cũng rõ chân tướng vụ việc: đó là một vụ giết vua đoạt quyền chỉ kéo dài trong BỐN NGÀY

(thử so sánh với câu chuyện bên Trung Quốc, ở đây là Tam Quốc Diễn Nghĩa: Tào Phi sau bốn lần được Hán Hiến Đế nhường ngôi mới “dám” ngồi lên ngai vàng, tốn gần MƯỜI THÁNG thời gian).

6.2 – NỖ LỰC TRONG CÔ ĐƠN

Ta thấy rõ ràng như sau: Nghi Dân chỉ có một lực lượng đơn sơ (tối đa 300 người) điều đó cho thấy chuyện binh biến là do dục vọng cá nhân của Nghi Dân thôi thúc, chứ không đại diện cho một ý chí hay lý tưởng của một tập đoàn quyền lực nào. Nghi Dân chỉ đơn giản là muốn lấy lại thứ anh ta cho rằng vốn thuộc về mình.

Và tương ứng, cái mà anh ta đoạt được cũng chỉ là tính mệnh của Bang Cơ, chứ không phải là triều đình và quan lại, càng không phải là xã tắc – vốn được xây dựng trên nền tảng của ý thức hệ phong kiến.

Và vì thế khi không có một cơ sở quyền lực vững chắc, không có một sự ủng hộ đáng kể nào, Nghi Dân giữ ngôi được 8 tháng cũng đã là cố gắng hết sức.

Giết ngôi đoạt quyền là điểm chết người mà dù có cố gắng thế nào anh ta cũng không khỏa lấp được. Về dòng dõi, có thể Bang Cơ hứng chịu nhiều nghi ngờ huyết thống, và rõ ràng Nghi Dân là trưởng. Nhưng binh biến bằng bạo lực chỉ hoàn toàn mang lại bất lợi cho Nghi Dân và thậm chí tước đi tính chính thống của anh ta.

Lên ngôi nhờ binh biến, giết vua, không có sự chuyển tiếp chính trị phù hợp, tính chính thống ắt suy giảm, sự ủng hộ không thể nói là nhiều. Không có được sự ủng hộ của quần thần ắt chính lệnh sẽ khó thực thi, mà quyền lực cũng sẽ càng khó duy trì, Nghi Dân bị đẩy đến bước đường cùng là phải thanh lọc bớt thế lực cựu thần vẫn đang tiếc nhớ Bang Cơ, qua đó bồi đắp thế lực của riêng mình.

Đương nhiên, triều thần không chấp nhận việc này, và đó là cũng cái cớ cho họ ra tay. Lẽ dĩ nhiên, trong chính sử, điều này sẽ được chép lại là: Nghi Dân “tin nuông bọn gian tà, giết hại đại thần, thay đổi hết phép tắc của tiên tổ” [7].

6.3 – NGHI DÂN CÓ THỰC SỰ LÀ TỘI NHÂN CỦA LỊCH SỬ?

Để công bằng, cần có cái nhìn từ nhiều hướng:

+ Với lịch sử, Lê Nghi Dân không phải là tội đồ. Anh ta chỉ xen giữa 17 năm trị vì ổn định của Nhân Tông với 38 năm huy hoàng của Thánh Tông bằng 8 tháng của riêng mình (không mắc sai sót gì) mà thôi.

+ Với Bang Cơ, đương nhiên anh ta là hung thủ sát hại. Nhưng nhìn ngược lại, với anh ta thì Bang Cơ là gì? Một đứa con rất có thể không phải là con đẻ của Thái Tông như ĐVSKTT nhắc tới, hay một kẻ đã cướp đi ngai vàng vốn thuộc về trưởng tử như anh ta?

+ Với Tư Thành, Nghi Dân rõ ràng là một hoàng huynh tốt, không những vậy, còn là kẻ đem lại may mắn. Nhờ có Nghi Dân, Tư Thành mới được làm vua. Không có binh biến của Nghi Dân, triều đại của Lê Nhân Tông sẽ còn nối dài, và công tích của Tư Thành rất có thể chỉ dừng lại ở mức độ của một hoàng đệ tốt, một năng thần trị quốc. Cũng chính là Nghi Dân đã đối xử rất tốt với Tư Thành khi lên ngôi: phong cho Tư Thành làm Gia Vương và thậm chí còn xây phủ đệ cho Tư Thành ở bên phải nội điện [8]. Tư Thành sẽ có số phận ra sao nếu Nghi Dân cũng đối xử với Tư Thành như cách mà Tư Thành đối xử với Khắc Xương sau này?

