Ký sự ĐBSCL: Dòng sông bị cưỡng bức


[nextpage title=”Phần 1″ ]

Ký sự ĐBSCL (P.1): Lựa chọn cuối cùng

Xây cống ngăn mặn để bảo vệ an ninh lương thực ở ĐBSCL, có vẻ như là việc dễ dàng nhất, và phàm là dễ thì thường được lựa chọn đầu tiên, nhưng trớ trêu thay nó dường như lại là lựa chọn sai lầm.

33

Cống đập Ba Lai

Để ngăn mặn, giữ ngọt phát triển sản xuất, cải thiện sinh kế… ở Bến Tre, ngăn dòng sông Ba Lai được xem là chọn lựa đầu tiên.

Cống đập Ba Lai được xem là một trong những thành tựu thủy lợi với mong đợi ngăn mặn, trữ ngọt, tiêu úng, tiêu chua, rửa phèn, cải tạo cho 139.000 ha đất tự nhiên, trong đó có 100.000 ha đất sản xuất nông nghiệp.

Đây cũng là nơi kiểm soát mặn cho trên 20.000 ha đất nuôi trồng thủy sản và nối kết giao thông giữa hai huyện Bình Đại và Ba Tri.

Những ước muốn cao cả này được nhắc đi nhắc lại từ khi khởi công công trình vào năm 2000 cho tới khi hoàn thành đưa vào sử dụng năm 2004.

Trị thủy bằng xây đập, đúng hay sai?

Nhìn dòng sông Ba Lai hiện tại có cảm giác như ai đó ra lệnh “nghiêm” và dòng sông đứng yên chấp hành lệnh ít nhất cũng đã 12 năm qua.

Chính xác hơn, theo TS Lê Anh Tuấn, Phó Viện trưởng Viện nghiên cứu Biến đổi khí hậu, Đại học Cần Thơ, thì đó là “dòng sông bị cưỡng bức” vì vào thời điểm đập Ba Lai hoàn thành, với sự hiện hình của cống Ba Lai,  dòng chính của con sông bị chặn đứng.

Dòng nước sông nhuộm màu xanh cỏ úa, dấu hiệu nhiễm bẩn như ao tù, khác rất nhiều so với sông Hậu, nơi dòng chảy còn tự do lên xuống theo triều.

Ông Tuấn nói rằng nước đổi màu khi sinh thái dòng sông biến thành hồ chứa và tảo đang sinh sôi ở phía trong cống đập.

Bên trong, một vài chiếc ghe neo đậu. Mặt hồ không một gợn sóng.

Phía ngoài cống Ba Lai, những đàn cá theo quán tính vẫn tìm cách vượt qua cống. Chúng không biết rằng nguồn nước bên trong hồ đang biến thành “độc dược” hay chí ít cũng chứa nhiều mầm bệnh.

Vài người đánh cá vẫn có thể khai thác thủy sản tự nhiên phía ngoài cống đập.

Tuy nhiên, một cuộc khảo sát độc lập cho thấy khi cắt đứt mạch giao tiếp giữa sông Ba Lai với biển, hai “cánh cửa” sông đang khép lại do bồi tụ.

Các nhà thiết kế công trình xem đây là cách chứng minh năng lực “trị thủy” với hệ thống cửa thông nước 84 mét, có cửa van bằng thép tự động đóng mở hai chiều, từng được xem là kỹ thuật tiên tiến cách đây 14 năm.

Cầu giao thông trên cống rộng 7 mét, cao trình đỉnh đập +3.50. Tổng mức đầu tư cho công trình cống đập vào năm 2000 là 83,3 tỷ đồng. Tính theo thời giá hiện tại, nếu làm lại, thì ít nhất cũng phải vài trăm tỉ.

Chỉ có những người dân sinh sống ở đây mới hiểu thế nào là “hiệu quả” khi công trình vận hành, Cửu Long giang còn 8 cửa.

“Dưới tác động của tự nhiên và con người, sông Cửu Long hiện chỉ còn 7 cửa đang hoạt động, hai cửa sông chết dần là cửa Ba Lai và Bassac. Hai cửa sông này đã ngừng chảy do bồi tụ và xây dựng công trình giao thông thủy lợi”.

Kết luận của Viện Địa chất, Viện KHCN Việt Nam

“Mọi sự tập trung vào cống đập, những hạng mục khác chưa hoàn thành hoặc chỉ làm lấy có”, ông Tư Thiệt, kể với chúng tôi.

Ông Tư tên đầy đủ là Nguyễn Văn Thiệt, có gia đình đã 4 đời sinh sống tại huyện Bình Đại.

Ông Tư chính là người đầu tiên nuôi tôm tại xã Bình Thới, gọi tình trạng hiện nay là “nước hoại”.

Ông Tư Thiệt lội xuống dòng kênh dẫn ngọt và nói rằng “ công trình này không hiệu quả”

Ông Tư Thiệt lội xuống dòng kênh dẫn ngọt và nói rằng “ công trình này không hiệu quả”

Ông lội xuống một con kênh ngập nước tới đầu gối như một sự chứng minh: “Kênh dẫn ngọt như thế này thì nước đâu mà nuôi trồng. Phía trước nhà tôi cũng một con kênh như vậy. Có phát huy được gì đâu khi mặn không ra mặn, ngọt không ra ngọt. Nhìn ngọn dừa mà xem, hồi xưa nước mặn ra vô thì nó mạnh giỏi, còn bây giờ xơ xác hết. Bộ Trưởng mà tới đây tôi cũng nói như vậy”.

