Cẩm nang về chiến tranh Việt Nam – 2.13 Ngọn lửa Phật Giáo

2.13 Ngọn lửa Phật Giáo

Một trong những hình ảnh lâu dài của cuộc chiến Việt Nam là một vị sư già tự thiêu để phản đối chính quyền Diệm vào năm 1963. “Nhà sư bùng cháy” (Thích Quảng Đức) trở thành biểu tượng của một chính phủ bị cáo buộc là không xứng đáng với sự trợ giúp của Mỹ.

Khá lâu trước “tiệc nướng” của Thích Quảng Đức, như quý bà Nhu (vợ của “người em ác quỷ”) gọi nó một cách nhẫn tâm và ngu ngốc (đổ thêm dầu vào lửa, phải nói vậy), Diệm đã bị vướng vào rắc rối từ các Phật tử. Không phải là Diệm chống Phật giáo. Ông thực sự không hề. Phó tổng thống của Diệm theo đạo Phật (người đã nói với một nhóm các nhà ngoại giao nước ngoài rằng chế độ này nên “đè bẹp các phong trào Phật giáo [chống Diệm] không thương tiếc), hay như bộ trưởng bộ ngoại giao của ông. 18 thành viên nội các của ông này bao gồm 5 người Công Giáo, 5 nho sĩ và 8 Phật tử. Tỉnh trưởng của 38 tỉnh, 12 là người Công Giáo và 26 người còn lại là nho sĩ hoặc Phật tử. Một vài tướng lãnh hàng đầu của ông cũng theo đạo Phật.

Cho nên trong khi Diệm không hề chống Phật giáo, các Phật tử cực đoan tại Sài Gòn và Huế chắc chắn là chống Diệm. Ít khi được báo cáo, nhưng được ghi chép cẩn thận, rằng những Phật tử cực đoan này đã được thâm nhập cực sâu bởi CS. Thích Trí Quang, một trong những thủ lĩnh cấp tiến nhất của những Phật tử cực đoan, chưa bao giờ tự thừa nhận mình là người CS, mặc dù ông này sinh ra tại miền bắc, đã từng phục vụ trong Việt Minh, và có người anh là quan chức cấp cao trong bộ nội vụ Hà Nội. Điều đã được chứng minh là CS đã thâm nhập vào các phong trào Phật giáo, cũng như một vài nhóm hỗ trợ cho các phần tử Phật giáo cực đoan. Nếu không vì điều gì khác, thì CS và các Phật tử cực đoan chia sẻ với nhau vài mục tiêu chung: họ muốn Mỹ ra đi (bởi vì những Phật tử nghĩ sự ra đi của những người nước ngoài to bự, lông lá sẽ “mở ra một cơ hội hòa bình”), và họ muốn Diệm xuống đài.

Các Phật tử chống lại Diệm vì họ xem Diệm như một trở ngại cho hòa bình (mặc dù “hòa bình” đến từ CS nghĩa là đàn áp tôn giáo cho các Phật tử), nhưng cũng bởi vì các vấn đề giáo khu: họ tin rằng chính quyền Diệm chống lại Phật giáo. Sự thật là chính phủ miền nam Việt Nam bổ nhiệm nhiều nhất những người Công Giáo xét theo tỉ lệ dân số. Nhưng tình trạng này liên quan đến kết cấu dân số dưới thời thực dân Pháp hơn là sự phân biệt của Diệm. Người Công Giáo Việt Nam, nhìn chung, là phần được giáo dục tốt nhất và có kinh nghiệm làm việc trong chính phủ nhiều nhất.

