Cẩm Nang Về Cuộc Khủng Hoảng Kinh Tế – 1.2 Nhiều Gói Cứu Trợ Hơn, Nhiều Quy Định Hơn Và Nhiều Chính Phủ Hơn

Những hành động của chính phủ khi đứng trước một nền kinh tế đang khủng hoảng xảy ra đúng theo những gì đã dự đoán. Đầu tiên, các nhân viên chính phủ chuẩn đoán nhầm vấn đề, đặt bản thân họ vô can trong mọi lỗi lầm và đùn đẩy trách nhiệm sang những người khác. Để định hướng, họ quay sang nghiên cứu nguyên nhân và thuốc chữa cho cuộc đại khủng hoảng – điều dĩ nhiên là họ làm sai bét cả. Sau đó họ vẽ ra điểm giống nhau giữa tình hình hiện tại và cuộc đại khủng hoảng bằng những giải thích sai lầm của họ.

Tiếp theo, người Mỹ được nói rằng để ngăn chặn một cuộc đại khủng hoảng mới, chính phủ không còn cách nào khác là phải triển khai những giải pháp tương tự đã thất bại để cứu đất nước ra khỏi cuộc đại khủng hoảng thực sự. Cuối cùng, đây là thời điểm những nhà cai trị thông minh của chúng ta làm mọi chuyện tệ hơn nữa, bắt đầu với (nhưng bản thân họ lại đứng ngoài) hàng loạt gói cứu trợ khổng lồ chưa từng có. Tình trạng suy sụp kinh tế vì thế sẽ tồn tại lâu hơn so với việc để cho nền kinh tế thị trường tự phục hồi.

Vào tháng 9/2008 Hạ Nghị Viện chấp nhận đề nghị gói cứu trợ 700 triệu đô – ngay sau đó được đổi tên thành “kế hoạch giải cứu” bởi chính quyền Bush và những tòng phạm truyền thông của nó – cho khối ngành tài chính, sự phản ứng của công chúng rất nhanh và rõ ràng. Thượng nghị sĩ đảng Dân Chủ Barbara Boxer của California báo cáo đã nhận gần 17,000 email nói về vấn đề này, hầu hết là tiêu cực. Có hơn 2,000 cuộc điện thoại gọi đến văn phòng California của bà (chỉ trong 1 ngày), nhưng chỉ có 40 cuộc gọi đồng tình – chiếm 2%. Trên 918 cuộc gọi đến văn phòng bà tại Washington, nhưng lại chỉ có một người ủng hộ. Những thành viên khác của quốc hội cũng được báo cáo về những phản ứng tương tự. Thượng nghị sĩ bang Ohio – Sherrod Brown báo cáo rằng 95%  các cử tri trao đổi về vấn đề này đều hoàn toàn phản đối gói cứu trợ.

Điều gì có thể làm một đại biểu quốc hội coi thường sâu sắc biểu hiện bức xúc từ phía các cử tri của ông? Đoán đại nhé. Ngành chứng khoán và đầu tư, theo Trung Tâm Phản Hồi Chính Sách (Center for Responsive Politics), đóng góp 53 triệu đô cho những nghị sĩ quốc hội và ứng cử viên tổng thống trong chu kỳ năm 2008, đứng thứ 2 chỉ sau các hội luật sư. Khi gói cứu trợ được đề cập trước hạ viện ngày 29 tháng 9, những nghị sĩ quốc hội bỏ phiếu thuận cho nhận nhiều hơn 54% số tiền từ chiến dịch đóng góp của các ngân hàng và các công ty chứng khoán hơn những nghị sĩ bỏ phiếu chống.

Ngạc nhiên là Hạ Viện thông qua nó đầu tiên. Điều đó không thể xảy ra. Thay vì kết luận rằng người dân không cần gói cứu trợ, các nhà lập pháp lại tìm cách để dự luật vẫn có thể thông qua. Chính sách của Thượng Nghị Viện gồm những khoản hỗ trợ cho các mục tiêu thông thường đáng giá hàng tỉ đô la, dự luật đã nhanh chóng được thông qua và đưa vào luật. Dĩ nhiên, việc ăn cắp tới 700 tỉ đô của người dân Mỹ để cứu trợ những kẻ liều lĩnh nhất tại phố Wall có vẻ là một ý kiến tồi, nhưng giờ chúng ta lại thêm vào khoản 6 triệu đô miễn thuế cho các nhà sản xuất mũi tên gỗ cho trẻ em, vâng, đó lại là chuyện khác.