Ông Tư đã từng kỳ vọng vào “ngọt hóa “để trồng lúa, cây ăn trái hay nuôi con gì đó có giá hơn”.

Nhưng nước ngọt không đủ để chuyển sinh kế và giá lúa bấp bênh nên dù là vùng ngọt hóa (nửa vời) ông đã khoan giếng lấy nước mặn pha thành nước lợ nuôi tôm thay vì trồng lúa như trước kia.

Nuôi tôm nước lợ trong 6 ao (2 ha) quanh nhà, mỗi năm ông Tư thu khoảng 1 tỷ đồng. Nếu tuân theo quy hoạch ngọt hóa để trồng lúa, ông chỉ có thu nhập khoảng 10% so với nuôi tôm.

Ông Tư thừa nhận, nuôi tôm là công việc đòi hỏi cao về kỹ thuật và phải kỹ lưỡng trong việc trữ nước, ao lắng và theo dỏi con tôm còn hơn cháu ngoại thì mới thành công. 10 năm nuôi tôm, ông đúc kết: “Nếu không khéo thì giống như đi đánh bạc hay mua vé số”.

Ngọt hóa, nhưng ông Tư phải tự xây hồ chứa nước ngọt sinh hoạt vì nước sông Ba Lai bị ngăn dòng rồi “không dám rửa mặt như hồi trước”. Nhiều kênh đào đọng rác, nước bẩn bao quanh.

“Hồi xưa triều lên xuống kéo nước ra nước vô, nguồn nước đâu có như vầy!”, ông Tư kể.

Chạy theo công trình kinh phí “khủng”

Bất chấp “hiệu quả” như thế, cống đập Ba Lai vẫn là mô hình để ý tưởng ngăn mặn nếu thành công sẽ thực hiện ở nhiều cửa sông lớn khác.

Theo quyết định số 1397/QĐ-TTg phê duyệt Quy hoạch thủy lợi đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn 2012 – 2020 và định hướng đến năm 2050 trong điều kiện biến đổi khí hậu, nước biển dâng của Thủ tướng, kinh phí dự kiến thực hiện quy hoạch trên 171.700 tỷ đồng. Các giải pháp trong đó có nhiều công trình đê, hồ chứa, cống lớn…

Phải thừa nhận một thực tế là việc mở mang đất trồng lúa, tạo ra khả năng chuyển vụ lúa mùa nổi năng suất thấp sang 2 vụ lúa đông xuân, hè thu có năng suất cao trên một vùng rộng lớn ở Đồng Tháp Mười, Tứ giác Long Xuyên, Tây Sông Hậu… góp phần tăng sản lượng lúa từ 16 triệu tấn năm 1986 lên 19,2 triệu tấn năm 1990 và 38,7 triệu tấn vào năm 2008, để đến năm 2009 khối lượng xuất khẩu gạo của Việt Nam trên 5,8 triệu tấn.

Nhưng nếu tính riêng diện tích trồng lúa cả nước có 4 triệu ha thì bình quân một nông dân ở nhiều vùng chỉ có 300-400m2/người.

Đây là mức thấp nhất trong khu vực, đồng thời cũng là mức thấp nhất thế giới.

Cũng thật dễ hiểu, nhiều người tự sướng quá lâu với kỳ tích này và vị thế  “cường quốc xuất khẩu gạo” đứng nhất, nhì thế giới khi Đồng Tháp Mười, Tứ Giác Long Xuyên trở thành nguồn cung cấp sản lượng lúa trọng điểm.

Lẽ ra sau khi thoát khỏi đói kém, chiến lược nông nghiệp phải chuyển đổi sang hướng kinh tế mới. Nhưng cơn say đua sản lượng lúa gạo đã đẩy ĐBSCL rơi vào thế mất nguồn nước dự trữ  khi các quốc gia thượng nguồn tích nước và mặn từ biển đông, biển tây tràn vào với tác hại khôn lường của El Nino khi hai túi chứa nước (Đồng Tháp Mười và Tứ Giác Long Xuyên) biến thành vật hi sinh đầu tiên.

“Các cồn cát ở cửa sông này đã phát triển mạnh, cửa Ba Lai là một ví dụ về sự tàn lụi của một cửa sông do tác động của con người. Năm 1999, hệ thống cống đập ở cửa sông Ba Lai được xây dựng, hệ quả làm cho quá trình bồi lấp xảy ra nhanh hơn và đến nay thì cửa sông này đã ngừng chảy”

Đại học Cần Thơ

Không thể sao chép kinh nghiệm

Những kinh nghiệm làm hồ chứa từ Đồng bằng sông Hồng được chia sẻ và áp dụng cho ĐBSCL với nhiều cống lớn nhỏ được xây dựng ở các cửa sông để giữ ngọt, ngăn mặn xâm nhập và rửa mặn trên đồng ruộng và hệ thống đê bao khép kín lên tới 90.000 km.

Năm 1945, theo thống kê, cả nước có 13 hệ thống thủy nông tập trung ở các tỉnh trung du, Đồng bằng Bắc Bộ, khu Bốn cũ, Duyên hải miền Trung (không có con số thống kê ĐBSCL), đập Thác Huống trên sông Cầu, đập Bái Thượng trên sông Chu, đập Đô Lương trên sông Cả, đập Đồng Cam trên sông Ba…

Tổng năng lực tưới của các công trình đập lớn cùng với 13 hệ thống thủy nông nói trên đã đảm bảo tưới cho 324.900 ha, tiêu cho 77.000 ha. Từ năm 1956 đến năm 2009, cả nước đã xây dựng được trên 500 hồ đập thủy nông loại lớn và vừa.

