Cẩm Nang Về Cuộc Khủng Hoảng Kinh Tế – 2.2 Điều Gì Đã Xảy Ra?

Từ năm 1998 tới năm 2006, giá nhà bị đẩy lên cao. Một số nơi, giá của những ngôi nhà bình thường nhất đã tăng ngoài mức tưởng tượng. Việc tăng giá này khiến nhiều ngôi nhà được xây thêm, và kết quả là sự bão hòa cuối cùng cũng khiến giá bất động sản giảm. Giá nhà bắt đầu giảm bắt đầu từ quý 3 của năm 2006. Đến lúc đó, những người đang gặp vấn đề trả tiền thế chấp có thể bán những căn nhà của họ, và họ tự tin rằng mình bán được giá cao, hay thậm chí là hòa vốn. Nhưng điều này đã không còn khiến cho những người vay tiền đang gặp khó khăn.

Sự sụp đổ của thị trường bất động sản có hậu quả nghiêm trọng vượt tầm kiểm soát của những người cho vay thế chấp và sở hữu nhà. Hệ thống tài chính đã đầu tư mạnh cho chứng khoán thế chấp. Theo truyền thống, một người chủ nhà vay một khoản thế chấp tại ngân hàng địa phương và trả tiền lãi thế chấp hàng tháng. Gần đây, các ngân hàng đã có thể bán những tài sản thế chấp này bằng thứ được gọi là thị trường thế chấp lần 2 cho những tổ chức như Fannie Mae (sẽ nói thêm về họ bên dưới), người sau đó sẽ được phép nhận tiền trả thế chấp hợp tác với họ. Fannie, sau đó đã gộp những gói thế chấp này với nhau và chào bán chúng như những cổ phiếu thế chấp. Khi một nhà đầu tư mua chúng, anh ta đang mua một phần chia từ hồ thu nhập là kết quả từ mọi tiền trả thế chấp mà các chủ sở hữu nhà trả cho các khoản thế chấp hàng tháng. Ưu điểm của những chứng khoán này được cho là sự đa dạng hóa rủi ro của nó. Nói cách khác, vì nó bao gồm thế chấp rút ra từ thị trường bất động sản trên khắp nước Mỹ, nên chúng được bảo vệ khỏi những đợt sụt giá bất ngờ trong khối bất động sản tại vùng nào đó của đất nước. Những quả trứng thế chấp được bỏ vào rất nhiều rổ ở mọi nơi, như nó đã diễn ra.

Chuyện gì xảy ra nếu giá nhà đất trên cả nước bỗng sụt giảm bất ngờ và tài sản thế chấp bị tịch thu có thể tăng lên? Trong trường hợp đó, như chúng ta đã thấy vào năm 2006, người đầu cơ cổ phiếu thế chấp bỗng gặp rắc rối. Khi tài sản thế chấp bị tịch thu và nhiều người vỡ nợ với các khoản thế chấp của mình, dòng chảy của những khoản thanh toán thế chấp liên quan tới những cổ phiếu thế chấp này trở nên thấp hơn sự mong đợi của các nhà đầu tư khi họ mua nó. Những cổ phiếu này bị rớt giá, tương tự như các công ty sở hữu chúng.

Một trong những scandal liên quan tới cổ phiếu thế chấp là giới quan sát, những người có nhiệm vụ đánh giá mức độ rủi ro liên quan của nhiều cổ phiếu khác nhau, đã đánh giá những tài sản này ở mức rất cao, thường là AAA, hạng cao nhất có thể. Những người sở hữu nghĩ rằng họ đang đầu tư tiền của mình một cách an toàn và thận trọng, thực ra đã dấn thân vào nhiều rủi ro hơn so với mức đánh giá.

Đổ lỗi cho “những kẻ cho vay tham lam” hay thậm chí là những người đi vay ngu ngốc về những gì xảy ra chỉ đơn thuần nhấn mạnh thêm câu hỏi. Các yếu tố thể chế nào làm gia tăng mọi hoạt động cho vay và đi vay ngu ngốc này? Tại sao các ngân hàng lại có nhiều tiền nhàn rỗi để cho vay trong thị trường thế chấp – quá nhiều tới mức thực ra họ có thể quẳng nó thậm chí cho những người không có công việc, thu nhập, không thế chấp, không tín dụng tốt? Những hiện tượng này, cũng như bong bóng nhà đất và cuộc khủng hoảng kinh tế nói chung, đều có thể truy nguyên nhất quán đến sự can thiệp của chính phủ vào nền kinh tế.

Facebook Comments