Sau khi thông qua gói cứu trợ, Bộ Trưởng Bộ Tài Chính Henry Paulson có vẻ như không thể kiểm soát được tình hình. Đầu tiên họ bảo người dân rằng tiền cứu trợ sẽ dùng để mua các khoản nợ xấu của các ngân hàng (như những khoản thế chấp không sinh lợi nhuận và cổ phần thế chấp “độc hại”), và từ đó hồi sinh dịch vụ cho vay liên ngân hàng đã bị bãi bỏ bởi vì sự rủi ro của một ngân hàng và tai tiếng của các ngân hàng khác có liên quan đến những tài sản này. Chính quyền, các lãnh đạo quốc hội, và truyền thông đều khẳng định trước những ai nghi ngờ và bất đồng ý kiến rằng đây là một kế hoạch đúng và cần thiết ngay lúc này.

Nhưng sau khi dự luật thông qua họ đổi ý định. Chiến lược mua tài sản xấu được đề nghị đầu tiên với ý tốt là đem tiền của chính phủ cho các ngân hàng đổi lại là chia chác cổ phần của ngân hàng đó, cho dù ngân hàng không muốn bán. Sau đó giao dịch mua tài sản xấu đã bị bãi bỏ nhanh chóng bởi Bộ Trưởng Paulson. Chiến lược mà tất cả chúng ta nghe là mấu chốt của nền kinh tế, và chúng ta sẽ chịu một sự sụp đổ với tỉ lệ kỉ lục nếu không có nó, đã bị quên đi đơn giản và nhanh chóng. Paulson sau đó thậm chí còn thừa nhận rằng ông đã biết từ đầu là những chiến lược kiểu đó – trên căn cứ mà nhờ đó gói cứu trợ đã được bán cho công chúng – là một giải pháp sai.

Và giờ thì tín dụng tiêu dùng cần được vực dậy. Theo Paulson, “hàng triệu người Mỹ” đang đối mặt với lãi suất thẻ tín dụng gia tăng hay giảm thiểu khả năng có thẻ tín dụng, vì vậy “làm chi tiêu hàng ngày của gia đình đắt đỏ hơn.” Nó thậm chí còn vô nghĩa hơn sự hợp lý thông thường của Paulson. Nghĩ xem: nó có bền vững lâu dài cho những gia đình mua sắm hàng ngày bằng tín dụng không? Làm sao tiếp diễn được? Vậy mà chúng ta được yêu cầu phải vực dậy một hệ thống hoàn toàn không bền vững dựa trên việc vay tiền và tiêu tiền, thay vì khuyến khích mọi người chi tiêu trong giới hạn có thể của họ như thị trường đang cố làm. Người ta thường không trông chờ vào các hiểu biết kinh tế của nhân viên chính phủ, nhưng thủ tướng Đức Angela Merkel cảnh báo chính xác vào tháng 11 năm 2008 rằng nếu chính sách của Washington là in nhiều tiền hơn và khuyến khích vay nợ, nó sẽ chỉ đơn giản là gieo mầm “hạt giống của một khủng hoảng tương tự trong vòng 5 năm.”

Ứng viên tổng thống của 2 đảng lớn năm 2008 đồng ý với gói cứu trợ của quốc hội, dĩ nhiên – người Mỹ không được phép đưa ra lựa chọn thực sự cho vấn đề quan trọng đó. Cảm ơn hội chứng cuồng cứu trợ, vào cuối năm 2008 Washington (nghĩa là người dân Mỹ) đã tự treo ngược mình lên với khoảng 7,7 ngàn tỉ đô. Và dấu hiệu cho thấy là mọi chuyện chỉ mới bắt đầu.

Facebook Comments