Cẩm Nang Về Cuộc Khủng Hoảng Kinh Tế – 2.5 Thủ Phạm Thứ 3: Sự Kích Thích Đầu Cơ Giả Tạo Của Chính Phủ

Nhưng trong những lần thảo luận về cuộc khủng hoảng thế chấp có lẽ đã có quá nhiều nhấn mạnh về những khoản cho vay dưới chuẩn. Mặc dù động lực đằng sau việc bỏ các tiêu chuẩn cho vay truyền thống là mục tiêu chính trị nhằm tăng quyền sở hữu nhà của chính phủ, đặc biệt là trong các sắc dân thiểu số, các gói cho vay sáng tạo như cho vay 100% (thế chấp không cần đặt cọc) trở thành những tính năng cơ chế của ngành, đặc biệt khi Fed làm ngập các ngân hàng với nguồn cho vay dự trữ. Việc thúc đẩy các quy định cho vay dễ dàng dành cho những người thu nhập trung bình và thấp, đã quá phổ biến và có hệ thống, kéo dài cả một thập kỷ, không ngạc nhiên khi lan sang cả những tiêu chuẩn cho người vay thu nhập cao. “Khi suy nghĩ ủy mị này đã có chỗ đứng,” Liebowtiz viết, “Thật ngây thơ để tin rằng cuộc tấn công những tiêu chuẩn bảo lãnh truyền thống dài tới cả thập kỷ này sẽ không dẫn đến những tiêu chuẩn dễ dàng hơn cho cả những người vay thu nhập cao. Khi mọi người ăn mừng vì những tiêu chuẩn đảm bảo lỏng lẻo hơn, sự hạ thấp này sẽ không thể giữ được trong giới hạn chật hẹp.”Những điều khoản thế chấp không chỉ dễ dàng hơn cho những người đầu cơ, mà những cơ hội tài chính dễ dàng hơn tạo ra đợt sóng nhu cầu nhà đất dẫn tới việc đội giá bất động sản, và tác dụng ngoài ý muốn là lôi những nhà đầu cơ nhảy vào thị trường ngay từ đầu. (Một yếu tố đáng kể trong việc nhà đất tăng giá là mức lãi suất giả thấp được tạo bởi Fed, như chúng ta sẽ thấy.)

Thành ra sự gia tăng khủng khiếp của các tài sản bị tịch thu xảy ra cùng lúc với cả các khoản cho vay dưới chuẩn và chuẩn. Vì vậy các khoản vay dưới chuẩn, như tiêu đề đôi lúc gợi ý, đã không lây sang thị trường cho vay chuẩn. Thực ra, từ năm 2006 qua năm 2007, các tài sản tịch thu tăng nhiều hơn ở các khoản vay chuẩn nhiều hơn những khoản vay dưới chuẩn. Tài sản tịch thu trong thị trường dưới chuẩn nhiều hơn về mặt số lượng tuyệt đối, nhưng theo tình hình thì các khoản cho vay dưới chuẩn lại chịu mức lãi suất cao hơn.

Các tài sản tịch thu chủ yếu không phải đến từ thế chấp dưới chuẩn, mà từ lãi suất điều chỉnh – thứ mà Alan Greenspan đã thúc giục mọi người sử dụng – cho dù là chuẩn hay dưới chuẩn. Những gói vay thế chấp với lãi suất điều chỉnh bắt đầu với một tỉ lệ mời gọi, một mức lãi suất thấp làm cho những thế chấp này ban đầu có vẻ hấp dẫn. Sau vài năm lãi suất được điều chỉnh theo một loạt các chỉ số kinh tế. Người mua sẽ nhận lãi suất cao hơn và đôi khi thấp hơn. Thế chấp lãi suất điều chỉnh có thể là một chức năng hữu ích trong môi trường lãi suất biến động, khi cả người vay lẫn người cho vay không thể biết chắc tương lai sẽ thế nào. Người cho vay sẽ dễ mở rộng các khoản vay trong những thời kỳ hỗn loạn nếu một phần rủi ro được chia sẻ với người vay.

Thành ra tỉ lệ gia tăng của thế chấp lãi suất điều chỉnh chuẩn cao hơn thế chấp không chuẩn, được cho là nơi khởi nguồn mọi rắc rối. Điều này cũng vậy, tạo ra ngộ nhận rằng cuộc khủng hoảng thế chấp xảy ra bởi vì những kẻ cho vay vô đạo đức hà hiếp những người yếu thế, những người không thể hiểu vì lý do gì mà họ đã đồng ý ký những điều khoản thế chấp. Nếu đó là thực sự, làm thế nào mà những người vay thế chấp lãi suất điều chỉnh tiêu chuẩn lại bị lừa nhiều hơn người vay dưới chuẩn?

