Giới Thiệu Về Kinh Tế Học Của Trường Phái Áo – Chương 2

[nextpage title=”Phần 1″ ]

 

Chương 2 – Hợp Tác Xã Hội và Phân Phối Tài Nguyên

 

Sự Tính Toán Bằng Hiện Vật Trong Một Nền Kinh Tế Nguyên Thủy

 

Việc tiết kiệm là một hành động được áp dụng đối với một người cô lập, sống tự lập như ông Robinson Crusoe cũng như với bất cứ một ai đang sống trong một xã hội có sự phân công lao động và trao đổi phức tạp. Công việc của Robinson Crusoe là sử dụng những phương tiện có sẵn để tạo ra giá trị mà ông ta cảm thấy hài lòng nhất. Một quá trình để quyết định và lựa chọn là một điều cần thiết đối với phúc lợi của chính ông ta. Cũng tương tự, trong một xã hội hiện đại, có vô số cá nhân đang sử dụng mọi phương tiện sản xuất có sẵn để tối ưu hóa phúc lợi của mình. Vấn đề kinh tế này tồn tại cho dù các sự lựa chọn và quyết định thường nằm trong tay một tập thể cai trị tập trung nào đó, như được đề cập trong thuyết chủ nghĩa xã hội, hoặc cho dù những sự lựa chọn đó được thực hiện bởi các cá nhân (với một mức độ tự do ít hoặc hơn thể chế tập trung) trong một nền kinh tế thị trường.

 

Ông Robinson Crusoe chỉ có thể quản lý một số lượng tài nguyên cố định một cách hiệu quả và phải đưa ra những kế hoạch tương đối về việc sử dụng lượng tài nguyên đó. Bởi vì anh ta chỉ có vài sự lựa chọn, anh ta có thể thực hiện những quyết định một cách hiệu quả mà không cần phải tính toán đến những kết quả khác có thể xảy ra nếu anh ta thực hiện khác. Khả năng của anh ta để đánh giá và dự đoán kết quả sẽ dựa trên sự quan sát và nắm bắt cơ hội của những phương thức sản xuất khác đang hiện diện trước mặt anh ta. Sự tính toán về số lượng đầu ra sẽ đủ bởi vì lượng tài nguyên của anh ta không bị quá đa dạng hóa, và mỗi loại tài nguyên, trong trường hợp này, sẽ thiếu một mức độ linh hoạt sản xuất nào đó.

 

Anh ta sẽ truy cập đến vài yếu tố sản xuất gốc như – đất, tài nguyên thiên nhiên và lao động. Tuy nhiên, bởi vì khả năng để sản xuất hàng hóa của anh ta có giới hạn trong tình huống cô lập, những yếu tố gốc đó không thể nào được chuyển đổi thành những hàng hóa trung gian như máy móc và dụng cụ. Anh ta bắt buộc phải sử dụng những dụng cụ thô sơ nhất bởi vì anh ta không thể kiếm được hoặc cần những dụng cụ phức tạp hơn như trong nền kinh tế hiện đại.

 

Kết quả là những quyết định của anh ta về việc anh ta nên sử dụng lượng tài nguyên có sẵn như thế nào để có được những hàng hóa tiêu thụ sẽ không trở nên quá phức tạp như việc bắt buộc phải thực hiện một sự tính toán lời lỗ. Cho dù anh ta có sẵn những phương tiện dùng để tính toán như tiền tệ đi nữa, việc sử dụng nguồn tài nguyên nào để sản xuất sẽ trở nên dễ hoặc khó xác định hơn. Yếu tố linh hoạt nhất của anh ta sẽ là sức lao động và sự khéo léo của chính mình, nhữug thứ mà anh ta sẽ sử dụng cùng với tài nguyên thiên nhiên để sản xuất những sản phẩm mà anh ta ưu ái và những việc sản xuất có tính chất khả thi.

