Milton Friedman – Những ngộ nhận kinh tế và phản ứng của dư luận (1976)

[nextpage title=”Ngộ nhận về Trùm Tư Bản bóc lột của thế kỷ 19″ ]

Trong bài giảng này, Milton Friedman đã đề cập đến 5 ngộ nhận rất phổ biến thời bấy giờ – cho đến bây giờ vẫn vậy – về nền kinh tế thị trường và chủ nghĩa tư bản. Đó là:

 

Sáng nay tôi sẽ giới thiệu với các bạn một bài giảng. Chủ đề mà tôi lấy cảm hứng là từ Josh Billings, nghệ sĩ hài nổi tiếng của Mỹ thế kỷ XIX, là tác giả của câu nói: “Vấn đề với con người không phải là sự thiếu hiểu biết, mà đó là điều họ biết là điều không đúng.” Tôi đề nghị thảo luận về năm ngộ nhận về xã hội tư bản Mỹ mà đã được chấp nhận rộng rãi, có ảnh hưởng lớn đến thái độ công chúng và dư luận xã hội, nhưng theo ý kiến ​​của riêng tôi thì chúng sai hoàn toàn.

 

Ngộ nhận về Trùm Tư Bản bóc lột của thế kỷ 19

Ngộ nhận đầu tiên có thể được kể đến đó là ngộ nhận về các trùm tư bản bóc lột. Trong các khóa học về lịch sử – lịch sử chính trị thông thường cho đến mức độ thấp hơn là lịch sử kinh tế, bạn sẽ học được rằng thế kỷ 19 tại Hoa Kỳ là một thời kỳ giao thoa, chủ nghĩa cá nhân không giới hạn trong đó các nhà tư bản độc quyền không có trái tim khai thác người nghèo không thương xót, giày xéo, và hưởng lợi trên mồ hôi xương máu của phần đông còn lại. Những người giàu thì giàu hơn và người nghèo thì càng nghèo đi; Wall Street đã được thiết lập để chống lại người lao động. Bạn sẽ học được từ cuốn sách lịch sử mẫu mực rằng những người nông dân ở Trung Bắc đã được nghiền giữa những cối xay bởi các sản phẩm mà họ bán ra bị giảm giá và các sản phẩm mà họ mua vào lại tăng giá. Bạn sẽ học được rằng đó là lý do cho sự quan tâm trong phong trào chính trị Tiền Giấy (greenback), nguyên nhân cho sự phát triển của tình cảm dân túy ở Middle West và miền Nam, lý do cho bài phát biểu tuyệt vời của William Jennings Bryan vào năm 1896, khi ông nghi vấn là có phải nhân loại sẽ bị đóng đinh trên cây thập tự giá bằng vàng hay không.

Đó là một ngộ nhận, và hầu như không có bất kỳ ngộ nhận nào hằn sâu trong thái độ của người dân hơn nó. Ngộ nhận này được lan rộng bởi các nhà cải cách, các nhà báo điều tra của những năm đầu thế kỷ 20, bởi các nhà trí thức những người đã đóng góp cho sự thay đổi quyết liệt trong thái độ của chúng ta đối với một mặt là thị trường và mặt kia là chính phủ, và đến lượt tạo ra một sự thay đổi mạnh mẽ trong tính cách của xã hội chúng ta trong bốn mươi hay năm mươi năm qua.

Chỉ có một yếu tố trong ngộ nhận đó là chính xác. Đó là một thời kỳ giao thoa, chủ nghĩa cá nhân không giới hạn. Đó là một thời đại tiệm cận gần nhất với học thuyết về nền kinh tế tự vận hành trong lịch sử nước Mỹ. Đó là một thời đại trong đó, ngoại trừ cuộc Nội Chiến, chi tiêu của chính phủ liên bang không bao giờ vượt quá khoảng 3 phần trăm của thu nhập quốc gia, số tiền đó chẳng thấm vào đâu so với tiêu chuẩn hiện nay khi chi tiêu của chính phủ liên bang đang tiến đến gần 30 phần trăm thu nhập quốc dân. Đó là một thời kỳ mà ở đó, đối với hầu hết, không ICC (cơ quan liên bang đặt hạn định cho tốc độ chuyên chở hàng hóa, đã chấm dứt hoạt động vào năm 1995), không FCC(cơ quan liên ban phụ trách về việc truyền thông giữa các bang với nhau và với quốc tế bằng các phương tiện không dây, có dây, và vệ tinh), không SEC (cơ quan liên bang độc lập giám sát sở giao dịch chứng khoán để bảo vệ nhà đầu tư), và nếu bạn chọn ra bất kỳ một từ có ba chữ cái nào trong bảng chữ cái thì nó cũng không có vào thời kỳ đó.

Đó là một thời kỳ khi gần như chỉ có một thứ duy nhất can thiệp tới cuộc sống của người dân, ngoài các loại thuế đã được áp đặt để tài trợ cho một lực lượng vũ trang nhỏ, tòa án, cơ quan lập pháp, và các cơ quan tương tự, bao gồm thuế bảo hộ nhập khẩu. Các nhà kinh tế theo học thuyết Nền Kinh Tế Tự Vận Hành (Laissez-faire) phản đối lúc đó cũng như bây giờ các loại thuế như vậy, nhưng mức độ thuế quan như vậy là nhẹ so với các mức thuế được áp đặt sau này.