Dù vậy, việc sao chép kỹ thuật và đưa “kinh nghiệm” từ miền Bắc vào ĐBSCL không phải tất cả đều thành công. Nhiều nơi, người dân đã tự phá đập giữ ngọt khi bài toán kinh tế từ lúa gạo và nguồn lợi mặn – ngọt chênh lệch quá xa.

“Mặn – ngọt là hai mặt của sinh thái vùng này, không thể và không nên ép phải trồng lúa lên vùng mặn, cũng đừng lấy ngọt chống mặn để trồng lúa khi bài toán thị trường. Năng lực cạnh tranh quốc gia luôn bị động thì việc trồng lúa cũng cần tính toán lại”, tiến sĩ Dương Văn Ni, chuyên gia về môi trường và tài nguyên thiên nhiên, nhấn mạnh.

“Tại sao đầu tư lớn, can thiệp vào môi trường chỉ để trồng lúa, bán giá thấp ? Chúng ta gánh trọng trách cung cấp lương thực cho thế giới, nhưng người nông dân phải tự giải quyết bài toán sinh kế và khi các nước cố gắng tự túc lương thực thì việc xuất khẩu đang đứng trước câu hỏi ‘ai cần các ông’?”.

Ông Trần Hữu Hiệp, Tổ trưởng Tổ quản lý cống đập Ba Lai giải thích cách vận hành với TS Dương Văn Ni.

Ông Trần Hữu Hiệp, Tổ trưởng Tổ quản lý cống đập Ba Lai giải thích cách vận hành với TS Dương Văn Ni.

Theo kết quả tính toán từ một nghiên cứu, sự biến động mùa rõ rệt của hai mũi nhô ra ở phía bắc và phía nam cửa sông Ba Lai dưới tác động tổng hợp của gió, dòng chảy thủy triều và sóng. Nếu không có lưu lượng sông đủ lớn để đẩy dòng chảy ra xa, dòng bùn cát sẽ xâm nhập vào cửa sông hoặc xa hơn, gây bồi lấp cửa .

“Đã đầu tư lớn cho công trình thì cần phải tính toán lại việc chọn lựa mô hình sinh kế, tính toán chi phí và lợi ích, tính toán xem cái giá phải trả cho môi trường trong điều kiện biến đổi khí hậu”, tiến sĩ Dương Văn Ni nói: “Vấn đề là phải tự hỏi xem mình có tự làm khó ta không?”.

Phóng sự dài ba kỳ của chúng tôi ghi nhận từ cuộc khảo sát thực địa do IUCN tổ chức tại Bến Tre, Đồng Tháp, Hậu Giang và Bạc Liêu từ ngày 8-11/6/2016 (Dự án tiếp cận Quy hoạch tổng hợp  nhằm thực hiện chiến lược về công ước đa dạng sinh học và tăng cường sức chống chịu của hệ sinh thái với Biến đổi khí hậu)

Hoàng Lan
Theo VietQ.vn

 

[/nextpage]

[nextpage title=”Phần 2″ ]

Ký sự ĐBSCL (P.2): Lựa chọn cuối cùng

Sau lựa chọn đầu tiên dễ dàng nhất là ngăn mặn để giữ thành tích sản xuất lúa, nhiều người dân trở nên sung túc nhưng không phải từ lúa mà từ mô hình xen canh sen-cá, du lịch. Còn lúa, cho dù thêm cả vụ ba, cũng chỉ giải quyết cái ăn tức thời.

 

Với lúa, người dân ĐBSCL sống được, nhưng họ không giàu. Họ phải tự tìm giải pháp của mình, xen canh sen-cá, du lịch.

Với lúa, người dân ĐBSCL sống được, nhưng họ không giàu. Họ phải tự tìm giải pháp của mình, xen canh sen-cá, du lịch.

Cũng giống ông Tư Thiệt ở Bình Đại, tỉnh Bến Tre, ông Sáu Ninh ở Kế An, huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng, lấy làm mừng khi nghe truyền hình đưa tin Trung Quốc, Lào xả đập để đưa nước về đẩy mặn đang xâm nhập sâu vào ĐBSCL.

Nhưng rồi cuối cùng, ông thở dài: “Tui canh mực nước hoài mà có thấy gì đâu?”.

Có thể nói truyền thông Trung Quốc đã thành công khi dẫn dắt mọi suy nghĩ vào “xả đập” để sản xuất điện, gọi là chia sẻ nguồn nước trong mùa khô hạn dù nước xả từ thượng nguồn chỉ về  tới Chiang Sean của Lào.

Chọn lựa khác

Để đảm bảo sản lượng lúa toàn vùng ĐBSCL đạt khoảng 25,5 triệu tấn trong năm 2016, diện tích sản xuất vụ thu đông năm 2016 có thể hơn 900.300 ha, tăng 57.160 ha (diện tích trễ vụ hè thu sẽ chuyển sang), Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (NN-PTNT) kỳ vọng năng suất đạt 5,5 tấn/ha, sản lượng mang về 4,96 triệu tấn, tăng 361.000 tấn so vụ thu đông 2015, nhằm bù đắp phân nửa mức tổn thất do thiên tai vừa qua.