 

Thời gian và công sức của anh ta sẽ được sử dụng để làm những dụng cụ căn bản, săn thú để kiếm ăn, xây dựng một chỗ ở, và sản xuất quần áo cũng như để nghỉ ngơi. Với tình hình hiện tại và nhu cầu của anh ta, anh ta sẽ không cần phải biên soạn và tính toán dữ liệu về quá khứ hoặc những thành công kỳ vọng trong việc sử dụng thời gian, công sức và những yếu tố khác trong sản xuất. Sự giới hạn của thời gian và công sức của anh ta sẽ được ngăn chặn việc anh ta bốc lột hoàn toàn nguồn tài nguyên thiên nhiên của hòn đảo anh ta đang sinh sống. Những quyết định của anh ta được dựa trên một sự tính toán chủ quan của mức lợi nhuận cho từng hành động. Những lựa chọn khác sẽ bị giới hạn đến độ anh ta sẽ không có khả năng để quan sát hoặc dự đoán những kết quả của những hành động của mình trong thực tế theo sự đánh giá của chính mình. Và vì anh ta sẽ tự sản xuất để làm hài lòng chính mình, anh ta sẽ không gặp vấn đề gì trong việc lựa chọn hàng hóa nào nên được sản xuất. Thước đo giá trị của anh ta sẽ là phương tiện quyết định duy nhất trong sự tính toán của mình.

 

Một hộ gia đình tự túc cũng có thể quản lý tài nguyên kinh tế riêng của họ mà không cần phải tính toán bất cứ gì, nhất là nếu nó có một truyền thống sử dụng tài nguyên đã được phát triển qua thời gian. Bất cứ sự tính toán về đầu ra nào cần thiết trong giai đoạn nguyên thủy này cũng có thể được miêu tả qua các số lượng đầu ra khác nhau, đôi lúc được đề cập đến như những sự tính toán bằng hiện vật. Vì thiếu đi sự hiện diện của các mối quan hệ trong trao đổi, sẽ không có phương tiện trao đổi nào và vì vậy không có tiêu chuẩn chung nào để tính toán (như loại tiền, hàng hóa).

[/nextpage]

 

[nextpage title=”Phần 2″ ]

Sự Tính Toán Bằng Hiện Vật Trong Một Nền Kinh Tế Nâng Cao (Phát Triển)

 

Qua hàng thế kỷ một sự thay thế khác với nền kinh tế tự túc đã phát triển để giải quyết vấn đề khan hiếm tài nguyên. Phương án thay thế này là sự hợp tác xã hội, nền tảng của cái mà chúng ta ngày nay gọi là xã hội. Hầu hết tất cả con người đã chọn mô hình xã hội thay vì mô hình tự túc. Sự gia tăng đáng kể trong năng suất lao động đến từ việc chuyên môn hóa và phân công lao động đã dần dần làm suy yếu quá trình phân công lao động tự túc (mỗi người tự làm để tự lo cho bản thân như thời nguyên thủy). Mặc dù lợi thế so sánh của các sản phẩm và dịch vụ đến từ quá trình hợp tác xã hội, vấn đề kinh tế vẫn tồn tại: Nhu cầu tiếp tục vượt quá mức sản xuất của các phương tiện sử dụng tài nguyên. Sự tồn tại của vấn đề khan hiếm này có nghĩa là dù trong một xã hội hiện đại, phát triển và năng suất cao, các quyết định phải được thực hiện liên quan đến những cách các tài nguyên khan hiếm được điều hành để thỏa mãn nhu cầu vô tận của các thành viên trong xã hội như thế nào.

 

Những quyết định này không đơn giản để thực hiện trong một xã hội tiên tến như trong một nền kinh tế tự túc của thời nguyên thủy. Những tài nguyên không thể phân tích dễ dàng để sử dụng được. Sự gia tăng vĩ đại của năng suất đến từ việc chuyên môn hóa và phân công lao động đã làm tăng mức linh hoạt của việc sử dụng tài nguyên một cách đáng kể.  Những thành quả của sự hợp tác xã hội cho phép một phần lớn của tài nguyên gốc như đất và lao động vào việc sản xuất những thứ có thể gọi là hàng hóa sản xuất, hoặc hàng hóa trung gian, những thứ đã dẫn đến hàng hóa tiêu dùng khi được kết hợp với đất và lao động. Đây là một sự khác biệt rất quan trọng giữa kinh tế tự túc và hợp tác xã hội: sự phức tạp và lộn xộn của việc sử dụng tài nguyên trong nền kinh tế hiện đại yêu cầu nhiều điều hơn là các quyết định khó khăn so với những quyết định mà Robinson Cruson (con người thời nguyên thủy) phải làm.