Tình trạng này đã không phát triển, đủ thú vị đến nỗi, nằm ra ngoài bất kỳ niềm tin triết học nào của phái Nền Kinh Tế Tự Vận Hành. Nó phát triển đơn giản hơn nhiều. Trong những thập niên 30 của thế kỷ thứ 19, chính quyền các bang trong cả nước tiếp tục tham gia vào cái mà chúng ta gọi là các doanh nghiệp xã hội chủ nghĩa. Họ xây dựng kênh mương, họ thiết lập các ngân hàng thương mại và các hệ thống ngân hàng rộng lớn, họ tài trợ đường sắt, họ xây dựng nên các ngành công nghiệp. Đó là một kỷ nguyên vĩ đại của các doanh nghiệp quốc doanh. Nhưng khi lâm vào suy thoái, hoặc khủng hoảng, trong năm 1837, nhiều doanh nghiệp nhà nước này bị phá sản. Chúng trở nên bất lực theo nghĩa đúng nghĩa của nó, trong đó tất cả các doanh nghiệp nhà nước đã hoạt động thiếu hiệu quả từ ngày đó đến nay. Tuy nhiên, ngược lại với tình hình hiện nay, chúng được phép thất bại. Đó là kinh nghiệm mà đã đưa nền kinh tế Hoa Kỳ đến một nền kinh tế tự do – tự vận hành.

Trong khi thế kỷ 19 là thời kỳ của chủ nghĩa cá nhân không giới hạn, hầu hết các điểm khác của của ngộ nhận này là sai. Thời kỳ này hoàn toàn không phải là thời kỳ mà người nghèo bị giày xéo bởi những người giàu và bị bóc lột không thương xót, có lẽ không có thời kỳ nào khác trong lịch sử, ở nước Mỹ này hoặc bất kỳ quốc gia nào khác, mà người dân bình thường có sự gia tăng mức sống nhiều như trong thời kỳ giữa cuộc Nội Chiến và Chiến Tranh Thế giới Thứ Nhất, khi chủ nghĩa cá nhân không giới hạn vững chắc nhất. Bằng chứng của điều này được tìm thấy trong các số liệu thống kê kinh tế về thu nhập quốc dân đã thay đổi như thế nào, nhưng nó đã được chứng minh theo một cách ấn tượng hơn bởi số lượng người nhập cư đến Hoa Kỳ trong thời gian đó. Đó là một thời gian khi chúng ta có nhập cư hoàn toàn không hạn chế, khi ai cũng có thể đến các bờ biển và khẩu hiệu trên tượng Nữ thần Tự do đã có ý nghĩa thực sự nào đó. Đây là một đất nước của hy vọng và hứa hẹn cho những người nhập cư và con cái của họ, và nhiều như một triệu người nhập cư trong một năm đã đến trong các năm 1906 và 1907 và 1908. Đến năm 1914, gần một phần ba dân số là những người con của những người nhập cư hoặc là hậu duệ trực tiếp của người nhập cư.

Mọi người đến đất nước này để bị giày xéo dưới gót chân của các nhà tư bản tàn nhẫn sao? Họ đến để làm cho tình trạng của mình tồi tệ hơn chăng? Không có gì chính xác hơn là việc để mọi người tự đánh giá dựa trên cảm nhận của riêng mình. Thực tế là Đông Đức đã xây dựng một bức tường để giữ không cho người dân của họ không sang đến được Tây Đức là bằng chứng rõ ràng chứng minh nước nào có điều kiện sống tốt hơn. Cũng như thế, thực tế là từ năm này sang năm khác hàng trăm ngàn người đã rời bỏ các nước châu Âu để đến với đất nước này là bằng chứng thuyết phục rằng họ đến để cải thiện số phận của mình, không phải để khiến nó tồi tệ hơn. Với bằng chứng thuyết phục hơn nhiều, tôi tin rằng, hơn bất kỳ thống kê nào khác về thu nhập thực tế bình quân đầu người, trong đó cho thấy rằng thu nhập thực tế tăng lên từ thập kỷ này sang thập kỷ khác với tốc độ khoảng 2, 2.5, 3 phần trăm mỗi năm. Họ đến đây với hai bàn tay trắng. Họ đến từ các nhóm túng quẫn nhất ở thế giới cũ, từ Tiệp Khắc, Đức, Ý. Những người nghèo và túng thiếu đổ xô tới đây, và họ đã tìm thấy một ngôi nhà và một cơ hội để cải thiện số phận của mình. Và họ đã tìm thấy nó, không phải vì chủ nghĩa cá nhân mà bởi vì chủ nghĩa cá nhân chưa hoàn chỉnh. Đó là vì chủ nghĩa cá nhân không giới hạn đã tạo ra những phát triển trong ngành công nghiệp, thương mại, cung cấp cơ hội cho người dân.

Tất nhiên, điều kiện của chúng ta tốt hơn họ rất nhiều. Theo nghĩa tuyệt đối, mức sống của họ là thấp. Nhưng chúng ta phải so sánh mức sống của họ, không phải là với chúng ta mà là với mức sống khi họ rời châu Âu. Chúng ta phải xem xét dựa trên tình thế của họ. Chúng ta có thể sống cũng như làm bởi vì những thành tựu của họ, vì những gì đã xảy ra trong thế kỷ 19. Tôi phải nói rằng, tôi cảm thấy nhục nhã cho rất nhiều người đã bôi nhọ quá khứ đó của cha mẹ họ, trong khi các trải nghiệm đó đã giúp họ có thể sống được trong một xã hội tự do ở mức cao như hiện hiện nay.