Lựa chọn của Bộ NN-PPNT là vậy, một lựa chọn nghiêng về thành tích.

Tuy nhiên, do giá lúa bấp bênh, ông Nguyễn Ngọc Hơn (Hai Hơn) ở ấp 1, xã Mỹ Hòa, huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp, có 8 ha, cho biết mình “sống được” chỉ sau khi chuyển từ trồng lúa qua mô hình trồng sen- nuôi cá từ ba năm nay.

Mỗi khi sen có dấu hiệu còi cọc thì ông liền chuyển sang trồng lúa và ngược lại, và vì thế nên “loại nào cũng trúng”.

Trên cánh đồng sen của mình, ông Hai Hơn cất 13 chòi lá để du khách tới chơi, vừa ngắm sen vừa thưởng thức các món ngon tự nhiên Đồng Tháp Mười.

Mỗi ngày khu du lịch Đồng sen Gò Tháp của ông đón từ 70- 100 khách. Nổi tiếng với các món cá lóc đồng nướng trui gói lá sen, cơm gạo huyết rồng- sen hấp lá sen đã đành, ông  Hai Hơn còn giỏi làm món hạt sen ngào muối hột, cái món vừa bùi vừa đậm đà miệt đồng – xứ biển, chưa nơi nào có.

Đấy là mô hình “tự phát” về dân biết – dân bàn – dân làm – dân kiểm tra… và tự gánh chịu của ông Hai Hơn, chấp nhận sự thay đổi ngôi thứ cây trồng theo thu nhập.

Tùy thời giá, trong mô hình sen- lúa thì lúa là phụ, còn khi trồng sen kết hợp du lịch thì sen xuống hàng thứ hai, thu nhập du lịch lên hàng thứ nhất.

Ông Hai Hơn đã đi học và có chứng nhận trồng sen. Ông cũng học thêm nghiệp vụ du lịch. Nay thì ông đã đầu tư gần 1 tỷ đồng vào khu Đồng sen Gò Tháp.

Điều này khác với bề dày 4 đời trồng lúa nhưng chẳng giàu lên được. “Phải học trồng sen vì nếu không có sen thì không có khách”, ông Hai giải thích.

Bản thân ông tự đúc kết kinh nghiệm của những hộ trồng sen làm du lịch trên cánh  đồng này: Vài chỗ không thành công do đất ít nên không luân phiên cây sen được do khu này xuống thì khu khác trổ. Nhiều công ty thuê đất trồng sen làm du lịch, nhưng do không gắn bó, không hiểu về đất, nước, cây trồng nên “được một lúc rồi xuống”.

Huyện Tháp Mười quy hoạch vùng chuyên canh sen- cá rộng 150 ha. Nhiều người phải đưa máy đào Kobe vô vét sâu để gần nguồn nước. Hai năm nay, nguồn nước ở vùng trũng Tháp Mười xuống rất thấp do sông Mekong bị chặn dòng từ thượng nguồn.

Chuẩn bị vét sâu đồng sen

Chuẩn bị vét sâu đồng sen

Anh tám Kịch (Trần Văn Kịch), xã Mỹ Hòa, huyện Tháp Mười, đã tốn 50-60 triệu đồng làm đê bao để trồng sen, thả cá trên diện tích 4 ha. Đây là mô hình sen – cá duy nhất ở ấp 1.

Sau đợt hạn vừa qua, anh phải thuê máy đào đất hạ đê bao xuống và vét sâu khu trồng sen- nuôi cá.

Bình thường, nếu mực nước bình thường như nhiều năm trước, số tiền đó sẽ là khoản khoản tích lũy của anh. Dân địa phương thì bảo “Đê “Thanh niên” do các đoàn viên TNCS đào kênh đắp đê ngăn lũ, rồi cũng sẽ phải hạ độ cao “vì không còn lũ”.

Năm  2000, anh Tám Kịch trồng sen đồng, nhưng không hiệu quả phải chuyển đổi giống sen Đài Loa vốn nhiều gương, được giá, thu nhập gấp 3 lần lúa.

Được cha mẹ chia 1 ha đất, nhưng nhà anh Tám vẫn cứ nghèo. Vậy mà nhờ  sen- cá, anh tậu được thêm 5 ha nữa. Cho dù năng suất lúa 8 tấn/ha/ vụ, một năm trồng 2 vụ lúa, nông dân Thái Lan cũng không bì kịp, nhưng anh vẫn thu hẹp diện tích lúa xuống còn 2 ha để trồng sen.

Năng suất của sen đạt 3-4 tấn/ha, vào lúc cao điểm giá hạt sen lên tới 52.000 đồng/kg, so với mức bình thường 20.000 đồng/kg.

Đấy là chưa kể giá cá trắng 20.000 đồng/kg, còn cá lóc đồng cũng tới 40.000 đồng/kg. Anh Tư bảo nhiều khi anh cho bà con chòm xóm số cá trắng, chỉ bán cá đen, tức là cá lóc, cá trê, cá rô.

Mùa thu hoạch vừa qua, thu nhập của anh, chỉ riêng tiền sen đã là 170 triệu đồng, cộng thêm hơn 30 triệu tiền cá mỗi ha.

TS Lê Anh Tuấn, Viện BĐKH trao đổi cách bảo vệ ao nuôi cá bố mẹ với anh Tám Kịch

TS Lê Anh Tuấn, Viện BĐKH trao đổi cách bảo vệ ao nuôi cá bố mẹ với anh Tám Kịch

Sao nghèo nhưng vẫn trồng lúa?