 

Sự gia tăng trong mức độ phức tạp của các quyết định kinh tế đến một phần từ sự đa dạng của lượng hàng hóa tiêu dùng và dịch vụ mà một nền kinh tế phát triển cao cấp có thể tạo ra được. Các sự lựa chọn phải được thực hiện rằng hàng hóa nào nên được sản xuất và với số lượng bao nhiêu, số lượng của các mặt hàng thay thế càng nhiều, mức phức tạp để quyết định càng cao. Tuy nhiên, những quyết định liên quan đến kết quả không chỉ là những quyết định quan trọng duy nhất để làm. Cũng như ông Robinson Crusoe, con người trong xã hội phải đưa ra những sự lựa chọn liên kết tài nguyên với kết quả. Các tài nguyên nên được sử dụng như thế nào? Những thứ làm cho câu hỏi này khó trả lời là tài nguyên kinh tế trong một nền kinh tế phát triển rất linh hoạt và đa dạng. Sự linh hoạt của họ có thể bắt nguồn từ sự đa dạng trong mục đích sử dụng với sự phát triển của công nghệ và kỹ năng sản xuất, các kết quả bao gồm tác động tích cực đến từ sự phân công lao động và chuyên môn hóa. Và những sự thích nghi này đã kéo theo sự chuyển đổi của các yếu tố sản xuất gốc thành một sự đa dạng trong các tài nguyên sản xuất, và từ đó tạo nên vô số loại nguyên liệu riêng cho mỗi ngành và hàng hóa.

 

Một điều rõ ràng là với vô số bước để sản xuất hàng hóa và dịch vụ, những sự lựa chọn hiệu quả nhất hoặc hợp lý nhất không thể được quyết định bằng cách xem xét những bài toán. Chính sự dư thừa của tài nguyên đã khiến việc phân phối và điều hành thành một việc bất khả thi mà không cần phải so sánh kết quả. Để ví dụ, sắt có thể được sử dụng trong việc sản xuất đầu máy xe lửa, máy kéo nông nghiệp, máy móc may, khung xây dựng, dụng dụ khoan dầu và hàng ngàn thứ khác. Và vấn đề được nhân lên khi một ai đó nhớ rằng họ có thể sử dụng tài nguyên để làm những công cụ khác thay thế. Vì vậy, đồng, thiếc và nhôm có thể được dùng ở những nơi sắt và thép đã từng được sử dụng. Vấn đề được nới rộng ra khi tất cả các lựa chọn thay thế đều được trình bày để quyết định. Các quyết định liên quan đến việc sử dụng tài nguyên sẽ trở thành một sự nhầm lẫn nếu các sự tính toán bằng hiện vật là công cụ để tính toán duy nhất. Sự phân phối của các tài nguyên khan hiếm sẽ trở nên rối loạn và trở nên không chính xác.

 

Một khi kiềm xích của sự tự túc được tháo bỏ và sự sản xuất để trao đổi được tái lập, thì sẽ hiện lên một xã hội dựa trên kinh tế thị trường, lúc đó một nhu cầu tất yếu là sự tính toán chính xác hơn cách tính toán của nền kinh tế tự túc của quá khứ và điều đó lập nên một thứ để cho phép sự trao đổi trên quy mô rộng rãi: tiền, phương tiện trao đổi của nền kinh tế. Sự tính toán tiền tệ cung cấp một phương tiện không thể thiếu mà một nền kinh tế hiện đại có thể chuyển đổi những tài nguyên thô và đầu ra khác nhau thành một con số chung. Chính mẫu số tiền tệ này đã cung cấp nền tảng cho một sự tính toán về đầu vào-đầu ra, một sự tính toán vốn-thu nhập mà vô cùng quan trọng để phân phối các tài nguyên khan hiếm. Sự tính toán này là cần thiết bởi vì sợ khan hiếm của phương tiện yêu cầu một sự so sánh cẩn thận giữa chi phí và lợi ích, giữa nguồn vào và nguồn ra trong quá tình sản xuất.

 

Trong một nền kinh tế hiện đại, sự tính toán bằng hiện vật không phải là cơ sở tốt để phân phối tài nguyên. Một cái nhìn ngắn ngọn về những nhà vận động cho chủ nghĩa xã hội đã nhận ra rằng sự thiếu thốn trong phương pháp tính toán đã cho thấy những người phản đối kinh tế thị trường mãnh liệt nhất cũng phải công nhận rằng phải có một mẫu số (hoặc phương tiện giao dịch) chung để phân phối tài nguyên một cách hiệu quả.

