Cẩm nang về chiến tranh Việt Nam – 2.9 Một lý tưởng cao quý

[nextpage title=”1″ ]

2.9 Một lý tưởng cao quý

Liệu những công dân của miền nam Việt Nam có đáng với những nỗ lực của chúng ta để bảo vệ họ không? Dĩ nhiên là có. Họ hẳn nhiên không kém xứng đáng so với Hàn Quốc mà ta đã bảo vệ – và vẫn bảo vệ cho đến ngày nay. Hàng trăm ngàn thanh niên nam Việt Nam đã tham chiến – và hơn 200,000 trong số họ đã hy sinh mạng sống để bảo vệ đất nước. Hàng triệu gia đình nam Việt Nam đánh cược tính mạng và cuộc sống bằng cách đứng lên chống lại chủ nghĩa khủng bố của VC. Hàng trăm ngàn “thuyền nhân” trốn chạy khỏi CS sau khi Sài Gòn thất thủ có lẽ đã đủ để làm chứng cho sự tự nguyện của nhân dân miền nam Việt Nam, để gánh chịu bất cứ khó khăn nào nhằm bảo vệ tự do của mình; và con số ước tính khoảng 1 triệu người miền nam Việt Nam bị buộc tham gia chương trình cải tạo (trong đó có hơn 150,000 người chết) có lẽ đủ để nhắc nhở về những gì mà chúng ta đang chiến đấu để ngăn chặn.

Kennedy đã vận động cho sự tồn tại của một hàng rào tên lửa giữa Mỹ và Liên Xô. Ông đã hứa sẽ dẫn dắt cuộc đấu tranh vì tự do ở nước ngoài. Tuy nhiên chính quyền của ông lại hành động như thể đang được dẫn dắt bởi Adlai Stevenson (một nhà hoạt động cánh tả cực đoan) hơn là bởi một anh hùng trẻ đầy nghị lực, người yêu của tiểu thuyết James Bond, nhà tài trợ của Green Berets, và Kennedy đã rất nhận thức rõ điều này. Nhưng có một điều gì đó trong vẻ ngoài của nội các Kennedy đã chôn xuống hạt giống thảm họa: đó là một chính phủ với phong cách tự mãn “tốt nhất và sáng suốt nhất” (như David Halberstam đã gọi họ về sau), và trong sự ngạo mạn họ nghĩ rằng họ biết, và bộ trưởng bộ quốc phòng Robert McNamara nghĩ rằng ông có thể tiên lượng mọi thứ. Kể cả thứ thẩm quyền tuyệt đối là niềm tin rằng mình giỏi hơn cả Diệm trong việc điều phối miền nam.

Tại miền nam Việt Nam, trong suốt những năm cuối thập niên 1950 bước sang thềm thập niên 1960, chính quyền của Diệm đã giữ một lợi thế mong manh trước CS. Mặc dù Hà Nội đã phải công nhận rằng miền nam đã có bước tiến lớn trong việc tiêu diệt các lực lượng bạo loạn CS. Mặc dù có khi lên khi xuống trong các trận chiến, VC, cách họ gọi các lực lượng du kích CS ngày nay, chưa có một chiến thắng quan trọng nào trước lực lượng quân đội của Diệm. Dù vậy, CS vẫn chiếm phần lớn vùng quê làm con tin, lượng viện trợ không ngừng tăng trưởng của miền bắc cho VC đã được cảm nhận rõ rệt vào năm 1961, và một chút xíu tự tin rằng quân đội Việt Nam Cộng Hòa (ARVN) không hề thua kém so với quân đội miền bắc (NVA). ARVN đang tiến bộ, nhưng tài nguyên của họ, không lực, và pháo binh vẫn còn hạn chế; tệ hơn nữa; họ không có sự cuồng tín về ý thức hệ như CS, và họ chỉ muốn sống sót hơn là chiến thắng. Tuy nhiên, bất chấp những điều đó, miền nam Việt Nam vẫn gian nan vượt qua.

Vấn đề của Diệm, ít ra theo quan điểm của ông chính là các đồng minh. Với tất cả những thành công mà ông cảm thấy, ông đã đạt được sự củng cố về vị thế và giữ CS trong tầm ngắm, ông bị khủng bố bởi những lời góp ý, chỉ trích và đe dọa từ Mỹ, rằng ông phải điều hành giống người Mỹ hơn và tạo ra những sự thay đổi lớn về chính sách và các cuộc hẹn cho đích đến đó. Diệm, không phải không có lý do, nghĩ rằng ông biết rõ cách điều hành đất nước mình hơn, đặc biệt trong bối cảnh thời chiến. Kể cả phương tây, ông nói đi nói lại, đã nhận ra rằng trong thời chiến loạn, chính phủ đôi khi phải giới hạn sự tự do của người dân. Ông cảm thấy mình bị kìm hãm bởi một tiêu chuẩn tây phương không thích hợp. Ông không muốn trở thành một đất nước được Mỹ “bảo hộ”. Ông muốn bảo vệ nền độc lập chính trị của miền nam Việt Nam – mặc dù ông phải phụ thuộc vào sự trợ cấp của Mỹ, điều mà Mỹ liên tục đe dọa sẽ gián đoạn hoặc ngưng hoàn toàn.

