Cẩm Nang Về Cuộc Khủng Hoảng Kinh Tế – 2.4 Thủ Phạm Thứ 2: Luật Tái Đầu Tư Cộng Đồng Và Những Giải Pháp Cho Vay Ưu Đãi

Fannie và Freddie không phải những tổ chức duy nhất tại Washington thúc đẩy việc cho vay nợ dễ dàng. Các cơ quan chính phủ khác cũng tạo áp lực lên những người cho vay tạo ra những khoản vay có tính rủi ro hơn nhân danh “sự bình đẳng chủng tộc.” Không muốn gặp rắc rối với những vụ kiện có thể tốn tới hàng trăm triệu đô, những người cho vay đành phải làm vậy.

Cáo buộc về kỳ thị chủng tộc trong việc cho vay đã tiếp sức cho cuộc đua này. Năm 1992, một nghiên cứu thực hiện bởi ngân hàng dự trữ liên bang Boston tuyên bố đã tìm ra chứng cứ thậm chí cho phép sự khác biệt trong mức độ tín nhiệm, các sắc dân thiểu số vẫn nhận được các khoản vay thế chấp với tỉ lệ thấp hơn người da trắng. Nghiên cứu này được ca ngợi rộng rãi như kết luận cuối cùng bởi những người tin vào nó, rằng các ngân hàng Mỹ có tội trong việc kỳ thị người da đen và Tây Ban Nha (mặc dù không kì thị người Châu Á, nhưng họ có tỉ lệ vay thế chấp còn cao hơn cả người da trắng), và bắt buộc phải làm tín dụng tiện lợi hơn trên diện rộng cho tất cả tầng lớp dân cư. Các chứng cứ sau đó phơi bày sự giả dối của cuộc nghiên cứu, và cho thấy rằng không có bằng chứng nào về sự kỳ thị vì những dữ liệu bị sửa chữa, nhưng đã quá trễ. Các nhóm phản đối đã có vũ khí và họ muốn dùng nó.

Đạo Luật Tái Đầu Tư Của Cộng Đồng (The Community Reinvestment Act – CRA), một bộ luật trong nhiệm kỳ của Jimmy Carter đã được tiếp tục bởi chính quyền Clinton, đã nhận được sự chú ý và chỉ trích từ khi sự sụp đổ của thị trường bất động sản bắt đầu. Bộ luật đó đẩy các ngân hàng đến những vụ kiện kỳ thị chủng tộc nếu họ không có đủ các khoản cho vay dành cho các sắc dân thiểu số để làm thỏa mãn chính quyền. Nhưng không chỉ CRA làm giảm thấp các tiêu chuẩn cho vay. Đó là cả một hệ thống chính trị. Và theo Stan Liebowitz của trường đại học Texas, một điều mà các cuộc điều tra giấy tờ bất động sản từ năm 1990 cho đến năm 2006 không cho thấy bất kỳ gợi ý nào rằng “có những tiêu chuẩn cho vay thấp hơn mà mọi cơ quan chính quyền có liên quan đến nhà đất, quốc hội, tổng thống và các GSE đã cố thúc đẩy – và những ngân hàng đầy lòng sám hối thậm chí là ủng hộ với sự nhiệt tình – có thể dẫn đến những mặc định quá cao, đặc biệt nếu giá nhà đất không ngừng tăng.”

Một thời gian ngắn sau khi nghiên cứu về kỳ thị được công bố, chi nhánh  Fed ở Boston cũng cho ra một bản hướng dẫn cho các ngân hàng về việc cho vay thế chấp không kỳ thị. Nó giải thích rằng các ngân hàng sẽ gặp rắc rối khi thu hút các công ty từ những sắc dân thiểu số nếu tiêu chí cho vay của ngân hàng có chứa “các đánh giá tùy tiện hoặc không hợp lý về mức độ tín dụng.” Chúng ta có thể giả định an toàn rằng các ngân hàng không cần phải được cho biết những “đánh giá tùy tiện hoặc không hợp lý về mức độ tín dụng” đó sẽ có tác động xấu đến ngành ngân hàng. Điều Boston Fed thực sự ngụ ý là các tiêu chuẩn ngân hàng là “tùy tiện hay không hợp lý” nếu các khách hàng thuộc sắc dân thiểu số không chiếm một tỉ lệ đáng kể trong các khoản cho vay của ngân hàng. Phần còn lại của cuốn sổ tay đầy những lời nói phải đạo chính trị tương tự – về lịch sử tín dụng, tiền đặt cọc, và những nguồn thu nhập truyền thống, tất cả được trình bày như những trở ngại có thể được loại bỏ nhằm nâng cao tỉ lệ sở hữu nhà của những người yếu thế nhất trong xã hội.

