Cẩm Nang Về Cuộc Khủng Hoảng Kinh Tế – 1.1 Thủ Phạm Ngay Trước Mắt

Từ mùa thu năm 2008, khi thị trường chứng khoán giảm mạnh, các công ty phá sản, và những nỗi lo lắng và hoảng loạn về kinh tế bắt đầu lan rộng, người Mỹ đã bị dội bom với một điệp khúc liên tục đã được dự đoán trước: nền kinh tế thị trường tự do đã thất bại.

Giải pháp là gì? Theo Barack Obama, chính quyền Bush, đảng Cộng Hòa và đảng Dân Chủ tại quốc hội, và truyền thông chính thống, là cần nhiều quy định, can thiệp từ nhà nước hơn, chi tiêu nhiều hơn, in tiền nhiều hơn và vay nợ nhiều hơn.

Để làm vấn đề tồi tệ hơn, chính những người đã đưa ra các chính sách hỗn loạn đó giờ lại giả vờ như những nhà thông thái của công chúng và chỉ cho chúng ta lối thoát. Theo cách quen thuộc, mọi thất bại của chính quyền được đổ lỗi cho tất cả người dân trừ bản thân chính quyền. Và dĩ nhiên, chính sự thất bại của chính quyền sẽ được dùng để ngụy biện cho sự tăng cường quyền giám sát của chính phủ.

Những nhà phê bình đã bắt đầu phạm sai lầm thường xuyên là đưa ra đáp án sai cho mọi vấn đề nghiêm trọng, nhưng lần này hầu như họ thậm chí còn chẳng hiểu đúng vấn đề. Tất cả những rủi ro quá mức, áp lực và nợ nần, chưa kể tới bong bóng bất động sản thực sự đến từ đâu? Khi những câu hỏi này được nêu lên, câu trả lời cuối cùng chẳng giải quyết được gì cả. Tất cả mọi thứ chỉ là “Rủi ro quá mức”. Như một vài nhà kinh tế đã chỉ ra, đổ lỗi cho khủng hoảng là vì “lòng tham” cũng giống như nói máy bay rơi là do trọng lực vậy.

Chúng ta đã đánh giá sai. Cuộc khủng hoảng hiện nay lỗi không phải bởi thị trường tự do mà bởi sự can thiệp của chính phủ. Đây không phải lời biện hộ thay thế, mà là sự thật rõ ràng cả trên lý thuyết lẫn kinh nghiệm thực tiễn. Fannie Mae và Freddie Mac, những doanh nghiệp được nhà nước tài trợ (GSE – Government-Sponsored Enterprises) đã tận dụng những ưu đãi của chính phủ như mức thuế đặc biệt và họ đã vượt quá quy định bằng cách đầu tư quá nhiều nguồn lực vào mảng bất động sản hơn mức bình thường của thị trường tự do. Trong nhiều năm, các đảng viên đảng Dân Chủ của quốc hội giả vờ rằng mọi thứ đều tốt tại Fannie và Freddie, và tất cả những lời cảnh báo đến từ những người không muốn người nghèo có thể sở hữu ngôi nhà của chính họ. (Vô số đảng viên Dân Chủ thực sự đã nói điều đó, dù bạn tin hay không). Đảng viên Cộng Hòa từ đó đã dùng những số liệu tồi tệ của đảng Dân Chủ như cái chày chống lại chính họ, nhưng chính số liệu của họ về chi tiêu, nợ nần và sự can thiệp của chính phủ chả có gì đáng để tự hào. Đảng Cộng Hòa phần đông cũng ủng hộ việc tuôn ra vô tận của những gói cứu trợ chính phủ, thứ không phải là những tiền lệ vận hành của thị trường tự do.

Thậm chí nhiều người tự nhận mình là ủng hộ thị trường tự do cũng thất bại trong việc nắm bắt trọng tâm của vấn đề. Để chắc chắn, họ đưa ra những bộ luật như luật Tái Đầu Tư Cộng Đồng (Community Reinvestment Act), điều này rõ ràng chẳng giúp ích gì. Bằng cách chỉ vào những chương trình cụ thể, tuy nhiên, đảng Cộng Hòa đã khiến bệnh nhân chuyển sự chú ý vào chứng sổ mũi thay vì khối ung thư đang lớn dần của họ. Gần như không có ai ở Washington, và số hiếm người khác, đã sẵn sàng chất vấn sự can thiệp đơn phương lớn nhất của chính phủ vào nền kinh tế, và những tổ chức đã vươn bàn tay can thiệp vào đống lộn xộn hiện tại: ngân hàng trung ương Mỹ, Cục Dự Trữ Liên Bang (Fed). Fed hiếm khi được đề cập về sự liên quan tới khủng hoảng, trừ cương vị cứu tinh của chúng ta. Các tờ báo, tạp chí và website lớn đưa tin mổ xẻ cuộc khủng hoảng và xác định nguyên nhân của nó mà không đề cập gì đến Fed cả. Điều đó cũng không có gì mới vì chưa từng có cuộc thảo luận nghiêm túc nào về Fed trong dư luận gần 100 năm nay kể từ khi nó được thành lập. Fed là một điều tuyệt vời, và nó là vậy đó.