Lúa ba vụ bắt đầu từ năm 1987-1989 do một số hộ dân làm thử và thành công vào những năm lũ thấp.

Sau đó, 110 ha khu có đê bao đầu tiên ở ấp Mỹ Nam, xã Mỹ Quý và  nhiều ô bao khác đã được xây dựng theo phương thức “nhà nước và nhân dân cùng làm”, trong đó nông dân đóng góp 30% và nhà nước đóng góp 70% chi phí xây dựng.

Ở Thị xã Hồng Ngự, canh tác lúa ba vụ bắt đầu từ năm 2010, đến nay, tổng diện tích lúa ba vụ ở đây khoảng 2.200 ha trong tổng diện tích 9.000 ha đất lúa, còn lại 7.000 ha vẫn canh tác lúa hai vụ. Vì có vấn đề về thời tiết, lúa vụ 3 có chi phí sản xuất cao nhất nhưng năng suất thấp nhất trong 3 vụ.

Ấy là các chi phí đắt đỏ của việc xây dựng, duy tu, và cứu đê trong các trường hợp lũ cao còn chưa được tính toán đầy đủ vào chi phí, giá thành sản xuất lúa.

Thạc sĩ Nguyễn Hữu Thiện, một chuyên gia độc lập nghiên cứu tác động trên sông Mekong, cho rằng mặc dù ý thức được những tác động tiêu cực về lâu dài của hệ thống canh tác lúa ba vụ, nhưng nông dân không có nhiều phương án sinh kế khác để thay thế.

Trong khi đó, nhiều nông dân trồng lúa thừa nhận tăng thêm một vụ lúa thì cũng chẳng khác gì chuyện đổi lúa, “có đồng ra đồng vô chứ không đủ để thoát nghèo” mà chủ yếu tạo thu nhập ngắn hạn.

“Tăng vụ là một giải pháp tình thế, chưa phải là giải pháp có tính bền vững lâu dài”, ông Thiện nói.

TS Dương Văn Ni hướng dẫn cách phát hiện và phòng trừ bọ trĩ hại sen.

TS Dương Văn Ni hướng dẫn cách phát hiện và phòng trừ bọ trĩ hại sen.

Hệ lụy … vô cùng

“Vấn đề là phù sa, một mặt quan trọng của tài nguyên nước. Nguồn nước cần 4 yếu tố: số lượng, chất lượng, sự thay đổi (lên xuống), sự liên thông (xẻo, rạch), Tiến sĩ Dương Văn Ni, chuyên gia về môi trường và tài nguyên thiên nhiên, nhấn mạnh. Theo ông Ni thì từ xa xưa, nước từ thượng nguồn mang  phù sa về, bồi tụ tạo ra đồng bằng châu thổ, cung cấp sức sống cho vùng hạ lưu. Mất nước, đói phù sa, quá trình bồi lấp bị phá vỡ, sạt lở xuất hiện, chi phí sản xuất tăng cao… “tổn thất  vĩnh viễn không bù đắp được”.

Để có lúa gạo, các nơi đã chọn hai cách: Mở rộng diện tích, khi không thể mở rộng thì tăng vụ. Nhu cầu nước tăng cao khi để có 1 kg gạo cần tới 5.000 lít nước. Như bây giờ, nước ở đâu cho đủ? Thủy điện Trung Quốc đe dọa chúng ta về ngưồn nước, phù sa…và cách tổ chức sản xuất của chúng ta tự đặt mình vào chỗ cho người khác uy hiếp”, ông Ni, nói.

40 năm qua, cả vùng đã đào quá nhiều kênh rạch. Gần đây lại đưa máy móc vào với tốc độ đào kênh nhanh hơn. Nhưng nước bị chặn từ thượng nguồn, và cứ tới mùa rút nước bơm lên đồng thì mực nước hạ đồng loạt.

Được lúa thì vườn cây ăn trái không đủ nước. Nước dâng, gặp đê bao thì nước chảy tràn vào thành phố. Cả xã hội phải trả giá, không ai tính được hết.

Khi vùng ven sông đã hết phù sa, dinh dưỡng đất ngày càng tệ, người thì tiến sâu vào vùng trũng vì đó là phần đất còn dinh dưỡng, người thì bán lớp đất mặt, vét sâu ruộng hơn, thiếu phù sa (dinh dưỡng đất) phải chấp nhận tăng chi phí phân bón, thiếu nước thì chi phí bơm tưới nhiều hơn.

Bán đất mặt để tiếp tục trồng lúa không vấn đề gì, nhưng sau này muốn trồng loại khác sẽ khó khăn vì hệ vi sinh vật lớp đất mặt được tạo ra cả trăm năm không còn nữa, nếu cứ hạ độ sâu riết xuống tới tầng phèn thì còn khó khăn hơn nữa!

“Do chúng ta chọn lựa – gọi là sự chọn lựa cuối cùng- không có con đường quay trở lại”, TS Ni nói.

Ths Nguyễn Hữu Thiện: Quyết định đi vào hệ thống canh tác 3 vụ là quyết định “một đi khó trở lại”, cần cân nhắc cẩn thận trước khi quyết định, vì:

  • 1 ha lúa 2 vụ, lợi nhuận tối đa 31 triệu/năm.
  • Giả sử nhà 5 người= 516,000 đồng/người/tháng
  • Chuẩn nghèo VN là 400.000 đồng/người/tháng
  • Dự thảo 2016-2020: 800.000 đồng/người/tháng.