Một cách tự nhiên, các ngân hàng làm điều mà những điều tiết của chính phủ muốn. “Các ngân hàng bắt đầu nới lỏng tiêu chuẩn cho vay,” Liebowitz nói. “Nới lỏng và nới lỏng hơn nữa, trong sự vui mừng của các chính trị gia, những nhà giám sát và các công ty quốc doanh GSE.” Bear Stearns, người bảo lãnh chính của các cổ phiếu thế chấp, biện hộ cho sự mạnh mẽ của những tài sản thế chấp này trên những lý lẽ Orwell tương tự như Boston Fed. Các đánh giá tín dụng của một người vay không nên quá quan trọng như những lời giải thích. “Các khoản cho vay của CRA không nhất thiết phải phù hợp với khung tín dụng tiêu chuẩn.” Và như vậy thông qua toàn bộ danh sách các tiêu chuẩn cho vay truyền thống.

Trước cuộc khủng hoảng nhà đất, những người ủng hộ bộ luật CRA cố viện cớ rằng đạo luật này chỉ áp dụng với những tổ chức tiết kiệm (các ngân hàng, như ngân hàng Mỹ) và rằng hầu hết các khoản cho vay thế chấp không lành mạnh nằm ngoài những tổ chức đó (những nhà cho vay chuyên nghiệp hơn như Countrywide), CRA hoàn toàn vô can trước các cáo buộc. Điều họ không nói là cách tiếp cận tương tự đối với những đánh giá rủi ro đã thông báo CRA ngập tràn toàn đấu trường cho vay thế chấp, nhờ vào các cơ quan khác thúc đẩy chiến lược cho vay lỏng lẻo, phá hoại mọi tổ chức tài chính của Mỹ: Fannie và Freddie, bộ nhà ở và phát triển đô thị (sẽ đề cập sau), quỹ dự trữ liên bang và các cơ quan khác, cùng với các bộ luật khác như đạo luật cơ hội tín dụng công bằng.

Henry Cisneros, bộ trưởng đầu tiên của Bill Clinton tại Bộ Nhà Ở Và Phát Triển Đô Thị (Department of Housing and Urban Development – HUD), nới lỏng các hạn chế cho vay cả khi đang làm việc trong chính phủ và chuyện làm ăn của ông ta trong khối tư nhân, để tăng cơ hội cho những người mua nhà không đủ điều kiện vay thế chấp trong quá khứ. Ông ta tự trở thành nhà phát triển, gia nhập KB Home, nơi ông là thành viên hội đồng quản trị, xây khoảng 428 ngôi nhà cho người thu nhập thấp tại khu phát triển Lago Vista tại San Antonio.

Nhưng thậm chí cả Cisneros cũng thừa nhận rằng bất kể những ý định tốt của ông, “những người không thể sở hữu nhà đã có được quyền sở hữu.” Tờ New York Times, đồng tình với những chính sách của ông ta, nói rằng Cisneros đã cổ vũ sự thiếu chuẩn bị trong việc mua nhà – một phần của một xu hướng lan rộng trên toàn quốc với những hậu quả kinh kế nghiêm trọng. Ông thường phản ánh vai trò của mình trong sự sụp đổ, ông nói, sự sụp đổ đã thay đổi, việc sở hữu nhà từ một thứ gì đó thuộc về tầng trung lưu thành thứ bình dân hơn. “Tôi đã chờ ai đó đến trách móc ngay cửa nhà mình,” ông nói một cách nhẹ nhàng, nhưng cũng hơi lo lắng.

Cisneros là một ví dụ điển hình của người ủng hộ có tinh thần quảng đại cho những kẻ thấp kém, cần sự giám sát của cha mẹ nhằm bảo vệ họ khỏi những tổn hại của thị trường tự do, và nhờ họ mà chúng ta đang chờ đợi để đặt sự tin tưởng của mình vào tương lai, khi “chủ nghĩa kinh tế tư bản thị trường tự do” sẽ bị thắt chặt kiểm soát hơn. Cisneros là cá nhân đại diện cho tham vọng của chính quyền liên bang nhằm mở rộng quyền sở hữu nhà, điều mà theo ý của riêng ông là hạ thấp tiêu chuẩn cho vay và chấp nhận cho những người không đủ tiêu chuẩn trước đây vay thế chấp. Và Cisneros không nghe bất kỳ cảnh báo nào về thị trường thế chấp, và không làm gì để giảm bớt sự cho vay dưới chuẩn khi ông trở lại khối tư nhân. Công ty ông, American CityVista, đối tác của KB, nơi ông là thành viên hội đồng – cùng với James A. Johnson, cựu CEO của Fannie Mae. Fannie bảo lãnh cho rất nhiều tài sản thế chấp trong quỹ đạo của KB/CityVista. Khách hàng lớn nhất của Fannie là Countrywide. Cisneros cũng là thành viên hội đồng ở đó, và im lặng khi Countrywide thúc đẩy mạnh cho vay thế chấp dưới chuẩn. Không cần nghi ngờ gì nữa, ông ủng hộ sự bành trướng của vay thế chấp dưới chuẩn; cuối cùng, làm cách nào để ông đạt được những kế hoạch đầy tham vọng về “mở rộng quyền sở hữu nhà”?

