Cẩm nang về chiến tranh Việt Nam – 1.4 John F.Kennedy và Việt Nam

1.4 John F.Kennedy và Việt Nam

“Việt Nam đại diện cho nền tảng của Thế Giới Tự Do tại Đông Nam Á.” — Phát biểu của Thượng Nghị Sĩ John F.Kennedy tại buổi Hội Nghị Tiệc Trưa về Việt Nam ở khách sạn Willard, Washington, D.C, ngày 1 tháng 6 năm 1956.

Pháp khi đó đã kiệt sức với trận chiến chống CS tại Đông Dương (họ đã rất mệt mỏi, sau mọi chuyện, có một số tên CS đang quấy rối chính trị của Pháp tại đất nước họ). Hơn nữa, mục tiêu chiến lược của trận chiến Điện Biên Phủ, hiện giờ trông rất ảm đạm, vẫn chưa thể tiêu diệt được CS do đó Pháp có thể sẽ đóng quân tại Đông Dương; đơn giản là để đánh bại cuộc nổi dậy của CS, dù chỉ là tạm thời, sau đó Pháp có thể rút quân khỏi Việt Nam theo lệnh. Nói cách khác, Pháp đang ở thế kẹt; Việt Minh đang thắng thế. Pháp đồng thời lo sợ việc đình chiến vào phút cuối cuộc chiến ở Hàn Quốc đồng nghĩa với việc hàng chục ngàn, nếu không thì là hàng trăm ngàn quân Trung Quốc có thể đổ vào Đông Dương. Mỹ đã sẵn sàng đưa lượng quân đội tương đương đến Đông Dương như chúng ta đã từng làm với Nam Hàn, Pháp có thể phải đóng quân đến khi cuộc chiến thực sự giành chiến thắng. Nhưng đó chưa phải là khởi đầu. Eisenhower đã nêu quan điểm đồng thuận một cách rõ ràng của Nhà Trắng, Quốc Hội, và các cố vấn quân sự của tổng thống khi ông nói rằng quân đội Mỹ sẽ không được điều đến chiến đấu tại Việt Nam trừ khi các đồng minh của chúng tôi, nhất là Anh (người đã chiến đấu với chiến dịch chống nổi dậy tại đất nước họ trước CS tại Malaya), sẽ đồng ý tham gia chiến dịch với chúng tôi, và Pháp sẽ tự cam kết trao trả độc lập tuyệt đối cho Đông Dương. Quan điểm của Eisenhower phản ánh những thôi thúc trái chiều của Mỹ: chúng tôi muốn thấy CS bị ngăn chặn bởi nổ lực của liên minh, đồng thời cũng muốn thấy các đồng minh phương Tây của chúng tôi tiêu diệt các đế chế của phe đối lập CS. hoặc đặt chúng vào thế lùi, như David Bruce, đại sứ Mỹ tại Pháp đã làm năm 1950, “Nền tảng thành công của chính sách Mỹ phụ thuộc vào sự khuyến khích và ủng hộ của dân tộc địa phương và nỗ lực của Pháp ở Đông Dương….Tuy nhiên hai lực lượng kia, kết hợp với nhau chỉ vì mối nguy hiểm của chủ nghĩa đế quốc CS, vốn đã đối lập nhau và sự tiến triển của một bên sẽ tạo nên những thiệt hại lớn cho bên còn lại.” Nhưng vào năm 1964, để Pháp rời Đông Dương là việc dễ dàng, không có cuộc chiến chống lại CS nào diễn ra.

 

Những cuốn sách VC sẽ không muốn bạn đọc.

Tại sao chúng tôi ở Việt Nam (Why We Were in Vietnam), Norman Podhoretz (Simon và Schuster, 1982). Phe Cánh Tả tiếp tục phản đối vì họ không hiểu lý do tại sao Mỹ lại đến Việt Nam. Họ có thể đọc cuốn sách này.