Khi tổng thống George W. Bush phát biểu trước quốc gia ngày 24 tháng 9 năm 2008, với kế hoạch đề nghị viện trợ cho khối tài chính nhưng vấp phải sự phản đối kịch liệt của người Mỹ, ông dành thời gian để giải quyết cái gọi là “nguyên nhân gốc rễ” của sự suy thoái. Rời khỏi sự mơ hồ của Fannie Mae và Freddie Mac, không có gì liên quan đến chính phủ hay ngân hàng trung ương cả. Một trong những quy luật của chính trị Mỹ là xem nguyên nhân khủng hoảng kinh tế quốc gia phần lớn là do việc kinh doanh vỡ nợ theo chu kỳ chứ không phải do chính sách tiền tệ lạm phát của Fed. Ngài tổng thống bị kẹt trong kịch bản: không được đụng chạm tới ngân hàng trung ương.

Vài tuần sau, tổng thống thông báo ý định về việc tổ chức một hội nghị thượng đỉnh quốc gia tại Washington về vấn đề khủng hoảng tài chính. (Như cố vấn đầu tư Mike Shedlock đã kết luận, “Để đáp trả lại cơn khủng hoảng tín nhiệm tổng thống Bush đã tập hợp những người không thấy điều gì sắp đến, phủ nhận điều đang đến, và thất bại để hiểu ý nghĩa của điều thực sự đã đến.”) Ông nói về sự cần thiết phải “bảo tồn nền tảng của chủ nghĩa tư bản Dân Chủ,” việc thường xảy ra mỗi khi chính quyền liên bang có ý định bắt đầu chất thêm gánh nặng lên thị trường tự do. Rất nhiều nguyên thủ quốc gia đã được mời.

Sự phản hồi được dự kiến là hoàn toàn vô nghĩa. Sau khi nghe về hội nghị thượng đỉnh, tổng thống Pháp và chủ tịch ủy ban Châu Âu chỉ ra mong muốn của họ là nhắm tới các thiên đường thuế ở bên ngoài, Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế (IMF) được củng cố hơn, giới hạn mức lương cơ bản, và hàng loạt những kiến nghị không liên quan khác. Như thường lệ, khả năng mức lãi suất giả định thấp khoảng 1% có thể đưa cả nền kinh tế thế giới vào con đường bất ổn đã không được đề cập sau đó hay ngay tại chính hội nghị thượng đỉnh ngày 15 tháng 11, vốn trở thành những lời vô nghĩa.

Tháng 10 năm 2008 tổng biên tập của Slate Group, tổ chức xuất bản tạp chí Slate, một trang web nổi tiếng, công bố rằng cuộc khủng hoảng tài chính chắc chắn là sự chấm dứt của chủ nghĩa tự do, chứng tỏ rằng “thị trường không được kiểm soát” có thể sẽ hỗn loạn lớn đến mức nào. Không lần nào ngân hàng trung ương hay quỹ dự trữ liên bang được nhắc đến, mặc dù đó không phải sản phẩm của thị trường tự do và hành vi phá hoại của các tổ chức đó cũng không phải lỗi của thị trường.

Để chắc chắn, vài ngoại lệ quan trọng của quy luật cơ bản này có thể được tìm ra, ví dụ như những chuyên gia đầu tư Jim Rogers, Peter Schiff, và James Grant, khi được hỏi trên CNBC rằng ông sẽ làm gì nếu ông được bổ nhiệm làm chủ tịch của Fed, câu trả lời là ông sẽ bãi bỏ Fed rồi sau đó thôi việc. Không phải trùng hợp khi họ cũng ở trong nhóm số ít những người dự đoán được cuộc khủng hoảng hiện tại. “Những nhà bình luận chính thống”, “những người có uy tín” đã hoàn toàn biến mất vào lúc này, chế giễu những dự đoán bi quan và những lời chỉ trích của họ về chính sách của Fed. Cảm ơn Youtube, nhờ nó bạn có thể xem một cuộc tranh luận của những kẻ đần độn thực sự đã cười vào mặt Peter Schiff năm 2006 vì đã dự đoán chính xác điều đã xảy ra từ khi đó. Như dễ dàng dự đoán hết đêm sẽ tới ngày, những người mơ ngủ chẳng bao giờ thấy cuộc khủng hoảng đang tới và nói mọi thứ vẫn ổn chính là George W. Bush và Barack Obama, đã tìm kiếm để xin lời khuyên làm sao để đảo ngược tình hình.

Chúng ta đang gặp rắc rối.

Facebook Comments