+ Với chính bản thân mình, Nghi Dân đã thỏa mãn được dục vọng cá nhân. Dù có dùng lí do “chính nghĩa” thế nào đi nữa để biện minh, thì dục vọng vẫn là dục vọng. Và có lẽ anh ta đã không lường hết được hậu quả khi binh biến mà không có một cơ sở vững chắc về chính trị và quân sự hậu thuẫn. Nhưng anh ta có hối hận không thì ai mà biết được. Có thể anh ta là tội đồ, hoặc cũng có khi là người hùng vì đã sống đúng với nguyện vọng của bản thân mình vậy. “Một phút huy hoàng” hay “le lói suốt trăm năm” rốt cuộc là những lựa chọn rất khó khăn mà nhiều khi chỉ mang tính thời điểm.

+ Với thiên hạ: Thực hiện một loạt các cải cách quan trọng, chẳng hạn chuyện chia đặt quan chức sáu bộ, sáu khoa, bàn đặt chức ở phủ, huyện và châu… được đưa ra, và nó cho thấy Nghi Dân không phải là vua dở.

Sau này chính Lê Thánh Tông đã kế thừa.

Nhìn từ nhiều góc độ mới thấy, phán xét một con người là không hề đơn giản, và sẽ rất dễ thiên lệch nếu thiếu vắng bối cảnh và liên hệ với con người-xã hội xung quanh họ. Lê Nghi Dân là kẻ giết em đoạt ngôi, nhưng cũng là kẻ trước đó đã mất ngôi trong uất ức. Nghi Dân buộc phải giết Bang Cơ vì thời gian và lực lượng không cho phép làm khác đi, nhưng Nghi Dân vẫn đối xử tốt với Tư Thành (dù anh ta là người hiểu rõ nhất cái nguy hiểm khi chủ quan với huynh đệ mà Bang Cơ chính là bằng chứng).

Cái dở nhất của Nghi Dân, và cũng là cái đau nhất, chính là không chịu dừng lại, không thể cam lòng mà thôi. Bị đánh cắp nhiều thứ, nhìn hoàng đệ của mình sáng lập nên một triều đại huy hoàng, không cam lòng mà quyết tâm giành giật, quyết tâm chiến đấu, chấp nhận mất mát, cam chịu thất bại, tất thảy đều là lựa chọn mà có lẽ Nghi Dân đã lường trước hậu quả. Chỉ tiếc cho những lựa chọn khác: Mất đi vương vị, nhưng vẫn còn là hoàng thân cơ mà? Không thể cai trị, nhưng có thể phò tá đấy thôi?

Nên ai đó mới nói rằng, hạnh phúc trong cuộc đời này, là biết đủ…

Tham khảo:

[1]: Hai câu thơ này không rõ tác giả, nhưng lấy ý từ bài thơ của Thôi Giao:
Tặng tỳ
Công tử vương tôn trục hậu trần,
Lục Châu thuỳ lệ trích la cân.
Hầu môn nhất nhập thâm như hải,
Tòng thử Tiêu lang thị lộ nhân.
Thôi Giao
Mà sau này, Nguyễn Du cũng mượn ý thơ này trong truyện Kiều:
“Có điều chi nữa mà ngờ,
Khách qua đường để hững hờ chàng Tiêu”
[2,3,4,5]: theo Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục.
[6,7,8]: theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư.

– N.Đ.Thuyên.

****

Ngoài các ý mà anh Thuyên đã đưa ra về Lê Nghi Dân. Tôi xin bổ sung thêm comment của một số bạn khi bàn về câu hỏi “LÊ NGHI DÂN CÓ THẬT LÀ TỘI ĐỒ LỊCH SỬ?’

Bạn Khanh Nguyen Nam viết như sau:

Sinh ra trong gia đình đế vương, đi sai 1 bước là vạn kiếp bất phục.

Cá nhân mình thấy cuộc chiến tranh đoạt ngai vàng giống như thuật ” luyện cổ ” trong chuyện kiếm hiệp hay tiên hiệp vậy. Nhiều con độc cổ mạnh mẽ được nhốt chung một chỗ để cắn xé lẫn nhau. Con cuối cùng bước ra ngoài là Cổ vương độc nhất, hùng mạnh nhất. Bậc đế vương nào cũng biết điều này nhưng ít ai ngăn cản. Vì quá trình này cần thiết để chọn ra người có khả năng nhất có thể duy trì sự tồn tại của vương triều.

Vì thế ko thể coi Lê Nghi Dân là tội nhân của lịch sử được. Ông chỉ là nạn nhân của 1 quá trình chọn lọc đầy tàn bạo và vô tình. Sai lầm lớn nhất của ông có lẽ là việc đầu thai vào gia đình đế vương để rồi bị ép trở thành 1 phần của định mệnh nghiệt ngã.

Bạn Trộc Quang Là cho ý kiến: lịch sử là do kẻ thắng cuộc viết, dù có khách quan lắm thì cũng phải ảnh hưởng ít nhiều của thời cuộc. Và trường hợp Nghi Dân là một tiêu biểu.