 

Với một mô hình lặp đi lặp lại, thế mạnh của CS tại Việt Nam không thực sự mạnh như các cường quốc phương Tây nghĩ. Pháp đã từng, trong thực tế, đánh bại Việt Minh (mặc dù Pháp tự đặt mình vào một quy trình thảm họa tại Điện Biên Phủ), và Việt Minh đã tuyệt vọng vì nhận viện trợ từ CS Trung Quốc. Nhưng Việt Minh đồng thời cũng nhận thấy rõ được quan điểm của Pháp đã thay đổi đối với cuộc chiến và rằng Pháp đã tìm kiếm một giải pháp để rời khỏi Đông Dương. Hiểu biết được điều này—cùng với việc cung cấp những khẩu đại bác, đạn, và các cố vấn quân sự từ Trung Quốc Đỏ—Việt Minh không do dự trong việc đưa quân “bẻ gãy” Pháp tại Điện Biên Phủ. Cho dù tổn thất bao nhiêu quân nhân Việt Minh, cũng sẽ không thay đổi vị thế của họ tại các cuộc đàm phán Geneve. Nhưng nếu họ chiến thắng, vị thế đàm phán của Pháp, vốn đã suy yếu, sẽ càng suy yếu hơn.

Eisenhower đang có Hạm Đội Hoa Kỳ 7 ngoài khơi và đã sẵn sàng, ông có nên quyết định can thiệp và cứu Pháp tại Điện Biên Phủ không. Nhưng cuối cùng, sự thiếu thiện chí của Anh đã ảnh hưởng đến quân lính, điểm yếu của Pháp, và ông nghi ngờ về một cuộc chiến trên đất liền khác tại Châu Á sẽ sớm nổ ra sau khi kết thúc chiến tranh tại Hàn Quốc, điều đó tạo nên lí do để Eisenhower nán lại. Pháp đã bị đánh bại tại Điện Biên Phủ, đầu hàng Việt Minh vào ngày 7 tháng 5 năm 1954. Việt Minh đã trả một cái giá đắt cho chiến thắng của họ, tổn thất gần 23,000 quân lính (một nửa trong số tổng lực lượng chiến đấu của họ) theo ước tính của phương Tây (chính xác hơn con số mà Việt Minh đưa ra). Quyết định của Eisenhower không can thiệp và ngăn chặn việc quân đội Pháp bị tàn phá tại Điện Biên Phủ là một sai lầm nghiêm trọng, tạo cho CS một chiến thắng mà họ có lẽ không bao giờ có được.

Tháng 7 năm 1954, Pháp ký thỏa thuận hòa bình với Việt Minh tại Hội Nghị Geneva. Tham dự hội nghị có Vương Quốc Campuchia, Cộng Hòa Dân Chủ Việt Nam, Pháp, Mỹ, Vương Quốc Anh, Liên Xô, Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa, Vương Quốc Lào và nhà nước Việt Nam ( Việt Nam của Pháp, nơi sẽ trở thành miền Nam Việt Nam).

Hiệp định Geneva đã không nhận được chữ ký của Mỹ, đất nước bị chia đôi, tại vĩ tuyến 17, chỉ ở phía trên Quảng Trị, miền Nam Việt Nam. Các đơn vị Việt Minh bị buộc quay về với miền Bắc Việt Nam nơi CS thống trị, trong khi đó những người Việt đã chiến đấu hoặc trung kiên với Pháp được cấp quyền di cư về phía nam. Khoảng chừng 800,000 và một triệu người đã di tản vào Nam, nhiều người trong số họ là người Công Giáo tại Việt Nam, họ lo sợ về sự chớm dậy của CS (và bởi chủ nghĩa vô thần) tại chế độ phía bắc. Hiệp định này cũng đã được ban hành với cả quốc gia, cuộc bầu cử tự do được tổ chức trong hai năm để quyết định xem ai sẽ điều hành đất nước thống nhất.

Việt Minh đã không hài lòng với hiệp định này nhưng với tuyên bố của Trung Quốc và Liên Xô tạo cho họ áp lực phải thỏa hiệp và ký kết. Mark Moyar trong cuốn Triumph Forsaken bàn cãi về điều này, Việt Minh đã giải bày với Liên Xô và Trung Quốc rằng sự phân chia là tác động có hiệu lực nhất với tổn thất nặng nề của họ tại Điện Biên Phủ tạo nên sự khao khát cho một nền hòa bình “để tạo dựng lại quân đội trước khi theo đuổi những lợi ích khác”.

 

Facebook Comments