Vì vậy người dân muốn tăng vụ để tăng thu nhập

  • Tăng thêm 1 vụ, lợi nhuận tối đa 37,751,000 đồng.
  • Gia đình 5 người = 629,000 đồng/người/tháng.

Tăng thêm vụ cũng chưa giải quyết được vấn đề

So sánh lợi ích và Chi phí của lúa ba vụ ở An Giang ( Tống Yên Đan -2015) tiến hành nghiên cứu và kết luận:

Từ góc nhìn kinh tế toàn cục, lợi ích của đê bao khép kín là âm, nếu tính gồm chi phí đắp, duy tu đê, giảm năng suất lúa các mùa khác, giảm thủy sản, tăng chi phí phân bón thuốc trừ sâu.

Xã hội sẽ thiệt hại 47.8 triệu đồng/ha trong 15 năm, tương đương 7.165 tỉ đồng (344 triệu USD).

Khi các nông dân làm lúa vụ ba sẽ dẫn tới thực trạng:

Môi trường: Đất suy thoái, môi trường nước bị ô nhiễm, giảm tài nguyên thủy sản, kiểu lũ bất thường.

Xã hội: cơ sở hạ tầng tốt hơn, phương tiện sinh hoạt thuận lợi hơn xưa, nhưng chi phí sinh sống cao hơn trước đây, đời sống căng thẳng hơn.

Đa số người trẻ trong độ tuổi lao động di cư đến các vùng công nghiệp, đô thị để tìm việc làm thu nhập cao hơn.

Canh tác: chi phí canh tác tăng, giảm lợi nhuận, sâu bệnh nhiều hơn; hiện nay một hộ gia đình trung bình 5 người không thể đủ sống với chỉ một ha đất lúa hoặc ít hơn.

Hoàng Lan
Theo VietQ.vn

[/nextpage]

 

[nextpage title=”Phần 3″ ]

Ký sự ĐBSCL (P.3): Lựa chọn cuối cùng

Có hơn 10 triệu lao động, nhưng ĐBSCL lại vẫn rơi vào tình trạng thiếu nhân lực khi nhiều người chọn “Đi Bình Dương” hay ly hương, ly nông đi tìm sinh kế từ miền khác… Giờ đây biến đổi khí hậu, rồi làn sóng lao động có tay nghề từ ASEAN tràn vào nữa thì họ sẽ đi đâu, về đâu?

 

Cuộc sống thích ứng với những biến đổi khác thường

Cuộc sống thích ứng với những biến đổi khác thường

Ở Trại Hè Đại sứ Hàng Việt tí hon lần thứ 6, diễn ra từ ngày 6-10/6/2016 mới đây tại Đà Lạt, có một trại sinh tên là Nguyễn Văn Tới, học sinh trường THCS Châu Văn Liêm, Ô Môn ở Cần Thơ.

Cứ mỗi độ hè về là Tới phải “đi Bình Dương” để phụ làm hồ, phụ làm mộc để kiếm tiền đi học. Không ít lần, Tới cứ muốn nghỉ học luôn để “đi Bình Dương” làm với mục đích kiếm tiền nuôi mẹ và nuôi đứa em mới lên 5 tuổi.

Câu chuyện này, được cô Lê Thị Trúc Giang, phụ trách đoàn Cần Thơ của Trại hè kể lại, trùng khớp thực trạng về những người di cư mà anh Tám Kịch, nhân vật trong bài trước, ở xã Mỹ Hòa, huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp nói về địa phương mình.

“Đi Bình Dương” là từ để chỉ những người từ miền Tây di cư tìm việc, kiếm sống, theo Ths Nguyễn Hữu Thiện.

Thiếu hụt lao động

“Tìm được lao động, bao cơm sáng, trưa, chiều nhậu rồi về. Sen lên giá mừng quá cho lai rai, sen xuống giá buồn quá, nhậu rồi về. Bữa nào có đám tiệc trong xóm, lao động ngoài đồng phải ‘tăng ca’ thêm vài tiếng đồng hồ”, anh Tám Kịch kể.

Theo thông lệ, trước Tết Đoan Ngọ là có đợt lũ Tiểu Mãn, nước trên sông Tiền, sông Hậu đổi màu. Phần lớn cư dân chuẩn bị đón lũ để cải thiện thu nhập.

Vậy mà, đã qua Đoan Ngọ, vẫn chưa có dấu hiệu nước từ thượng nguồn đổ về hạ lưu. Nhiều người tỏ ra bất an trước những diễn biến bất lợi do cách chặn dòng từ thượng nguồn và biến đổi khí hậu khó lường như mùa khô vừa qua.

3 năm trước, anh Tám Kịch đã nhận ra những sự khác thường này. Cứ tưởng trồng sen sẽ nhẹ lo hơn  trồng lúa, ai dè anh lại vướng nạn thiếu nhân công bảo vệ, thu hái.

Giá thuê nhân công mỗi người 150.000-200.000 đồng/ngày (6 giờ). Một ngày, anh  Tám cần 4-5 người làm, chi phí  trả nhân công mất khoảng 1 triệu đồng. Thế nhưng ngày càng khó tìm nhân công thời vụ.