Quá nhiều để phát triển kinh tế. Thế còn cáo buộc rằng những người làm nông đã bị nghiền nát, giày xéo, là bị bóc lột bởi các ngân hàng phố Wall? Rằng chúng ta cần phải có một phong trào Greenback (phong trào Tiền giấy) và một phong trào dân túy và một William Jennings Bryan?

Một lần nữa, bằng chứng chống lại là rất đơn giản và rất rõ ràng. Đầu tiên, nếu nông nghiệp đã bị khai thác cạn kiệt, bạn hẳn phải mong chờ lượng người ở các trang trại giảm xuống, nhưng sao lại tăng nhảy vọt trong thời kỳ này. Nếu nông nghiệp đang trong tình trạng xấu và bị vắt kiệt, bạn hẳn phải cho rằng giá đất nông nghiệp phải đi xuống, nhưng sao lại đi lên nhanh chóng. Giá các sản phẩm nông nghiệp đi xuống. Nhưng chúng giảm giá bởi vì các khu vực màu mỡ rộng lớn của miền Middle West được khai hoang và đưa vào canh tác. Sản lượng đã đã tăng lên nhanh chóng, chi phí sản xuất đã được giảm xuống nhờ đổi mới công nghệ lớn trong khâu gặt hái và các máy móc nông nghiệp khác và chi phí vận chuyển đã được giảm. Kết quả là tạo ra sản lượng lớn, kéo theo giảm giá các sản phẩm nông nghiệp đồng thời nhanh chóng thu nhập của nông dân cũng gia tăng và thu hút được nhiều người tham gia vào nông nghiệp.

Ở một khía cạnh khác của ngộ nhận này, đó có phải là một giai đoạn của chủ nghĩa tư bản độc quyền tàn nhẫn? Hoàn toàn ngược lại, nó là thời kỳ của các hoạt động từ thiện tư nhân lớn nhất trong lịch sử Hoa Kỳ. Thời kỳ của chủ nghĩa cá nhân lớn mạnh, không giới hạn là thời kỳ mà kiểu bệnh viện cộng đồng phi lợi nhuận hiện đại được thành lập và phát triển. Đó là thời kỳ của các Thư Viện Carnegie và sự lan rộng của chúng thông qua các hoạt động từ thiện của Andrew Carnegie. Đó là thời kỳ có nhiều trường đại học đã được thành lập trong cả nước. Đó là thời kỳ thành lập của Hiệp Hội Phòng Chống Ngược Đãi Thú Vật, và sự mở rộng của các sứ quán ngoại quốc. Không có thuế thu nhập, không khấu trừ các khoản đóng góp, vì vậy mọi người đóng góp từ thiện bằng tiền túi của họ và không như bây giờ, phần lớn các thứ thuế họ phải trả khác. Tuy nhiên, trong mọi khía cạnh của hoạt động từ thiện tư nhân, đó là thời kỳ bùng nổ.

Vì vậy, các bức tranh lịch sử được chấp nhận chung của thế kỷ XIX là một ngộ nhận bất thường. Nhiều năm trước, tôi đã viết một cuốn sách với một cộng tác viên về lịch sử tiền tệ của Hoa Kỳ, và trong quá trình viết đó, tôi đã đọc các sách sử nói chung của thế kỷ XIX. Là một nhà kinh tế, tôi đã hoảng sợ bởi mức độ thiếu hiểu biết về các vấn đề kinh tế đã nêu ra trong những cuốn sách lịch sử này, bởi mức độ mà các nhà sử học cố tình lấy những lời than vãn và tuyên bố của các nhà cải lương và những hoạt náo viên chính trị thay cho thực tế.

Tất cả mọi người, tất nhiên, luôn luôn muốn giành được lợi thế cho mình. Mọi người đều muốn nhìn thấy giá của những thứ mình bán tăng lên, và giá của những thứ anh mua đi xuống. Nhưng do thứ mà người này bán thì người khác mua, nên đó là một tình huống khả thi. Chúng ta tìm thấy sự không thống nhất tương tự khi người ta nói về lạm phát. Những gì mọi người nghĩ về lạm phát không phải là việc tăng lương của riêng họ, mà là việc tăng giá người khác đối với họ. Và đó là trường hợp của thế kỷ 19. Những người tham gia Greenback và các phong trào Dân túy đã nói, “Chúng tôi muốn làm vẫn còn tốt hơn”. Nhưng các nhà sử học có xu hướng để có phóng đại sự than vãn của họ hơn thực tế.

Đó là Ngộ nhận Số Một, một ngộ nhận mà đã làm tổn hại rất lớn, theo ý kiến ​​của tôi, nó làm cho mọi người không nhận ra được những nguồn sức mạnh thực sự của đất nước này và nguồn gốc thực sự của sự vĩ đại của chúng ta.

[/nextpage]

[nextpage title=”Ngộ nhận về cuộc Đại Suy Thoái” ]

Ngộ nhận về cuộc Đại Suy Thoái

Ngộ nhận thứ hai là ngộ nhận về cuộc Đại suy thoái, ngộ nhận kéo dài hàng thập kỷ thảm họa- tồi tệ nhất trong những năm 1932-1933, 25 phần trăm lực lượng lao động bị thất nghiệp, phản ánh sự thất bại của doanh nghiệp tư nhân. Bằng cách nào đó, người ta tin rằng cuộc Đại Suy Thoái xảy ra bởi vì doanh nghiệp tư nhân không thể tổ chức xã hội một cách đúng đắn, do đó cần phải để cho chính phủ can thiệp để cứu xã hội, Chính Sách Mới và tất cả những gì theo sau đó là một điều chỉnh cần thiết để những sai lầm và tai họa được tạo ra bởi những khiếm khuyết của doanh nghiệp tư nhân và cạnh tranh không có kiểm soát.