 

Vào năm 1920 Ludwig von Mises đã thách thức lý thuyết chủ nghĩa xã hội khi ông ta nhận ra rằng chủ nghĩa xã hội thật sự không thể hoạt động được trong nền kinh tế phát triển bởi vì nó thiếu sự tính toán bằng bất cứ phương tiện gì. Ông ta cáo buộc các nhà lý thuyết chủ nghĩa xã hội rằng đã bác bỏ nhiệm vụ quan trọng của việc phân phối tài nguyên trong nền kinh tế hiện đại. Họ đã quên đi vấn đề này trong niềm tin của họ rằng chủ nghĩa xã hội là điều không thể tránh khỏi và sẽ hoạt động một cách tự nhiên. Không có một nhà phát ngôn viên nhà của thuyết chủ nghĩa xã hội có thể giải thích được rằng các quyết định hợp lý được thực hiện bằng cách nào trong việc sử dụng tài nguyên khan hiếm. Bây giờ họ bắt buộc phải đối mặt với một vấn đề, niềm tin vào các bộ luật vô cảm của lịch sử không có chỗ đứng trong cuộc tranh luận khoa học. Các nhà xã hội chủ nghĩa đã bị thách thức để giải đáp vấn đề liên quan đến lý thuyết tính toán trong nền kinh tế.

[/nextpage]

 

[nextpage title=”Phần 3″ ]

Những nhà xã hội chủ nghĩa hàng đầu sau đó cũng đồng ý rằng lý thuyết của họ cần phải được tái xây dựng trên nền tảng này (tính toán). Họ bắt đầu giải thích họ tin vào quá trình phân phối có thể được điều hành bằng những nhà điều hành tập trung (chính phủ) khi vắng đi sự hiện diện của sự cạnh tranh của giá cả thị trường. Lời giải thích này đã nhìn nhận rằng một nền kinh tế điều hành tập trung cũng cần phải có một phương pháp tính toán phổ biến để điều hành các hoạt động kinh tế.

 

Họ đồng ý rằng Mises đã đúng trong việc chỉ ra rằng họ đã thất bại trong việc đối mặt với vấn đề này trong các tác phẩm của họ. Họ đã được thuyết phục rằng sự tính toán bằng hiện vật là không đủ trong việc quản lý một nền kinh tế hiện đại. Những phản hồi của họ chủ yếu cho rằng một cơ quan điều hành tập trung có thể thành lập giá cả qua phương pháp thử nghiệm và được dẫn dắt bởi sự thặng dư cũng như thiếu thốn của hàng hóa. Và những giá cả đó, được coi như một dụng cụ trao đổi trong nền kinh tế, sẽ được phục vụ như một dấu hiệu trong việc phân phối tài nguyên. Sự thiếu thốn ra tín hiệu cho việc tăng giá có các mặt hàng đó, còn sự thặng dư ra tín hiệu cho dự giảm giá. Những sự thay đổi trong giá cả này sẽ dẫn đến sự điểu chỉnh hợp lý trong sản xuất – sự tăng giá sẽ khiến nguồn cung tăng trong khi sự giảm giá sẽ dẫn đến nguồn cung giảm – dựa và đó, mức giá cả cân bằng sẽ được thành lập, và loại bỏ những sự thiếu thốn và thặng dư trong cả hàng hóa trung gian và hoàn tất. Tài nguyên sẽ được sử dụng một cách hợp lý qua sự dẫn dắt của tiền tệ cấp bởi một trung tâm giá cả và cơ quan kế hoạch. Lập trường của các nhà xã hội chủ nghĩa bây giờ là một nền kinh tế xã hội chủ nghĩa sẽ không thất bại trong việc tính toán bằng hiện vật, và nhờ ơn của Mises, họ đã được thúc đẩy để chứng minh điều này.

 

Vấn Đề Với Việc Phối Hợp Và Kiến Thức

Sự khác biệt giữa sản xuất tự túc và sản xuất trên nền tảng hợp tác xã hội là chỉ dưới sự sản xuất hợp tác xã hội, con người mới có thể nhận ra những lợi ích của việc chuyên môn hóa và phân công lao động. Thêm nữa, trong khi một nhà sản xuất độc lập sản xuất hàng hóa để thoải mãn riêng bản thân ông ta, sự tiến triển của hợp tác xã hội sẽ dẫn đến việc các nhà sản xuất đó sẽ làm ra những sản phẩm để thoải mãn người khác. Gần như tất cả người nào trong nền kinh tế hiện đại cũng cống hiến tài năng và công sức của mình vào một hoạt động chuyên môn và tập trung để cung cấp một sản phẩm hay dịch vụ để được sử dụng bởi một người khác. Chúng ta sẽ rơi vào một hoàn cảnh bi ai nếu mỗi người trong chúng ta chỉ sản xuất cho riêng bản thân mình.