Ít nhất  đã 3 lần ông Võ Hùng Dũng, giám đốc Phòng thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), chi nhánh Cần Thơ, đề cập đến thực trạng di cư ở ĐBSCL, rằng “năm 2009-2010 tỷ lệ di cư thuần tới 8,5% và năm 2016 có lẽ còn cao hơn”.

Theo ông Dũng thì  đó là chuyện bình thường và là sự tự do chuyển dịch trên thị trường lao động  do nền kinh tế vùng không đủ sức giải quyết công ăn việc làm, mong muốn  cho người địa phương.

Rừng kết hợp với nuôi tôm

Rừng kết hợp với nuôi tôm

Lực lượng lao động ở ĐBSCL hiện có hơn 10,5 triệu người, nhưng chỉ có 10,4% trong đó được đào tạo, trong khi cả nước tỷ lệ này là 19,9%.

Không có tay nghề và học vấn thấp nên việc di cư riêng lẻ rất khó sống. Nhiều  gia đình cùng di cư để chia sẻ nhau khiến số hộ di cư ngày càng nhiều.

Trong khi đó, theo quy hoạch, đến năm 2020, hoạt động  đào tạo và dạy nghề ĐBSCL bằng và vượt các chỉ số phát triển ngành học, bậc học bình quân chung của cả nước. Tỷ lệ lao động qua đào tạo của khu vực này đến năm 2015 đạt 45%, năm 2020 vào khoảng 60%.

Tại Đồng Tháp, lao động (tới tuổi) được bổ sung khoảng 24.000 người/năm. Tỉnh này đưa ra kế hoạch nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo lên 55,5% vào năm 2015 và 69% năm 2020 để đáp ứng nhu cầu thâm dụng lao động kỹ thuật.

Nhưng cân đối cung cầu cung lao động năm 2015 đã thiếu 69.000 lao động. Và đó là chỗ để lực lượng di cư mới từ nơi khác tìm tới.

Theo  The Asia Foundation, năng lực của người di cư được xem như tác nhân làm thay đổi chiến lược sinh kế của cá nhân và gia đình dù biết rất nhiều khó khăn và dễ  gặp cảnh đối xử không công bằng.

Cuộc điều tra tại Hậu Giang cho thấy, trình độ học vấn của người di cư ở tỉnh này chủ yếu tập trung ở bậc học cấp hai (57,14%) nên họ chủ yếu chỉ làm công nhân (44,3%) và những công việc giản đơn (chiếm tỷ trọng 37%).

Lý do một phần cũng do nhu cầu tuyển dụng nhiều lao động giản đơn và công nhân ở các khu công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp chỉ cần trình độ 9/12. Ở bậc cáo hơn thì nghề nhân viên bán hàng chiếm (5,7% và chuyên viên có bằng cấp chỉ là 1,4%).

Đa số người di cư gởi tiền về nhà dưới 4 triệu/năm chiếm tỷ lệ 55,7%. Số lao động di cư gởi tiền về nhà từ khoảng 4 đến 8 triệu/năm chiếm 15%… theo TS Huỳnh Trường Huy và nhóm nghiên cứu thuộc trường Đại học Cần Thơ.

Hoán vị

Rất nhiều người dân sinh sống cố cựu ở Xã Vĩnh Hậu A, huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu, đã phải bỏ đi sau những năm thất bát.

Bằng chứng được ông Trần Mạnh Tính, tổ trưởng tổ hợp tác Thành Đạt – quản lý rừng do tổ chức GIZ thành lập, xác nhận là nhiều người đã bán đất cho ông và những đồng hương Nam Định trước khi ra đi.

Một số người người mới đến may mắn được GIZ giúp hỗ trợ cách quản lý, cải tạo, khai thác rừng kết hợp nuôi tôm.

“Ở quê em khắc nghiệt, đất chật người đông. Mỗi khẩu chỉ được một sào ruộng, chi phí cao không đủ sống,  con cái làm sao học tới nơi tới chốn? Vào đây chăm chỉ thì nay đã ổn, con được ăn học, sinh kế ổn định, còn có tiền về quê”, chị Nguyễn Thị Lược, kế toán Tổ hợp tác người Nam Định, người mua lại 2 ha đất nuôi tôm dưới tán rừng, cùng chồng thuê hai ha đất nuôi tôm công nghiệp, cho biết.

Chị Lược phác thảo một bức tranh tương lai như mong đợi: cả 3 con được đi học, đứa lớn đang là sinh viên năm thứ ba, nhà cửa đàng hoàng. Ngay cả  khi chồng nuôi tôm công nghiệp thất bại thì nguồn thu dưới tán rừng cũng đủ bù đắp.

Tổ đồng quản lý rừng kết hợp của lớp di cư từ Nam Định

Tổ đồng quản lý rừng kết hợp của lớp di cư từ Nam Định

Dự án kết thúc cách đây 3 năm, 13 hộ liền canh liền cư, quy mô 2-3 ha/hộ cùng góp vốn tương trợ, chia sẻ kinh nghiệm… duy trì  họp lệ 3 tháng 1 lần, 6 tháng họp tổng kết đánh giá, chia sẻ cách tổ chức sản xuất, sinh hoạt thích ứng những thay đổi thất thường từ biển, nguồn nước, thời tiết, khí hậu…

Vì thế, mùa khô năm nay, dù nuôi tôm không lời, nhưng không đến nổi tuyệt vọng như lớp cố cựu thua buồn sau khi bán đất, mò cua, bắt nghêu cũng không xong!

