Cẩm nang về chiến tranh Việt Nam – 1.2 Việt Minh, VC: là tên của CS núp dưới một cái tên khác, nhưng vẫn là CS

1.2 Việt Minh, VC: là tên của CS núp dưới một cái tên khác, nhưng vẫn là CS

Việt Minh (Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội) là lực lượng du kích CS, thành lập vào năm 1941, được lập nên để giải thoát đất nước khỏi Pháp. Sau thất bại của chế độ Thực Dân Pháp vào năm 1954, tàn quân của Việt Minh được tập hợp bởi lực lượng du kích CS tại miền Nam Việt Nam ban đầu được gọi là CS Việt Nam, hoặc một cách trịnh trọng hơn là Quân Đội giải Phóng miền Nam Việt Nam (Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam Việt Nam), vì một số lí do, đã được rút ngắn lại thành VC.

Sử sách kể rằng một lính gác miền Nam Việt Nam đã bị giết chết trong khi đang cố báo động các trại lính về cuộc tập kích của “Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam Việt Nam” gây bối rối cho chính phủ Cách Mạng Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam (Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam). Tổng thống miền Nam Việt Nam Ngô Đình Diệm đã từng nói, “Không cần vòng vo. Họ chính là VC.”

Việt Minh—quân du kích CS đầu tiên. VC—là một tên khác được rút ngắn của du kích CS.

Thủ đô phía Bắc Việt Nam, Hà Nội, trong một cuộc thỏa thuận hiếm hoi với Sài Gòn, thủ đô của miền Nam Việt nam, đã chính thức công nhận tất cả quân du kích là CS.

Sau chiến tranh và thất bại của Nhật trong việc xâm chiếm Việt Nam, đất nước được đặt dưới sự chăm sóc tạm thời của Vương Quốc Anh (miền Nam) và Trung Quốc (miền Bắc), mặc dù nó vẫn còn bị chiếm đóng bởi người Pháp, họ vẫn chưa rút đi hoàn toàn. Trung Quốc lúc này chưa trở thành CS và được dẫn dắt bởi Tưởng Giới Thạch,  là đồng minh của Mỹ trong thời chiến chống lại Nhật Bản.

Sự phân chia giữa Bắc và Nam Việt Nam không phải bởi nguồn gốc và cũng không phải bởi quyết định nào. Vào cuối thế kỷ 16, đất nước đã bị chia cắt bởi hai bức tường lớn trên vùng đồng bằng Quảng Trị (ở phía bắc ngoài xa của miền Nam Việt Nam) được dựng lên bởi dòng họ Nguyễn, một trong những chế độ tiến hành các cuộc chiến phong kiến đẫm máu để kiểm soát các vùng nông thôn. Trước đó, mãi cho đến thế kỷ 15, 90 phần trăm miền Nam hiện nay thuộc về vương quốc Chăm (ở giữa miền Nam Việt Nam) và Campuchia.Vào những năm trước đó, miền Bắc và miền Nam Việt Nam là những chiến binh, họ thậm chí còn cố gắng thúc đẩy các cường quốc ở Châu Âu chống lại nhau — miền Nam tìm đến sự trợ giúp từ Bồ Đào Nha và miền Bắc từ Hà Lan.

Thay vì trở thành một quốc gia chính thức, thật sự chẳng có gì lạ khi Việt Nam bị chiếm đóng. Đa số khoảng thời gian (theo những gì phương Tây kể) của thiên kỉ đầu tiên, Việt Nam thuộc về Trung Quốc, và trong phần lớn lịch sử sau này, Việt Nam là một nước chư hầu của Trung Quốc. Điều đó kết thúc cho đến giữa thế kỉ 16 khi Pháp chiếm thế cầm quyền trong khu vực của Trung Quốc. Ảnh hưởng của Pháp bắt đầu bằng các giáo sĩ Công Giáo—mặc dù có hàng trăm linh mục Công Giáo và hàng ngàn hàng ngàn người ủng hộ họ đã bị xử tử trong các cuộc tàn sát định kì theo yêu cầu của các nhà lãnh đạo Việt Nam. Điều này trở thành lí do để Pháp xâm lược Việt Nam vào năm 1858 với sự khởi đầu như một cuộc chinh phạt và rồi trở thành một cuộc chiếm đóng thành công. Mười năm sau, vua Norodom của Campuchia đã kêu gọi, và được đáp trả bằng sự bảo trợ của Pháp từ Thái Lan và Việt Nam. Sau khi thành lập trong khu vực, Pháp đã làm tốt việc ngăn chặn người Việt giết lẫn nhau và thành công trong việc đoàn kết dân tộc Việt Nam để chống lại họ trong suốt quá trình cai trị của họ trên toàn thể đất nước.