Rắc rối với niềm tin này là chúng hoàn toàn sai lầm. Sự thật cơ bản là Cuộc Đại Suy Thoái đã được tạo ra bởi sự quản lý yếu kém của chính phủ. Nó đã không được tạo ra bởi sự thất bại của doanh nghiệp tư nhân, nó được tạo ra bởi sự thất bại của chính phủ trong việc thực hiện chức năng mà nó được giao phó. Từ thời xa xưa, chính phủ đã được giao cho chức năng, khôn khéo hay không, kiểm soát hệ thống tiền tệ. Trong Hiến Pháp của chúng ta, chính phủ được trao quyền tạo ra từng đồng tiền và xác định giá trị của nó. Chúng tôi ta gặp phải cuộc Đại Suy Thoái bởi vì chính phủ đã thất bại trong nhiệm vụ đó. Trong năm 1914, chúng tôi đã có một cuộc cải cách được cho là tuyệt vời. Nhưng kinh nghiệm cho thấy rằng không phải tất cả những cải cách đều là cải tiến. Trong trường hợp này, “cải cách” lớn là sự ra đời của Hệ thống Dự Trữ Liên Bang, một hệ thống ngân hàng trung ương. Nó được thành lập để ngăn chặn cái được gọi là cơn hoảng loạn ngân hàng.

Đợt hoảng loạn ngân hàng gần nhất là vào năm 1907, khi Công ty tín thác Knickerbocker bị phá sản – cũng như Ngân Hàng Quốc Gia Franklin, ngoại trừ không giống như trường hợp của Quốc gia Franklin, tiền thuế đã không được sử dụng để giải cứu nó ra. Nó bị phá sản, công chúng đã lo lắng về sự ổn định của các ngân hàng, dẫn đến việc phá sản của các ngân hàng, và điều này đã dẫn đến thứ được gọi là sự hoảng loạn ngân hàng, trong đó các ngân hàng của đất nước này bị đình chỉ việc chuyển đổi các khoản tiền gửi của họ ra tiền mặt. Các ngân hàng tiếp tục hoạt động, nhưng bạn không thể bước vào một ngân hàng, đưa cho nó một tờ séc, và có nó sẽ trả lại cho bạn bằng tiền mặt, vàng hay những giấy bạc hoặc giấy bạc ngân hàng quốc gia vào lúc đó. Nếu bạn đưa cho ai đó một tấm ngân phiếu, nó sẽ được đóng dấu “chỉ được thanh toán thông qua Phòng Thanh Toán Bù Trừ.” Điều đó có nghĩa là nó có thể được chuyển vào tài khoản của anh ta tại một ngân hàng khác nhưng nó sẽ không được chấp nhận thanh toán bằng tiền trừ khi anh ta là một khách hàng thường xuyên tại ngân hàng này vì đã quen với việc nhận tiền lương. Điều đó là để ngăn chặn không cho các ngân hàng khỏi bị phá sản. Sau hai hoặc ba tháng, sự tự tin của các ngân hàng đã được phục hồi, các khoản tiền trợ cấp chuyển đổi đã kết thúc, và hầu như không có ngân hàng nào bị phá sản. Đó là một tập phim rất đau buồn. Để đáp lại sự hoảng loạn vào năm 1907, đã có một cuộc điều tra của Quốc Hội, và Hệ Thống Dự Trữ Liên Bang đã được đưa vào hoạt động vào năm 1914 để ngăn chặn bất kỳ sự phát triển nào như vậy trong tương lai.

Thế điều gì đã thực diễn ra? Từ năm 1929 đến năm 1933, rất lâu sau khi ngăn chặn được sự phá sản và sụp đổ của các ngân hàng, Hệ Thống Dự Trữ Liên Bang thực sự đã tạo ra chúng.

Ngày 11 Tháng 12 năm 1930, Ngân hàng Hoa Kỳ (Bank of United States) sụp đổ. Đây là ngân hàng lớn nhất từng bị sụp đổ tại Hoa Kỳ. Cho đến lúc đó, sự suy sụp không ít thì nhiều ngang bằng với một cuộc suy thoái. Nhưng sự thất bại của Ngân hàng Hoa Kỳ lại làm nổi lên câu hỏi về sự hoạt động của các ngân hàng. Theo điều lệ và mục tiêu của nó, Hệ thống Dự Trữ Liên Bang được phép can thiệp và cho phép các ngân hàng đáp ứng nhu cầu của khách hàng của họ bằng cách mua trái phiếu trên thị trường tự do hoặc bằng cách cung cấp tiền tệ thông qua chiết khấu tài sản của các ngân hàng thành viên của nó. Nó đã thất bại trong việc thực hiện chức năng này. Ngược lại, nó cho phép thả lỏng để cho các ngân hàng tự phát triển và chúng lại bị thất bại một lần nữa, cuối cùng vào tháng 3 năm 1933, một thảm họa hoàn toàn chưa từng có xảy ra, tất cả các ngân hàng bị đóng cửa trong vòng một tuần, bao gồm cả các Ngân Hàng Dự Trữ Liên Bang, vốn được thiết lập để ngăn chặn một hậu quả như vậy nhưng thay vì để kết thúc thì nó lại tạo ra thảm kịch tồi tệ nhất và sự hoảng loạn tai hại nhất trong lịch sử nước Mỹ.