Hơn nữa, trái với ấn tượng để lại bởi các ký giả, miền nam Việt Nam không thực sự là một đất nước “Phật giáo”. Trong một đất nước với 15-16 triệu dân, có lẽ chỉ khoảng 3-4 triệu người coi Phật giáo là tôn giáo của họ. Khoảng 4 triệu người khác theo Nho giáo. Khoảng 1,5 triệu là người Công Giáo. Phần còn lại của đất nước thuộc về các tôn giáo kì lạ như Cao Đài và Hòa Hảo, hoặc thuyết Duy Linh, Đạo Giáo, Tin Lành, Hindu hoặc Đạo Hồi. Việc tập trung và hoạt động mạnh mẽ của các Phật tử tại Sài Gòn làm tăng thêm ấn tượng rằng miền nam Việt Nam rất mạnh, hoặc chỉ có duy nhất Phật giáo. Không nhiều hơn một vài nhóm các chùa Phật giáo tham gia trong số hàng ngàn các cuộc biểu tình chống chính phủ miền nam Việt Nam.

Một số điểm nóng, có thể kể đến, trong cuộc xung đột giữa các Phật tử cực đoan và Diệm là tháng 5 năm 1963, khi hàng ngàn Phật tử tập trung tại Huế để kỷ niệm sinh nhật lần thứ 2,527 của Phật. Một tuần trước đó, trong lễ kỷ niệm 25 năm nhậm chức của tổng giám mục Ngô Đình Thục (anh trai của Diệm), những người tham gia đã vẫy những lá cờ của giáo hoàng. Tuy nhiên, với lễ kỷ niệm của các Phật tử, phó tỉnh trưởng, một người Công Giáo đã cố gắng thi hành một nghị định cũ cấm các lá cờ mang màu sắc tôn giáo không được trưng bày nơi công cộng. Về mặt pháp lý, chỉ có cờ quốc gia miền nam Việt Nam mới có quyền được treo từ bất cứ nhà thờ, chùa chiền hoặc các nơi thờ phụng tôn giáo khác. Tại Việt Nam, cờ đã trở thành một biểu tượng mang hàm ý mạnh mẽ hơn nhiều, tính kích động có thể còn mạnh hơn (nhiều) so với các ngôi sao và sọc đối với những người Mỹ yêu nước nồng nàn, đó là lý do vì sao chúng vẫn bị hạn chế sử dụng bởi các sắc lệnh của chính phủ.

 

Tấm ảnh bị thiêu

Có một vài tấm ảnh mang tính biểu tượng về chiến tranh Việt Nam. Một trong số đó chụp cảnh sát trưởng sở cảnh sát Sài Gòn xử tử một tù nhân VC trong Tết Mậu Thân. Điều còn thiếu về bức ảnh mô tả sự tàn bạo rõ ràng của cảnh sát là người tù nhân CS đó bị bắt giữ sau khi đã chặt đầu một đại tá người Việt và giết sạch vợ ông cùng sáu đứa con. Người đã chụp bức ảnh, Eddie Adams, sau này đã bộc bạch rằng ông rất hối tiếc khi bức ảnh đã được sử dụng quá rộng rãi để buộc tội cảnh sát trưởng quá tàn bạo.

Một bức ảnh khủng khiếp gây ám ảnh khác chụp một cô gái trẻ Việt Nam trần truồng chạy trốn khỏi cuộc tấn công bằng bom naplam vào làng. Được sử dụng như một biểu tượng của sự tàn bạo và khủng bố của chiến tranh và nó đánh động người dân Việt Nam, bức ảnh đã tìm được chỗ đứng. Nhưng bao nhiêu người trong số chúng ta nhớ rằng bức ảnh đã được chụp sau khi quân đội Mỹ đã rút khỏi Việt Nam, hoặc nhớ rằng những quả bom napalm đó được dùng bởi một phi công miền nam Việt Nam đang cố gắng tấn công một nhóm quân nước ngoài đã đột kích làng của cô gái trẻ ấy? Bao nhiêu người Mỹ cảm thấy phẫn nộ sau đó, hay ngay bây giờ, đối với những kẻ xâm lăng Bắc Việt, người đã đuổi cô gái và gia đình của cô khỏi quê nhà?

Facebook Comments