Victor Ramirez đã mua một căn nhà ở Lago Vista năm 2002, nói với Times, “Tôi là một sinh viên kiếm được khoảng 17,000 đô một năm, vợ tôi đang tìm việc. Làm thế quái nào mà chúng tôi đủ tiêu chuẩn sau những khảo sát?” Như mọi người, anh nói, đã bị “lừa để tin rằng nó dễ dàng hơn thực tế. Theo kiểu, ‘ký ở đây, ký ở đây, đừng đọc các bản in làm gì.’” Ramirez đã không nói quá khi nói mọi người đã biến thành nạn nhân; “chúng tôi chắc chắn là những nạn nhân tự nguyện,” anh thừa nhận.

Chuyện dùng nhiều “quy định” hơn là giải pháp – như việc những người điều chỉnh buộc phải ngăn chặn mọi người vướng vào các khoản vay mua nhà bình đẳng ngu ngốc, chẳng hạn – Cisneros cũng không chắc nó hiệu quả tới mức nào: “Tôi không chắc bạn có thể sắp đặt khi chúng ta đang nói về cả một quốc gia 300 triệu dân và thái độ này đã lan rộng.” Nếu như có thứ gì cần được điều chỉnh, đó là quyền tạo ra tín dụng của quỹ dự trữ liên bang, thứ dẫn đường cho sự điên cuồng như bong bóng bất động sản, nhưng trong cuộc phỏng vấn của mình với New York Times, Cisneros tuân theo quy tắc: không bao giờ nhắc đến Fed.

Andrew Cuomo, người cũng làm bộ trưởng của HUD dưới thời Bill Clinton, vui vẻ phát biểu sau một chiến thắng trong việc giải quyết “sự kỳ thị” với công ty thế chấp AccuBanc Mortgage khi buộc họ phải đưa ra các gói vay cho cái mà bộ trưởng gọi là một “hành động thừa nhận.” Tổ chức sẽ “chịu rủi ro lớn hơn trên những thế chấp này, đúng… chấp nhận thế chấp cho các gia đình mà lẽ ra họ sẽ không chấp nhận, đúng; họ lẽ ra không đủ tiêu chuẩn nhưng vì ngân hàng đã thừa nhận, đúng… Cho vay một khoản [2.1 tỷ đô] với các thế chấp có nguy cơ những rủi ro cao hơn, và tôi chắc rằng tỉ lệ vỡ nợ sẽ cao hơn với những thế chấp đó so với phần còn lại của danh mục.” Vậy bộ trưởng Cuomo thấy thoải mái khi ép buộc một ngân hàng tự phơi mình trước nhiều khoản vay vỡ nợ hơn, và đó không phải vấn đề sao?

Phe cánh tả chống chế rằng những kẻ cho vay vô đạo đức đã bắt buộc cho vay một cách thiếu trung thực với các điều khoản bất lợi hoặc phức tạp cho những người đi vay thiếu kiến thức và không ai giúp đỡ, còn phe cánh hữu tranh luận rằng những áp lực chính trị buộc các ngân hàng phải đưa ra nhiều khoản vay như vậy. Thực sự có vài bằng chứng cho trường hợp của phe cánh tả, như chúng ta đã thấy có một trường hợp phải tự thừa nhận, Henry Cisneros. Phe cánh hữu có một trường hợp khá mạnh: các nhóm cánh tả như ACORN biểu tình trên đường phố và làm cho các ngân hàng không thể làm ăn cho đến khi họ đầu hàng những yêu cầu cho vay hàng tỉ đô mà lẽ ra họ không làm. Sự đe dọa cá nhân này, cùng với một chiến dịch giảm thiểu các tiêu chuẩn cho vay tràn ngập trong các cấp chính quyền, giúp phân bổ quá nhiều tiền mới mà Fed đã tạo ra (xem phía dưới) vào thị trường nhà đất, qua đó nuôi dưỡng bong bóng nhà đất.

Facebook Comments