Từ năm 1929 đến năm 1933, lượng tiền ở Mỹ đã giảm một phần ba. Đối với mỗi một trăm đô la tiền mặt hay các khoản tiền gửi mà người dân sở hữu vào năm 1929, thì có 67 đô la là khả dụng vào năm 1933. Một phần ba tất cả các ngân hàng được phép phá sản. Điều này đã có thể dễ dàng ngăn ngừa được, và tôi có thể nói rằng không phải chỉ đơn thuần do nhận thức muộn màng. Có rất nhiều người vào thời điểm đó đã hiến kế cho chính sách của Hệ Thống Dự Trữ Liên Bang, đã ngăn cản hậu quả này, trong đó có một số người tại Ngân Hàng Dự Trữ Liên Bang ở New York. Tất cả điều này được ghi lại trong cuốn sách đề cập trước đó, Một Lịch sử tiền tệ của Hoa Kỳ.

Nguyên nhân của ngộ nhận Đại Suy Thoái là rất đơn giản. Doanh nghiệp tư nhân không có nhân viên phụ trách quảng cáo, báo chí. Chính phủ lại có điều này. Mỗi cơ quan chính phủ sẽ thông báo cho bạn bất cứ điều gì xấu xảy ra là kết quả của các lực lượng bên ngoài kiểm soát nó. Nhưng bất cứ điều gì tốt xảy ra – Ai là người mà bạn đoán là tạo ra điều đó? Nếu không quá bi thảm, sẽ rất là thú vị để đọc các báo cáo thường niên của Hệ thống Dự Trữ Liên Bang từ khi nó ra đời. Năm nào mà ăn ra làm nên, báo cáo của Dự Trữ Liên Bang nói rằng “Nhờ có chính sách khôn ngoan và nhìn xa trông rộng của Cục Dự trữ Liên bang, Hoa Kỳ đã có một năm tốt lành.” Còn năm nào mà suy thoái hay thất bát, thì báo cáo của Dự Trữ Liên Bang nói rằng “Mặc dù Cục Dự Trữ Liên Bang đã nỗ lực hết sức, các sự kiện ngoài tầm kiểm soát của chúng tôi … “Ngay cả trong năm 1932 và 1933, bạn cũng có thể đọc được những phát biểu như vậy trong báo cáo thường niên của Cục Dự Trữ Liên Bang.

Ở bất kỳ cấp độ nào, không hề có bằng chứng nào về khiếm khuyết trong hệ thống doanh nghiệp tư nhân, cuộc Đại Suy Thoái là bằng chứng chứng minh cho sự khiếm khuyết trong các điều hành kinh tế bởi chính phủ.

[/nextpage]

[nextpage title=”Ngộ nhận về nhu cầu dịch vụ ” ]

Ngộ nhận về nhu cầu dịch vụ

Hãy để tôi nói đến một ngộ nhận thứ ba: ngộ nhận về một nhu cầu, dịch vụ của chính phủ. Từ những năm 1930 trở đi, đã có một sự mở rộng lớn trong quy mô của chính phủ. Năm 1929, ngay trước khi cuộc Đại Suy Thoái, tổng chi tiêu chính phủ ở tất cả các cấp độ – liên bang, tiểu bang và địa phương, bằng khoảng 10 phần trăm thu nhập quốc dân. Ngày nay, con số  này tương đương với khoảng 40 phần trăm. Thậm chí đó còn là nói giảm đi rất nhiều chi tiêu chính phủ theo nghĩa kinh tế thực sự, kiểm soát chi tiêu của chính phủ.

Để đưa ra một ví dụ đơn giản: Bất cứ ai mua một chiếc ô tô mới bắt buộc phải dành khoảng $500 đến $1,000 vào mục ông ta sẽ không tự nguyện lựa chọn, các thiết bị an toàn và chống ô nhiễm. Giả sử rằng thay vì chính phủ uỷ quyền cho những người trên mỗi chiếc xe, chính phủ đã áp đặt thuế $1,000 cho mỗi một chiếc xe mới và đã sử dụng số tiền thu được để mua những phụ kiện đi kèm. Chúng ta sau đó sẽ xem số tiền đó như là một phần của chi tiêu chính phủ, và nó sẽ làm tăng con số 40 phần trăm kể trên. Từ quan điểm kinh tế, không có sự khác biệt giữa hai quá trình này. Có thể là tốt để có những thiết bị này trên xe hơi, hoặc cũng có thể là xấu, nhưng đó không phải là vấn đề. Vấn đề đặt ra là phần thu nhập quốc dân của những người sử dụng và phân bổ được xác định thông qua cơ chế chính trị chứ không phải thông qua các quyết định riêng tư của cá nhân muốn chi tiêu tiền của họ như thế nào. Và câu trả lời là cũng trên 40 phần trăm nếu chúng ta bao gồm các khoản chi bắt buộc.