Đúng theo như quan điểm chống thực dân của ông, Franklin Roosevelt đã tường trình rõ ràng đến Cordell Hull, bộ trưởng bộ ngoại giao của mình, “Pháp đã có được đất nước đó—ba mươi triệu cư dân—trong gần một trăm năm, và người dân sẽ khổ hơn lúc đầu. Pháp đã và đang vắt cạn đất nước này trong vòng một trăm năm. Người dân Đông Dương được hưởng những thứ tốt hơn thế. Trong khi đó không thể chối cãi rằng người Việt có mối bất mãn nặng nề với chủ thuộc địa Pháp của họ và thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, sự thật là Pháp đã đẩy mạnh phát triển kinh tế Việt Nam, cung cấp cho Việt Nam thị trường xuất khẩu và cơ sở hạ tầng, thành lập các ngôi trường Tây (mặc dù chỉ rất ít) và bệnh viện (cũng như vậy) như một phần trong việc Pháp tự xưng là “nhiệm vụ văn minh hóa.” Như Mark Cunningham và Lawrence Zwier chỉ ra trong cuốn sách Kết Quả Của Việc Đánh Bại Pháp Tại Việt Nam (The Aftermath of French Defeat in Vietnam), “Chủ nghĩa thực dân Pháp ở Việt Nam ít tàn bạo hơn so với chủ nghĩa thực dân ở các đế chế khác. Những người Việt học tiếng Pháp và chấp nhận văn hóa Pháp trở thành thành viên của tầng lớp thượng lưu, có được việc làm và sự giáo dục tốt. Một số thậm chí còn trở thành công dân Pháp.” Trong khi chính quyền Pháp ủng hộ những số ít người theo đạo Công Giáo, những chủ thương Trung Quốc và tầng lớp địa chủ Việt cũng được chấp nhận như giới “thượng lưu.”

HCM đã kêu gọi Mỹ hỗ trợ để đánh bại Pháp sau hai cuộc chiến và cả hai lần ông đều không được phản hồi—lần đầu là vì ông không liên quan đến chính sách đối ngoại của Mỹ và sau đó là vì chủ nghĩa dân tộc, cũng chính là chủ nghĩa CS của HCM, và lợi ích lâu dài của Mỹ tại khu vực Đông Nam Á sau Thế Chiến Thứ II đã bị hạn chế vì việc ngăn chặn sự lây lan của chủ nghĩa CS. Việc chống lại CS đã đặt Mỹ đứng sau Pháp một cách miễn cưỡng bởi những nỗ lực giành lại vị thế của mình tại Đông Dương sau chiến tranh. Tại miền Nam điều này đã xảy ra khi quân Việt Minh nhanh chóng bị đuổi khỏi Sài Gòn. Tại miền Bắc, mọi thứ khó khăn hơn. Năm 1949, Pháp kí hiệp định với vua Bảo Đại của Việt Nam, cho phép ông trở thành người đứng đầu trên danh nghĩa của một nước Việt, mặc dù quyền lực thực sự thuộc về Pháp, cuộc chiến với CS Việt Nam ngày càng khốc liệt. Mỹ cảm thấy bản thân bị lôi kéo vào việc không chỉ phải cung cấp hỗ trợ kinh tế cho Pháp, mà cuối cùng còn tiếp tay đến 80 phần trăm nỗ lực chiến tranh của Pháp tại Việt Nam

Facebook Comments