 

Sự phụ thuộc vào sự chuyên môn hóa và phân công lao động đã làm phức tạp hóa vấn đề phân phối tài nguyên bởi vì nó có nghĩa là cần phải có một phương tiện nào đó để thống nhất và phối hợp những kế hoạch riêng biệt cũng như nhiều công sức và con người khác nhau. Dưới vấn đề của sự phân công lao động, là cái vấn đề mà Hayek gọi là ”phân công kiến thức,” điều đó chính là ”vấn đề chính của kinh tế học như một môn khoa học xã hội.” Hayek đã đưa ra những câu hỏi chính như sau:

 

‘Làm sao sự kết hợp của các mảnh kiến thức nhỏ tồn tại trong nhiều tâm trí khác nhau có thể đem lại các kết quả, nếu họ được đem đến theo sự chỉ đạo, sẽ đòi hỏi một lượng kiến thức trong việc điều hành các tâm trí, một thứ mà không một ai có thể sở hữu? Để có thể thấy ý nghĩa của các hành động tự giác (tự phát, độc lập) của các cá nhân tự nguyện, dưới những điều kiện chúng ta có thể định nghĩa, để đem đến sự phân phối của tài nguyên một cách mà chúng ta có thể hiểu như họ đang thực hiện theo một bản kế hoạch, mặc dù không có ai đã lên kế hoạch, theo tôi trông giống như một câu trả lời đến vấn đề mà nhiều lúc đã được diễn tả như một vấn đề của ”tâm trí xã hội.”

 

Mức độ nghiêm trọng của vấn đề kiến thức không nên được coi thường. Rõ ràng rằng một hệ thống của sự phân công lao động ẩn chứa tiềm năng cho hỗn loạn và nhầm lẫn. Nếu nó được hoạt động, phải có vài phương tiện để đồng bộ hóa các quyết định và hành động cá nhân trong nền kinh tế. Để ví dụ, nếu đại đa số muốn nhiều gỗ hơn để sử dụng cho việc sản xuất nhà hơn việc sản xuất giấy, thì những tín hiệu phải được truyền đạt một cách hiệu quả để lôi kéo sự thay đổi trong việc phân phối gỗ. Nếu không thì một tài nguyên khan hiếm sẽ không được sử dụng một cách hợp lý nhất, nó sẽ được sử dụng để thỏa mãn một nhu cầu thấp hơn các nhu cầu các của con người.

[/nextpage]

 

[nextpage title=”Phần 4″ ]

 

Mặc dù vậy mô hình thông thường của cái gọi là Cạnh Tranh Hoàn Hảo, với những giả định của Kiến Thức Hoàn Hảo, đã hoàn toàn tránh né việc đồng bộ hóa các quyết định. Mô hình đó nghĩ rằng kiến thức liên quan đến công nghệ, thị hiếu, vân vân, đã có sẵn và tất cả các kế hoạch cá nhân đều thích hợp với nhau. Kiến thức được mô tả như dữ liệu tương tự như những thực tế được sử dụng trong khoa học vật lý. Nhưng quan niệm về kiến thức này đã hiểu sai về tính tự nhiên của kiến thức trong các môn khoa học xã hội. Lượng kiến thức đằng sau các quyết định và hành động của con người thường rất không hoàn hảo bởi một phần lớn của kiến thức trong tâm trí của mỗi người thường bao gồm các điều mê tín về các quyết định tương lai và các hành động của những cá nhân khác. Những giả định này là những quan niệm chủ quan mà thường thiếu đi sự chắc chắn thường có bởi các chứng cứ được sử dụng trong các môn khoa học vật lý.

 

Vì các hành động và quyết định của một người có khả năng biến đổi khi anh ta có thêm kinh nghiệm về thực tế bên ngoài, các quyết định và hành động của người khác, quan niệm rằng tất cả các kế hoạch và hành động sẽ ăn khớp với nhau và kết quả sẽ là một mức cân đối cố định và dài hạn là một điều không thực tế. Bằng cách nhận định rằng kiến thức hoàn hảo, mô hình đó đã thất bại trong việc tập trung vào vấn đề của ”phân công kiến thức.” Mô hình đó là một cấu trúc hữu ích trong việc hỗ trợ các nhà lý thuyết hiểu về kết quả của quá trình kinh tế, một nơi mà những sự thay đổi không thể lường trước sẽ từ từ biến mất. Nhưng bài học đó phải được sử dụng cẩn thận nếu các yếu tố lưỡng lự không bị bác bỏ trong việc nghiên cứu về thế giới thực.