Trong quá trình đi từ 10 phần trăm đến hơn 40 phần trăm, ngộ nhận này đã phát triển các mở rộng trong các chương trình để đáp ứng với nhu cầu công quá mạnh, chính phủ đã phải can thiệp vì sự thất bại của thị trường tư nhân sẽ tạo ra một mệnh lệnh cấp thiết buộc chính phủ phải thực thi những điều này. Đây là một ngộ nhận không thể khác hơn sự thật. Hầu hết các hoạt động mở rộng của chính phủ đã được bán cho người dân nói chung bằng việc quảng cáo gây hiểu lầm là sẽ khiến cho đại lộ Madison vẫn đục (ý nói là ngành quảng cáo). Cộng đồng đã phải đấu tranh để chấp nhận chúng.

Hãy để tôi đưa cho bạn thứ tuyệt vời nhất, không thể chê vào đâu được trong số đó, An Sinh Xã Hội. Đầu tiên, nó không có gì liên quan đến xã hội, và nó cũng không có gì liên quan đến an sinh. Đây là một sự nhầm lẫn hoàn toàn; đó là một chương trình mà trong đó bạn áp đặt một khoản thuế rất xấu nhằm đem lại những lợi ích rất không công bằng. Trong ngôn ngữ Orwell thường dùng để bán bảo hiểm xã hội, thứ mà bạn và tôi sẽ gọi thuế là các khoản đóng góp. Có phải một thanh toán không tự nguyện là đóng góp? Thứ thuế mà bạn và người sử dụng lao động của bạn trả theo An Sinh Xã Hội được gán cho. Nếu bạn mua một hợp đồng bảo hiểm hoặc một niên kim hưu trí (trợ cấp bảo hiểm hàng năm) hoặc trợ cấp, và cuối cùng bạn có được lương hưu của mình, đó là một lợi ích, bạn phải trả tiền để có nó. Nhưng nếu tôi có được nó do người khác nộp thuế, thông thường tôi sẽ gọi nó là một khoản trợ cấp. Nhưng dưới điều khoản của An Sinh Xã Hội, trợ cấp này được gọi là lợi ích.

Cơ bản hơn nữa, chương trình này đã được bán cho người dân Mỹ dưới sự giả vờ cơ bản sai, về cơ bản người dân bình thường rất lười biếng, rất ít quan tâm đến tương lai của chính họ trừ phi họ bị chính phủ bắt buộc đóng góp cho một quỹ và trả lương hưu sau đó, tất cả chúng sẽ trở thành gánh nặng cho nhà nước. Trong trường hợp của cuộc Đại Suy Thoái, khi mọi người đã trở thành gánh nặng của nhà nước bởi vì sự quản lý yếu kém về tiền bạc của nhà nước, được nói ở trên là điển hình. Đó là sai lầm thật sự rằng, gạt cuộc Đại Suy Thoái sang một bên, bất kỳ bộ phận đáng kể người dân đã trở thành gánh nặng của nhà nước, vì họ đã thất bại trong việc chu cấp cho tuổi già của mình. Tuy nhiên, đó là lập luận sử dụng để bán được Bảo Hiểm Xã Hội.

Một lần nữa, có lẽ An Sinh Xã Hội là một điều tốt. Tôi không nói về điều đó vào lúc này. Tôi tình cờ nghĩ rằng nó không phải. Tôi nghĩ rằng đó là một chương trình khủng khiếp, nhưng có lẽ tôi sai. Ở đây tôi muốn đề cập đến thứ có liên quan với ngộ nhận. Có phải An Sinh Xã Hội đã phản ánh một nhu cầu dịch vụ cơ bản? Câu trả lời là không. Nó đã được bán giả mạo, và từ đó đã được mở rộng theo cách giả vờ tương tự năm này qua năm khác bởi những người có nhiệm vụ bán các chương trình của chính phủ cho đất nước.

Hãy để tôi đưa ra một ví dụ đơn giản hơn nhiều và gần gũi hơn, mà tôi đã đề cập đến trước đó: các quy định an toàn và chống ô nhiễm cho xe ô tô. Ông Nader vận động một chiến dịch trong vài năm trước đây rằng những chiếc xe hơi là không an toàn và rằng chúng ta phải có một cơ quan chính phủ khôn ngoan can thiệp và bảo vệ chúng ta khỏi chính mình, đòi hỏi chúng ta phải có các thiết bị an toàn trên xe, yêu cầu chúng ta buộc dây an toàn. Một lần nữa, có phải có một nhu cầu cơ bản cho chính phủ để xâm nhập vào lĩnh vực đó? Không một chút nào, đó là một chiến dịch nhân tạo để tạo ra những luật lệ, kết quả mà hầu hết mọi người không thích. Thật vậy, nhờ hệ thống khóa liên động vô lý mà bạn không thể khởi động xe của mình, trừ khi bạn đã làm chủ được cơ cấu cơ khí mà nhà sản xuất đã tích hợp vào dây đai an toàn, dẫn đến một sự phẫn nộ khắp đất nước buộc Quốc Hội phải bãi bỏ nó. Tôi nghi ngờ rằng người dân nhận ra được giai đoạn đó đã bất thường làm sao. Là một người sành về sự can thiệp của chính phủ, tôi đã cố gắng để tích lũy qua nhiều năm những dịp mà một sự can thiệp đã được loại bỏ. Danh sách này là rất ngắn. Nó bao gồm khoản tiết kiệm bưu điện, nó bao gồm luật cấm rượu. bây giờ nó còn bao gồm cả việc bãi bỏ quy định vè khóa liên động bắt buộc. Bạn sẽ thấy rằng rất khó để điền thêm vào danh sách này nữa.