[/nextpage]

[nextpage title=”2″ ]

Không chỉ Mỹ đòi hỏi thường xuyên, theo quan điểm của Diệm như một quốc gia có chủ quyền, một cách xúc phạm và vô lý, nhưng Mỹ có vẻ tâm thần phân liệt. Tại những thời điểm khác nhau Diệm sẽ nghe, từ một phía (từ đại sứ Elbridge Durbrow, người đàn ông ở Sài Gòn từ năm 1957 đến năm 1961), rằng “nền cộng hòa miền nam Việt Nam sẽ còn bị tấn công từ bên trong khi nào nó còn thất bại trong các bước tiến chính thống trong việc cải thiện nền kinh tế và mặt bằng xã hội của người dân.” Từ phía còn lại, ông nghe từ đại tướng Samuel Williams, thủ lĩnh phái đoàn cố vấn quân sự Mỹ, rằng “cải cách kinh tế và chính trị là không thể cho đến khi các phe phái bạo lực bị đập tan bằng quân sự.” Quan điểm của Diệm nghiêng về phía đại tướng Williams – mặc dù ông không sẵn sàng đồng ý với ý tưởng của Mỹ về việc cải cách, ông có cách của riêng ông.

Năm 1962, Kennedy chấp thuận tăng cường viện trợ quân sự từ Mỹ cho miền nam Việt Nam, bao gồm cả trực thăng, vận tải thiết giáp và các khí tài quân sự đặc biệt khác, thêm vào đó là tăng cường đáng kể lực lượng cố vấn quân sự. Tướng Paul Harkins được đề bạt đảm nhiệm bộ hỗ trợ chỉ huy quân sự Việt Nam (MACV), thay thế cho đoàn cố vấn quân sự trước đó. Thay đổi này phản ánh sự tăng cường hợp tác, ảnh hưởng và vai trò hoạt động của quân đội Mỹ. Harkins đã huênh hoang rằng những nỗ lực của Kennedy sẽ gặt hái phần thưởng tại Việt Nam. Những báo cáo của ông vào năm 1962 và 1963 càng ngày càng lạc quan và tích cực. Ông tìm kiếm và nhận được mối quan hệ tốt với Diệm. Những người phỉ báng Diệm và ARVN cáo buộc Harkins là tướng quân bàn giấy, chỉ ngồi trong văn phòng tại Sài Gòn lên tiếng về những thành công của quân đội Diệm nơi vùng quê. Trên thực tế, Harkins là một chỉ huy tốt, thường xuyên đi đến vùng quê tìm kiếm lời khuyên và thông tin từ những cố vấn quân sự Mỹ nơi chiến trường.

Một phiền toái lớn của Kennedy là những báo cáo của Harkins được bổ sung bởi những người có góc nhìn khác. Những con người mà ông xem là trí tuệ và tin tưởng báo cáo cho ông những thông tin hoàn toàn mâu thuẫn. “Làm thế nào mà 3 người đến Việt Nam trong cùng hoàn cảnh, nói chuyện với cùng người và rồi trở về và đưa tôi 3 kết quả phân tích khác nhau?” Ông đã phải hỏi vậy.

Kennedy vẫn duy trì những bài diễn văn diều hâu chống CS của ông trước công chúng, nhưng trong phòng bầu dục ông bắt đầu thiếu chắc chắn về nhiệm vụ mà Mỹ đảm nhiệm ở Việt Nam. Ông rất kiên định với các lời cam kết của quân đội Mỹ, nhưng vẫn hết lòng thông qua các quyết định leo thang số lượng cố vấn và khí tài quân sự gửi đến miền nam Việt Nam. Ông đặc biệt hứng thú với các kỹ thuật chống nổi dậy đang được phát triển bởi lực lượng đặc công Mỹ, và là nhà vô địch trong việc phát triển các binh chủng như vậy. Đồng thời, ông vẫn nghi ngờ lầu năm góc và thường xuyên khó chịu với sự thiếu đồng thuận giữa các cố vấn thân cận nhất của ông.

Các thông tin chiến địa thực tế đã được báo cáo bởi Wilfred Burchett, một người Úc ủng hộ CS, người đã thực sự sống chung với VC vào những năm đầu thập niên 1960, và nói chuyện với nhiều thủ lĩnh của họ. “Xét về lãnh thổ và dân số, Diệm đã trỗi dậy đáng kể trong năm 1962.” Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa đã “ghi nhận một số thành công và có một số sáng kiến về chiến lược và chiến thuật. Trong bài phân tích sau cùng,” Burchett phát biểu, “1962 là năm của Diệm.”

[/nextpage]

Facebook Comments