 

Vì vậy nhiệm vụ phân phối tài nguyên hợp lý không chỉ là một vấn đề về sử dụng ”những kiến thức hoàn hảo có sẵn” trong quá trình đưa ra các quyết định và hành động kinh tế. Lượng kiến thức có sẵn là những mảnh nhỏ, bị phân chia rải rác chứ không phải nằm trong một nơi hay người nào cố định. Mỗi cá nhân có thông tin đặc biệt liên quan đến hoàn cảnh của thời điểm và địa lý, và những người khác có lợi từ các hành động của từng cá nhân bởi vì anh ta luôn bị giới hạn trong sự hiểu biết của mình. Tuy nhiên, vì lượng thông tin của anh ta chỉ liên quan đến hoàn cảnh riêng của mình, anh ta có thể sử dụng kiến thức của mình một cách không ăn khớp với các kế hoạch của người khác. Sự hợp tác xã hội yêu cầu vài phương pháp có thể khiến lượng kiến thức của mỗi người trở nên liên quan và được phổ biến rộng rãi. Và phương pháp này phải cung cấp sự lan rộng liên tục của kiến thức trong sự thay đổi không ngừng nghỉ. Như Hayek đã nói, ”…các vấn đề kinh tế luôn xuất phát từ và chỉ trong các hậu quả của sự thay đổi. Nếu mọi thứ tiếp tục thay đổi như trước đây, hoặc ít nhất là như họ được kỳ vọng, thì sẽ không có các vấn đề mới để đưa ra các quyết định, cũng như không cần những kế hoạch mới để giải quyết.”

 

Vấn đề với phối hợp được gắn bó chặt chẽ với thực tế rằng tất cả dữ liệu liên quan đến các hành động kinh tế thường không bao giờ có sẵn, như thuyết giá cả thông thường, dựa trên các điều kiện cân đối thị trường đã nhận định. Các lực của thị trường, cực điểm của các quyết định bởi những người tham gia trong thị trường – người tiêu dùng, các nhà sản xuất, các doanh nhân và các chủ sở hữu tài nguyên – đều có tác động đến thị trường. Điều nên được xem xét không phải là tình hình cố định của mức cân bằng mà tính linh động của thị trường, một thứ luôn phấn đấu không ngừng để đạt đến mức cân bằng. Các quyết định được thực hiện mà không có kiến thức hoàn hảo, nghĩa là những dữ liệu được sử dụng, thường không được cung cấp cho tất cả để sử dụng, mà thường khó nắm bắt và nhỏ và chỉ có được bằng cách khám phá và nhận xét. Vì vậy quá trình thị trường theo đúng nghĩa là một quá trình thí nghiệm và nhận sai khi các nhận định mới của các thành viên tham gia dẫn đến những thay đổi trong kế hoạch và hành động.

 

Các lực lượng thúc đẩy trong thị trường là những nhà sản xuất-doanh nhân, những người nhìn thấy những cơ hội để kiếm lời đến từ những sự tiến bộ tiềm năng trong các hoạt động thị trường. Quá trình của thị trường là liên tục bởi vì sự tìm kiếm không ngừng nghỉ của lợi nhuận và những sự thay đổi trong thị trường được ảnh hưởng bởi các nhà doanh nhân-sản xuất. Trong khi các thành viên tham gia trong thị trường khác thường thụ động, không để ý hoặc không quan tâm đến những cơ hội kiếm lời, các nhà doanh nhân-sản xuất luôn tìm kiếm và tận dụng những tiềm năng lợi nhuận đó. Những dữ liệu họ khám phá được và hành động theo có thể sai, và những quan niệm đến từ những sai lầm đó, được ghi khắc trong lời lỗ, sẽ khuyến khích những sự thay đổi hơn nữa trong thị trường. Một khi các điều kiện của Kiến Thức Không Hoàn Hảo được giới thiệu, thuyết giá cả và hình ảnh thị trường sẽ được thay đổi rất lớn từ những cuộc tranh luận trước đây. Vai trò của lợi nhuận và lỗ trong kinh doanh sẽ được đề cập đến sâu hơn trong các bài tiếp theo.

[/nextpage]

Facebook Comments