Hãy xem xét một ví dụ đơn giản. Tôi đã ở Florida cách đây không lâu, cái tuần sau khi Quốc Hội vừa thông qua một dự luật giao thông công cộng cung cấp hàng tỷ đô la cho các cộng đồng địa phương để chi tiêu trong lĩnh vực giao thông công cộng. Có một câu chuyện trên báo địa chí phương về một đề xuất mở rộng dịch vụ xe buýt, đã được đưa ra để các cử tri của địa phương này trong ba năm liên tiếp theo hình thức phát hành trái phiếu. Ba năm liên tiếp chúng đã bị từ chối. Bất cứ học sinh nào của nền dân chủ sẽ nói rằng đó là bằng chứng khá thuyết phục rằng đó không phải là thứ mà người dân mong muốn. Nhưng chuyện gì đã xảy ra? Tờ báo thuật lại là: “Giờ đây Washington đã thông qua một dự luật giao thông công cộng, chúng ta sẽ có thể có hệ thống xe buýt như vậy,” vì tiền sẽ đến từ Washington. Đó chắc chắn trong trường hợp này không phải là một là một nhu cầu của người dân.

[/nextpage]

[nextpage title=”Ngộ nhận về bữa ăn miễn phí ” ]

Ngộ nhận về bữa ăn miễn phí

Điều này dẫn đến ngộ nhận tiếp theo của tôi – rằng chính phủ có thể chi tiêu bằng tiền miễn phí. Điều đã thực sự tham gia vào câu chuyện cuối cùng là bằng cách nào đó người dân địa phương không phải trả tiền đến từ Washington, ai đó khác làm điều đó. Tất nhiên, sự thật là tiền đi vòng giữa Florida và Washington, và có một chiết khấu bằng tiền mặt khi nó đi qua Washington. Một số bạn có thể nhớ lời mô tả tuyệt vời về chính phủ của nhà kinh tế học người Pháp, Frederic Bastiat, người đã nói rằng chính phủ là điều tưởng tượng mà theo đó tất cả mọi người tin rằng anh ta có thể sống nhờ đồng tiền bỏ ra của tất cả những người khác.

Đó là một ngộ nhận phổ biến, nó có thể tiêu tiền mà không cần ai phải chi trả cho nó. Bạn sẽ thấy tất cả mọi người la hét rằng chúng ta phải có những chương trình chính phủ mới, lớn hơn, hào phóng hơn. Chúng ta đi đâu để lấy số tiền đó? Thông qua đánh thuế. Nhưng các doanh nghiệp kinh doanh không thể trả bất kỳ khoản thuế nào. Giám đốc điều hành của một công ty có thể ký ngân phiếu, nhưng ông ta nhận được tiền ở nơi nào? Từ cổ đông, từ khách hàng hoặc từ nhân viên của ông ta chăng. Không giống như chính phủ liên bang, ông ta không có một máy in tiền trong tầng hầm của mình. Vì vậy, cách duy nhất anh có thể trả tiền cho chính phủ là chuyển gánh nặng lên vai của một ai đó. Chính phủ không thể chi tiêu bằng tiền của không của ai cả, do đó dẫn tôi đến ngộ nhận cuối cùng của mình.

[/nextpage]

[nextpage title=”Ngộ nhận về việc giúp người nghèo bằng tiền của người giàu” ]

Ngộ nhận về việc giúp người nghèo bằng tiền của người giàu

Có lẽ chính phủ không thể chi tiêu bằng tiền của không ai cả, nhưng, sau tất cả, tất cả chúng ta đều biết rằng chính phủ tiêu tiền để mang lại lợi ích cho người nghèo bằng tiền của người giàu. Tuy nhiên, một lần nữa, đây lại là ngộ nhận. Đó là một ngộ nhận được khuyến khích bởi vì mọi người đều muốn làm những điều có mục đích tốt. Tất cả chúng ta đều ủng hộ việc giúp đỡ người nghèo – miễn là bạn và tôi được xác định là những người nghèo.

Tôi đã có mặt trong hội nghị thượng đỉnh do Tổng Thống Ford tổ chức mới đây tại Washington. Tôi đã thích thú bởi sự phô trương của người phát ngôn đặc biệt, bước đến bục phát biểu, và người này thay người khác nói, “Hoàn toàn cần thiết là chúng ta phải cắt giảm ngân sách của chính phủ để đẩy lùi lạm phát. Tôi sẽ cho bạn biết làm thế nào để cắt giảm ngân sách của chính phủ: chi nhiều tiền hơn vào chính tôi.”

Thực tế cơ bản là hầu hết toàn bộ các chương trình chính phủ hoặc là một sự lãng phí hoàn toàn và chả giúp đỡ được ai, hoặc là chúng làm lợi cho tầng lớp trung và thượng lưu bằng tiền bỏ ra của cả người rất nghèo và cả người rất giàu. Đề xuất đó có thể là chủ đề của một cuộc nói chuyện dài hơn, vì vậy ở đây tôi chỉ có thể minh họa cho nó.