Lời giải thích cho việc gia tăng tài sản bị tịch thu đến từ những dữ liệu thu được, liên quan đến những người mua nhà đầu cơ, đánh cược rằng giá nhà sẽ tiếp tục tăng. Thể loại này bao gồm cả những người “lật kèo” nhà đất, nghĩa là họ sửa chữa, nâng cấp căn nhà rồi rao bán lại với giá cao. Cũng gồm những người tìm kiếm lợi nhuận bằng cách mua nhà, đợi một thời gian ngắn, rồi bán lại dựa trên sự tăng giá của ngôi nhà. Trong những năm gần đây việc mua nhà đầu cơ ước tính chiếm khoảng 1/4 toàn bộ khối lượng giao dịch nhà đất. Cả 2 dạng đầu cơ sẽ bị thu hút bởi gói thế chấp với lãi suất điều chỉnh, khi họ có ý định bán các căn nhà của họ trước khi kỳ hạn lãi suất mời gọi chấm dứt.

Khi giá nhà bắt đầu giảm nhẹ (chỉ 1.4% sau 6 tháng bắt đầu từ cuối năm 2006), tài sản bị tịch thu tăng vọt. Đạt mức kỷ lục, tài sản tịch thu bắt đầu tăng vọt lên một cách khủng khiếp, tới 43% trong suốt thời kỳ đó. Thường thì sự tăng vọt bất ngờ có vẻ không cân xứng với các tài sản bị tịch thu chủ yếu liên quan đến chủ nhà đã dùng các khoản thế chấp linh hoạt, không đặt cọc để mua những ngôi nhà với kế hoạch sẽ bán lại kiếm lời. Với giá nhà không tăng và viễn cảnh suy giảm lợi nhuận, nhiều người vay đã biến mất. Vì không cần đặt cọc nên việc bỏ đi đơn giản hơn rất nhiều.

Sự sụp đổ bất ngờ này chỉ ra một thủ phạm khác: các cơ quan tư nhân có nhiệm vụ đánh giá mức tín dụng của những thế chấp này. Tại sao các cơ quan đánh giá lại làm tệ đến thế trong việc định giá yếu tố rủi ro trong những thế chấp này? Nó có thể được biện hộ rằng trong thời gian giá nhà tăng đều đặn nhờ vào chính sách tín dụng giá rẻ của Fed, những thế chấp này đang hoạt động tốt, và thế là các cơ quan đánh giá này đưa ra một quyết định hời hợt là đánh giá chúng ở mức cao. Một trong những lời giải thích khác là các công ty đánh giá này biết gió đang thổi chiều nào, với mọi cơ quan liên bang có liên hệ dù chỉ nhẹ nhất đến thị trường nhà đất đều khuyến khích nhiều sáng kiến về quyền sở hữu nhà khác nhau, liên quan đến các tiêu chuẩn cho vay thấp hơn. Theo nhà kinh tế học Art Carden, “Các điều lệ của SEC treo trên đầu các cơ quan đánh giá như thanh gươm Damacus, và các nhà đánh giá không muốn thu hút sự chú ý điều tiết quá mức bằng cách chống lại một sáng kiến chính trị phổ biến.”

Hàng đống các cơ quan đánh giá đã thừa nhận, tuy nhiên, thực ra họ là một liên minh do SEC tạo ra được bảo vệ khỏi sự cạnh tranh bằng các hàng rào quy định. “Cho phép các cơ quan đánh giá được chính phủ thừa nhận được bảo vệ khỏi sự cạnh tranh tự do,” Liebowitz viết, “Có thể mục tiêu của những cơ quan này là không muốn tạo ra những làn sóng chính trị bằng cách đung đưa con thuyền thế chấp, liều lĩnh với một tổn thất tiềm tàng cho các lợi ích được bảo vệ của họ.”

Liên minh các cơ quan đánh giá này xứng đáng với mọi lời trách móc mà họ nhận được. Đồng thời, như chúng ta sẽ thấy, sự can thiệp của quỹ dự trữ liên bang vào nền kinh tế làm sai lệch các chỉ số kinh tế và làm khó tất cả mọi người, kể cả các cơ quan đánh giá, trong việc nhận thức tình trạng thực sự của nền kinh tế. (Đó là thủ phạm thứ 5.)

Facebook Comments