Nước Mỹ Của Hillary Clinton 6.6 – Giữ Bọn Không Phù Hợp Ở Ngoài

6.6 Giữ Bọn Không Phù Hợp Ở Ngoài

Mặc dù ngày nay chúng ta nghe nhiều nhà cấp tiến xót xa về cái cách mà đảng Cộng Hòa đã chống lại các người nhập cư – một cáo buộc chẳng được bất kỳ ai ủng hộ trừ những người nhập cư bất hợp pháp – thực tế cho thấy chẳng ai tấn công các người di dân một cách ác độc như những nhà cấp tiến. Thậm chí, sự tấn công của những nhà cấp tiến đối với các người di dân vào thập niên 1920 là điều khủng khiếp chưa bao giờ được chứng kiến và đã gây hậu quả sâu rộng.

Nước Mỹ từ lâu đã được xem là nam châm thu hút người di dân. Hàng trăm ngàn người Ireland, Ý và Do Thái đến Mỹ vào thế kỷ 19, và những nhóm này đã giúp xây dựng nên nước Mỹ. Số lượng di dân vẫn cao vào đầu thế kỷ 20. Hơn 400 ngàn người di dân đã đến Mỹ mỗi năm từ năm 1900 đến năm 1920.

Nhưng những nhà cấp tiến căm thù các người di dân chủ yếu vì họ căm thù những loại người di cư đến Mỹ mà họ thấy. Mục đích chính của Sanger là kiểm soát sinh sản, nhưng bà ta vẫn ủng hộ cuồng nhiệt cho việc kiềm chế nhập cư đối với những kẻ “không phù hợp.” Sanger tranh luận rằng nước Mỹ nên “đóng cánh cửa nhập cư với một số người ngoài hành tinh mà điều kiện của họ đã được biết là có hại cho sinh lực của chủng tộc, như những người thiểu năng, ngu ngốc, lũ đần, những kẻ điên, động kinh, tội phạm hình sự, gái mại dâm chuyên nghiệp và một số kẻ khác.”

Ảnh hưởng của những nhà cấp tiến là công cụ trong việc thông qua Bộ Luật Di Dân Năm 1924 (Immigration Act of 1924). Bên ngoài Sanger ủng hộ bộ luật, nhưng sự chứng thực công khai về việc hạn chế nhập cư đến sau đó, trong một bài diễn văn năm 1932 có tựa đề “Đường đến hòa bình của tôi” (My Way to Peace). Tuy nhiên, lần đầu tiên trong lịch sử nước Mỹ, các bộ luật được thông qua để cấm nhập cảnh một cách có hệ thống và thiết lập những giới hạn dựa trên chủng tộc và nguồn gốc quốc gia. Người di dân da trắng được ưu tiên hơn người di dân da màu, và người Bắc Âu được ưu tiên hơn Nam Âu.

Dĩ nhiên có cả luật hạn chế di dân từ Trung Quốc trong thế kỷ 19. Nó thật bất thường, tuy nhiên, không có luật nào cắt giảm nhập cư từ Châu Âu. Luật năm 1924 thậm chí đặt hầu hết người Châu Âu vào danh sách không được chào đón. Hiệu quả được trông thấy ngay lập tức. Trong giai đoạn từ năm 1925 đến năm 1939, số lượng di dân giảm còn khoảng 25,000 mỗi năm, một mức giảm kinh ngạc đến 95% so với trước đây. Sự “cải cách” của các nhà cấp tiến đã chiến thắng trong thời điểm đó.

Tuy nhiên, cuộc “cải cách” có những hậu quả nguy hiểm. Trong suốt thập niên 1930 đã có những nỗ lực cuối cùng để dẹp bỏ một số hạn chế của luật nhập cư năm 1924 để cấp tị nạn cho người Do Thái mà cuộc sống đang bị đe dọa tính mạng nặng nề từ Đức Quốc Xã. Đó không phải là những đơn xin từ người Do Thái được gửi thư từ Đức. Vấn đề cấp bách hơn nhiều. Gần một ngàn người Do Thái từ Đức chờ đợi tuyệt vọng trên một con thuyền trên bờ biển Florida, cố tìm kiếm một sự chấp thuận cứu mạng cho những thủ tục nhập cư của họ.

Những nhà cấp tiến như Harry Laughlin – một giám đốc của Liên Minh Kiểm Soát Sinh Sản (Birth Control League) của Sanger – kiên quyết phản đối việc nhập cư đến Mỹ của những người Do Thái này. Trong báo cáo của ông, Nhập Cư Và Xâm Chiếm (Immigration and Conquest, Laughlin đã tìm cách để chứng minh rằng người Do Thái rất khó hòa nhập và họ sẽ gây ra một “sự sụp đổ về độ tinh khiết của một chủng tộc thượng đẳng.” Theo một nghĩa nào đó, các nhà cấp tiến người Mỹ như Laughlin đã mặc nhiên cộng tác với Đức Quốc Xã, vốn rõ ràng không muốn người Do Thái trốn thoát đến Mỹ. Như một hệ quả của sự kháng cự từ nhóm cấp tiến, Đức Quốc Xã đã được toại nguyện và con tàu đã bị gửi trả về Đức.

Các nhà cấp tiến ủng hộ cho thuyết ưu sinh và sự thù địch với nhập cư đều bắt nguồn từ chủ nghĩa xã hội Darwin, với ý tưởng kèm theo về chủng tộc thượng đẳng và hạ đẳng của nó. Những nhà xã hội học Darwin phát triển một chương trình xã hội mà họ nói rằng lấy khuôn mẫu trên ý tưởng của Darwin về sự chọn lọc tự nhiên: “sự sinh tồn dành cho kẻ khỏe mạnh nhất.” Về cơ bản họ tìm kiếm một kế hoạch và thiết kế một xã hội để những nhóm “khỏe mạnh” có thể phát triển thịnh vượng và nhóm “không khỏe mạnh” sẽ bị tiêu diệt. (Nhớ đến sự đề cập của Sanger về sự “hủy diệt” của dân da đen.)

Lời hùng biện về hủy diệt này đã trở nên vô cùng hấp dẫn cho phong trào phát xít nổ ra tại Đức. Như sử gia Richard Weikart đã cho thấy trong hai quyển sách quan trọng, từ Darwin Đến Hitler (From Darwin to Hitler)Đạo Đức Của Hitler (Hitler’s Ethic), chính bản thân Hitler cũng theo thuyết xã hội học Darwin. Những bài diễn thuyết và ghi chép của Hitler tràn ngập những lời hùng biện từ học thuyết xã hội Darwin. Ông dùng những lời hùng biện này để biện minh cho những chính sách phân biệt chủng tộc và ưu sinh của mình.

Trọng điểm: Hitler khuyến khích và trợ cấp sinh con cho những người mà ông thấy “phù hợp” như người Bắc Âu và Aryan. Đồng thời, ông ủng hộ việc phá thai và triệt sản người Do Thái, người Di-gan (Gypsy) và các nhóm “không phù hợp” khác. Hitler, sau đó, chống phá thai với “chủng tộc tối thượng” và ủng hộ phá thai với tất cả mọi người khác. Sự phân biệt đối xử của Hitler giữa những người Aryan và phi-Aryan là rất giống ranh giới chủng tộc của Sanger. Với Hitler và với Margaret Sanger, việc kiểm soát sinh sản nghĩa là “có nhiều trẻ em hơn từ những người phù hợp, có ít hơn cho người không phù hợp.”

Facebook Comments