Hãy xem xét trường hợp nêu ra trước đó – An Sinh Xã Hội. Đó là một chương trình được sự quan tâm rộng rãi vì nó giúp đỡ người nghèo bằng tiền bỏ ra của tầng lớp thu nhập trung lưu và thượng lưu. Sự thật là, đầu tiên, rằng thuế tài trợ cho An Sinh Xã Hội là thuế lũy giảm nhất trong hệ thống của chúng ta. Đó là một loại thuế lương bổng đánh vào tiền lương lên đến tối đa, ngược lại với thứ được coi là thuế lũy tiến. Những lợi ích này liên quan đến hầu như tất cả số tiền thuế mà không ai phải trả, và hậu quả là một sự gia tăng bất công lớn. Một người có một triệu đô la thu nhập một năm từ chứng khoán sẽ nhận được bảo hiểm xã hội đầy đủ của mình sau tuổi 65. Nhưng nếu ở độ tuổi từ 65 đến 72, ông ta làm việc và nhận được tiền công, thì ông ta không chỉ không nhận được lợi ích nào nếu ông ta kiếm được nhiều hơn một số tiền khiêm tốn, mà ông ta cũng vẫn phải trả thêm thuế đánh vào tiền lương.

Cơ bản hơn, các thanh niên từ các gia đình nghèo đi làm việc và bắt đầu trả thuế An Sinh Xã Hội ở tuổi 16 hoặc 17. Những người thuộc tầng lớp thượng lưu đang đi học đại học và sau đại học; chỉ bắt đầu trả thuế An Sinh Xã Hội khi đến 24 hay 25 hay 26 tuổi gì đó. Ở phía bên kia của bức tranh, đó là một thực tế nhân khẩu học là người giàu sống lâu hơn người nghèo, do đó, họ sẽ nhận được những lợi ích an sinh xã hội trong nhiều năm hơn. Các người nghèo khó ở đáy của xã hội đã bị bắt nộp thuế trong nhiều năm hơn để chu cấp cho những người khá giả trong nhiều năm hơn – và rút cuộc thì cái gì được gọi là chương trình giúp đỡ người nghèo bằng tiền túi của người giàu đây.

Tôi đã được phát biểu điều này trong nhiều năm, vì vậy tôi rất vui mừng thông báo rằng một nghiên cứu mới đây của Viện Brookings, mà khó có thể được coi là thiên vị về phía tôi, đã ghi lại chi phí rất chi tiết. Nó đã chứng minh vượt qua cái bóng của sự nghi ngờ rằng về trung bình, tác dụng của An Sinh Xã Hội (Bảo Hiểm Xã Hội) là để phân phối lại thu nhập từ các nhóm thu nhập thấp hơn cho các nhóm thu nhập trung bình.

Hãy lấy bất kỳ chương trình khác mà bạn định chỉ ra, và bạn sẽ tìm thấy tác dụng phân phối tương tự. Chỉ có duy nhất một chương trình mà tôi biết có lẽ sẽ cho người dân ở tầng lớp thu nhập thấp nhiều tiền hơn so với những người nộp thuế, và đó là một trong những chương trình tồi tệ nhất chúng ta có, cụ thể là, phúc lợi trực tiếp. Đó là một chương trình xấu, không phải vì nó mang lại tiền cho người nghèo, mà vì nó tạo ra người nghèo, vì nó khuyến khích mọi người dựa dẫm vào phúc lợi thay vì vào tiền lương của họ. Tôi không đổ lỗi cho họ. Nếu bạn và tôi đủ khờ để khiến nó thành lợi thế của họ để sống dựa trên phúc lợi hơn là làm việc, họ sẽ ngu ngốc đến mức không tận dụng lợi thế của nó. Tuy nhiên, tôi có sự đồng cảm cho chương trình này nhiều hơn so với hầu như bất kỳ chương trình nào khác, bởi vì có lẽ chỉ nó đóng góp thực sự cho người dân ở các tầng lớp thu nhập thấp chứ không phải là những người trả thuế.

Vụ bê bối lớn của thời đại chúng ta, theo ý kiến ​​của tôi, là chi tiêu của chính phủ về giáo dục đại học. Không có chương trình nào bất công như tác động của nó. Ở bang California vĩ đại, bang có một trong những hệ thống giáo dục đại học công lập lớn nhất cả nước, trên 50 phần trăm sinh viên tại các trường cao đẳng và đại học đến từ 25 phần trăm các gia đình theo thu nhập. Năm phần trăm đến từ đáy 25 phần trăm này. Khi tôi muốn mị dân, tôi nói đó là một hệ thống mà theo đó những người trong Watts gửi trẻ em từ Beverly Hills đến đại học.

Ta có thể tiếp tục bàn tiếp về chủ để này. Tuy nhiên, tôi kết thúc bài giảng bằng việc thúc giục bạn hãy nghi ngờ hơn nữa về một số ngộ nhận này, hãy hoài nghi ngộ nhận về những nhà tư bản bóc lột, ngộ nhận về cuộc Đại Suy Thoái, ngộ nhận là có một nhu cầu cơ bản cho các dịch vụ công, ngộ nhận là chính phủ có thể chi tiêu không bằng tiền của ai cả, và ngộ nhận rằng chính phủ trợ giúp cho người nghèo bằng tiền của người giàu bỏ ra.

Chúng ta đang di chuyển theo hướng khiến cuộc sống chúng ta bị kiểm soát ngày càng hạn chế hơn, và sự di chuyển đó đã được nuôi dưỡng bởi một loạt các lý lẽ khá đơn giản, là không đúng sự thật đó.

 

Vampire @ CAFEKUBUA.COM

Theo Milton Friedman, Economic Myths and Public Opinion– Tháng 1 năm 1976

[/nextpage]

Facebook Comments