“GIZ hỗ trợ kỹ thuật nuôi tôm rừng, mong nhà khoa học nghiên cứu nghề mới giúp chúng em. Hiện nay, chưa thấy tư vấn nên tự nhà em đi tìm hiểu thay đổi kinh tế  như nuôi thêm con dê bách thảo…” , chị Lược nói.

Ông trời thì lúc nắng lúc mưa. Những lúc mưa nhiều, ô nhiễm trên bờ chảy xuống ao nuôi tôm, phèn, tôm sốc phèn, sốc nhiệt độ, thiếu oxy , thường từ 12 giờ đêm tới sáng.

Thực ra, sau lớp rừng kết hợp là rừng xung yếu, tức là rừng nguyên sinh, cần phải được bảo vệ, lớp di cư mới có nguồn thu từ cua (giá  180.000-200.000 đồng/kg, cua gạch 300.000 đồng/kg, tôm loại 1: trên 250.000 đồng/kg (chiếm 20% sản lượng), cá chẽm thu mỗi năm một lần vài chục triệu đồng mỗi ha.

Tất cả đều có thể gặp rủi ro do kiến đổi khí hậu, nhưng so với người bán đất trả nợ,  tha hương kiếm sống thì lớp di cư mới vẫn còn may mắn hơn nhiều.

Làn sóng di cư

Theo báo cáo của Văn phòng Liên Hiệp Quốc tại Việt Nam, cuộc điều tra di cư ở Việt Nam từ năm 2004 cho thấy 38% những người di cư di chuyển cùng với gia đình, số người di cư từ 15-29 tuổi, nữ di cư sớm hơn nam.

Trước đó, kết quả của cuộc tổng điều tra năm 1999 cho thấy tổng số người di cư là 2,1 triệu, nữ chiếm 53,6%, còn nam 46,4%.

Năm 2009, số dân di cư  là 6,6 triệu người (7,7% dân số), trong đó 50% người di cư rời tỉnh về miền Đông Nam Bộ vào các khu công nghiệp và Tây Nguyên.

Lý do di cư do là do nhiều yếu tố trong đó gần đây yếu tố tác động biến đổi khí hậu khiến việc làm ăn thất bại, thu nhập giảm, thiếu việc làm cho nên họ tìm việc làm để cải thiện thu nhập.

Trước đây, tỷ lệ dân  ĐBSCL di cư  do lũ  là 11,9 %  vào năm 1998, đến năm 1993 con số này là 6,15% thay vì chỉ 1,3% ở thế kỷ trước. Những năm gần đây, lý do di cư là  vì làm ăn thất bát, thiên tai, biến đổi khí hậu, thậm chí trốn nợ…

Báo cáo “Việt Nam 2035” cho rằng trong tương lai, Việt Nam cũng là một trong những quốc gia dễ bị tổn thương nhất bởi biến đổi khí hậu, trong đó dân cư và hoạt động kinh tế tập trung tại khu vực ĐBSCL phải chịu rủi ro cao nhất.

Rủi ro còn tăng lên do mức tiêu thụ năng lượng gia tăng và dựa nhiều vào nhiệt điện than. Những năm gần đây, mức tăng phát thải khí nhà kính của Việt Nam vào loại cao trên thế giới.

Từ năm 1990, nguồn di cư nội khối ASEAN đã tăng mạnh. Tính theo giá trị tuyệt đối, số di cư trong ASEAN đã tăng từ 1,5 triệu lên 6,5 triệu từ năm 1990 đến 2013.

Sự chênh lệch về kinh tế và nhân khẩu học đang tác động đến luồng lao động di cư, chủ yếu là lao động có tay nghề thấp và trung bình… trong đó Malaysia, Singapore và Thái Lan nổi lên như những trung tâm nhập cư lớn, theo báo cáo Cộng đồng ASEAN 2015 Quản lý hội nhập hướng tới thịnh vượng chung và việc làm tốt hơn.

Không phải lo thức ăn mỗi ngày

Không phải lo thức ăn mỗi ngày

ASEAN có 3 nước là điểm đến chính của lao động di cư  gồm Malaysia, Singapore, và Thái Lan. Cả ba nước này chiếm gần 90% trong tổng số lao động di cư của khu vực và 97% trong tổng số lao động di cư giữa các nước trong ASEAN. Phần lớn là lao động có kỹ năng thích ứng công nghệ, kỹ thuật cao.

Các nước đặt ra vấn đề độ che phủ và tính liên thông an sinh xã hội giữa các quốc gia. Trong khi đó, tại ĐBSCL, di cư “tự phát” so với “di cư có tổ chức “ (xuất khẩu lao động) là hai hình ảnh tương phản  giữa một bên hứa hẹn khoản tích lũy để làm vốn còn một bên bán đất ra đi.

Khi những khắc nghiệt do biến đổi sự sống từ sông Mekong, từ tác động do biến đổi khí hậu, nếu làn sóng di cư nội khối ASEAN tràn vào, thì lúc đó không có chỗ cho những lao động giản đơn. Vậy thì làm sao họ quay về?

Tan ca ở khu công nghiệp Hòa Phú, tỉnh Vĩnh Long, nơi thu hút nhiều lao động nông thôn

Tan ca ở khu công nghiệp Hòa Phú, tỉnh Vĩnh Long, nơi thu hút nhiều lao động nông thôn

Hoàng Lan
Theo VietQ.vn 

[/nextpage]

Facebook Comments