Bỏ qua các yếu tố đạo đức, thì có tin là Lê Bang Cơ không phải là con ruột của Vua Lê Thái Tông mà bà Nguyễn Thị Anh đã mang thai trước khi vào làm phi tần để che dấu bí mật thì bà gây nên vụ án Lệ Chi viên. Nghi Dân đoạt ngôi của Bang Cơ, Tư Thành đoạt ngôi của Nghi Dân. Nếu Nghi Dân đúng khi đoạt ngôi của Bang Cơ ( lý do : Bang Cơ không phải là con vua Lê Thái Tông ) thì binh biến của Tư Thành là tội phản nghich. Còn nếu Nghi Dân sai thì Tư Thành chiếm ngôi là đường đường chính chính dưới danh nghĩa diệt “hôn quân”. Và để khẳng định tính hợp pháp của mình thì Lê Tư Thành không công nhận Lê Nghi Dân đồng thời truy tôn Lê Bang Cơ.

Bạn Lương Tun góp ý thêm: Sử gia Dương Trung Quốc từng ghi nhận rằng: “Thực tế cho thấy khi Lê Thánh Tông chấp chính thì vị minh quân này đã tiếp thu hầu như nguyên vẹn những việc Nghi Dân đã làm, điều này chứng tỏ nếu nghi dân không bị lật đổ có thể Đại Việt cũng có thể thịnh trị như thời Lê Thánh Tông vậy.”

Sử Việt ko ghi nhận Nghi Dân như 1 hoàng đế của nhà Hậu Lê, điều này có đôi chút bất công với ông, đáng lẽ hoàng đế dòng đích của vua Thái Tông, với những cải cách nền tảng cho vua Thánh Tông sau này, phải được sử gia công nhận mới đúng.

Hơn nữa việc Nghi Dân bị phế ngôi vị Thái Tử hoàn toàn ko liên quan gì tới ông, ông bị phế chỉ vì mẹ ông bị Thái Tông thất sủng. Hơn nữa sau khi lên ngôi, ngoài việc giết chết những ng muốn lất đổ mình thì ông chưa làm điều gì chứng tỏ ông kém năng lực, thậm chí ông đã tiến hành 1 số cải cách, đặt lại phủ, huyện, ông còn vời Tư Thành về xây vương phủ cho ngài ở, phong vương cho 2 em là Khắc Xương và Tư Thành. Chỉ tiếc rằng việc ông lật đổ Bang Cơ không được lòng các đại thần và cuối cùng cũng bị binh biến.

Bạn Khanh Nguyen Nam cũng thông cảm cho Nghi Dân khi nhận định Nghi Dân chẳng qua là đòi lại thứ thuộc về mình, Tư Thành thì “nhổ cỏ tận gốc”. Giả sử nếu đặt lên công thì rõ ràng Thánh Tông – Tư Thành hơn hẳn, nhưng đó là vì ông là người chiến thắng, là người cuối cùng còn sống nên có thể lưu danh hậu thế, nếu xét về tội thì theo tôi có lẽ cả Nghi Dân và Tư Thành đều mang tội như nhau, đều mang tiếng giết huynh trưởng, nhưng với Tư Thành có lẽ hơi tréo ngoe một chút: ông tố cáo Nghi Dân là giết vua thì mặc nhiên công nhận tính chính thống của Bang Cơ dù thật ra nếu xét trên lời đồn và những ghi chép sau này của các đại thần thì việc cướp ngôi của Nghi Dân lại có vẻ … hợp lý.

LỜI KẾT:

Hãy thở ra một hơi, và hãy cảm ơn tất cả những người bạn đã tham gia cuộc tranh luận từ tháng 11 đến này, những người đã dành công sức viết nên các luận điểm để được tổng hợp hôm nay. Sau đó khép hơi thở lại và bật ra 4 chữ “Sử Việt ta hay”.

Đây không phải là một công trình nghiên cứu chính thống, nhưng đây là tấm lòng của hậu thế nhìn về các bậc tiền nhân.

Chúng ta, các bạn, tất cả những người đang đọc những dòng này, và 6000 chữ của bài hôm qua, hay 4000 chữ của bài Lê Thánh Tông trước đó. Các bạn đã được nhìn một bức màn lịch sử về “Tứ vương đoạt đích” được vén lên để cùng nhìn và cảm khái. Bạn được biết thêm về tài năng của Tư Thành, bi kịch của Nghi Dân và âm mưu tranh đoạt của chế độ phong kiến thời Hậu Lê của Việt Nam.

Chúc mọi người có về cho mình những kiến thức tích cực.

Trân trọng !

(Dũng Phan)

Theo X-File Of History

Facebook Comments